1.2. Thời kỳ 1861 – 1954 (thời thuộc Pháp)

Sách Đất Nam kỳ thuộc Pháp năm 1878 (La Cochinchine Francaise) của Phòng canh nông và kỹ nghệ Nam kỳ (Nxb. Challamel Frères, Paris) cho biết:

Nghị định ngày 3 – 10 – 1865 ấn định mức thuế hàng năm:

- Hạng nhất (trồng mía, trầu, dâu tằm...): 10 fr/ha.

- Hạng nhì (dừa, cau, cây ăn quả...): 06 fr/ha.

- Hạng ba (đậu, cải, đất thổ cư...): 04 fr/ha.

- Hạng tư (dừa nước...): 02 fr/ha

Nghị định ngày 5 – 11 – 1 1873 ấn định:

- Ruộng hạng nhất 11 fr/ha

- Ruộng hạng nhì 9,8 fr/ha.

- Thuế  thân hạng nhất 2 fr/ha người + thuế lính 10 fr.

- Thuế thân hạng nhì 1 fr/người.

- Tiền thay cho đi làm xâu 0,3 fr/người/ngày.

Nghị định ngày 9 – 9 – 1875 điều chỉnh lại thuế ruộng đất có ba hạng: 0p60/ha, 0p40/ha, 0p20/ha (piatre: đồng Đông Dương), giảm gần 5 lần so với trước.

Thuế môn bài ở Biên Hòa đánh vào các hộ buôn bán, nghề thủ công.

- Hạng 1 (tới 1000fr/năm): 3 hộ.

- Hạng 2 (tới 600fr/năm): 2 hộ.

- Hạng 3 (tới 400fr/năm): 55 hộ.

- Hạng 4 (tới 200fr/năm): 2 hộ.

- Hạng 5 (tới 100fr/năm): 8 hộ.

- Hạng 6 (tới 50fr/năm): 528 hộ.

- Hạng 7 (tới 25fr/năm): 336 hộ.

- Hạng 8 (tới 12,5fr/năm):71 hộ

Tổng số thuế môn bài thu được 37.118,75 fr của 1005 hộ kinh doanh (tỉ giá lúc này 1 đồng (piastre) = 3,8 fr, sau còn 2,65 fr).

Cuốn sách Đất Nam kỳ thuộc Pháp không cho biết tổng số thu chi của ngân sách tỉnh Biên Hòa là bao nhiêu nhưng chắc con số không nhỏ.

Địa chí tỉnh Biên Hòa (năm 1901) ghi rõ: “Công quỹ hàng năm thu 289.476 đồng bạc và chi ra 172.705 đồng”. Nhân sự hành chính cấp tỉnh phụ trách tài chính thời kỳ này gồm một thu phát ngân và một nhân viên thuế quan. Ở các làng, hương bộ giữ sổ thuế đinh, điền, và sổ chi thu của làng; xã trưởng hương chức phối hợp thu thuế.

Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), nhà cầm quyền tỉnh Biên Hòa bắt dân mua 73.624 fr công trái để góp giúp nước Pháp chống Đức dưới khẩu hiệu lừa bịp “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc” (dẫn theo Hào khí Đồng Nai, tập I, tr.375, Thư viện Đồng Nai, 1991).

Cuốn Biên Hòa những khái niệm địa lý năm 1930 của Ch.Goupillon cho biết toàn bộ ngân sách của tỉnh đạt 576.000 đồng Đông Dương (cuối năm 1929 nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới rất trầm trọng). Việc thu các loại thuế và quan thuế (hải quan) ở tỉnh do một cò – mi (ủy viên), một phụ tá thu phát ngân và một số nhân viên, còn ở cấp làng xã vẫn như cũ.

Thuế thân năm 1902 là 2,5 đồng/người/năm (tương đương giá 1 tạ gạo đương thời) thì sau năm 1930 sửa thành hai hạng: hữu sản đóng 4,5 đồng và vô sản 2,5 đồng. Nhiều người cố đóng hạn hữu sản mong có thể giao dịch làm ăn dễ dàng hơn. Một số dân nghèo không có tiền đóng thuế không dám đi chợ, khi lính về làng phải trốn tránh để khỏi bị tù (khi bị xét giấy thuế thân).

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố xóa bỏ mọi chế độ thuế khóa bất công của thực dân Pháp. Ở tỉnh Biên Hòa, nhân dân mới hưởng độc lập tự do khoảng hai tháng thì thực dân Pháp - được quân Anh mang danh nghĩa Đồng minh giúp sức – quay trở lại chiếm đóng tỉnh lỵ Biên Hòa.

Trong vùng địch kiểm soát, chúng vẫn tiến hành thu các loại thuế trực thu, thuế gián thu như cũ. Song phạm vi vùng chiếm đóng không lớn nên nguồn thu cho ngân sách nhỏ mà việc chi tiêu cho chiến tranh rất tốn kém nên ngân sách luôn luôn bội chi. Theo phúc trình số 31-TTT/M/1 ngày 20-4-1956 của Tổng Thanh tra hành chính và tài chính về kết quả cuộc thanh tra tỉnh Biên Hòa từ ngày 13 đến 24-3-1956 cho biết tình hình tài chính của tỉnh Biên Hòa qua các năm như sau:

- Tài khóa 1949 bội chi 7.227.278,24 đồng.

- Tài khóa 1950 bội chi 7.611.139,61 đồng.

- Tài khóa 1951 bội chi 8.708.669,35 đồng.

- Tài khóa 1952 bội chi 12.682.821,14 đồng.

- Tài khóa 1953 bội chi 13.011.697,14 đồng

- Tài khóa 1954 bội chi 13.685.330,72 đồng.

Về phía ta, để có tiền chi tiêu cho công cuộc kháng chiến, các cơ quan và lực lượng vũ trang hoàn toàn dựa vào sự ủng hộ của nhân dân giàu lòng yêu nước. Chúng ta  đã mở các “tuần lễ vàng”, “tuần lễ bạc” để lấy tiền mua vũ khí, “tuần lễ đồng” để có nguyên liệu cho các binh công xưởng chế tạo đạn dược... Trong nhiều năm, nhân dân xã Phú Hữu luyện Long Thành (nay thuộc huyện Nhơn Trạch), góp cho huyện từ 100 đến 140 tấn lúa.

Bà con buôn bán ở chợ Biên Hòa góp tiền ủng hộ kháng chiến. Công nhân Nhà máy cưa BIF, công nhân cao su... cũng bí mật góp tiền gạo, vật tư... gởi ra vùng căn cứ. Chủ Hãng cưa BIF phải nộp thuế cho ta để được khai thác gỗ ở các vùng tranh chấp.

Đến năm 1952, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thủ Biên bãi bỏ chính sách thu đảm phụ, chuyển sang thu thuế nông nghiệp (dựa vào diện tích, hạng đất, sản lượng) khiến phong trào sản xuất vùng căn cứ phát triển tốt (Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai, tập 1, tr.186, Nxb.ĐN, 1997).

Comments