1.3. Thời kỳ 1954-1975 (thời kỳ kháng chiến chống Mỹ)

Dưới chế độ Sài Gòn, tỉnh Biên Hòa có nguồn lợi lớn là nông lâm sản, song thu ngân sách thường không đủ chi. Tài khóa 1956, thực thu ngân sách của tỉnh là 11.385.092,92 đồng song thực chi lên tới 50.354.122,24 đồng. Khoản bội chi 38.969.029,32 đồng do ngân sách Trung ương trang trải. Ngân sách tỉnh Biên Hòa thời gian này chi trên 60% cho an ninh, trên 30% cho công ích xã hội, vài phần trăm ít ỏi còn lại chi cho công ích kinh tế và chi bất thường.

Bộ máy thu thuế thời kỳ này có Phòng thuế vụ, Ty thuế công quản và bộ phận thuế trước bạ (trực thuộc Tòa hành chánh tỉnh). Một phó tỉnh trưởng trực tiếp kiểm soát Phòng thuế vụ và Ty thuế công quản.

* Phòng Thuế vụ gồm: 1 trưởng phòng, 2 nhân viên ngạch, 2 nhân viên phù động có trách nhiệm lập bộ thuế trực thu và bộ thuế gián thu, cụ thể:

- Lập bộ thuế trực thu:

+ Thuế môn bài và lệ phí cấp môn bài cho các hộ kinh doanh, sản xuất năm 1956 gồm 28 trại cưa máy, 28 nhà máy xay lúa, 60 lò gạch thủ công, 15 lò gạch máy, 6 lò lu, 69 lò đường thủ công, 3 lò đường cơ giới, 169 nhà khai thác chế biến lâm sản. Thuế môn bài thu được 1.183.628 đồng.

+ Thuế điền thổ thu của 21.000 ha ruộng, 6.500 ha vườn, 41.500 ha cao su, 1.050 ha thổ cư, 3.000 nóc nhà với số tiền 3.732.104 đồng.

+ Thuế lợi tức, tổng hợp lợi tức và tổng huê lợi: phần lớn đánh vào số người Âu ở các đồn điền và nhà máy – căn cứ lời khai hoặc ước lượng - Tổng thu năm 1956 là 2.042.643 đồng.

+ Thuế trâu, bò, ngựa, xe.

- Lập bộ thuế gián thu gồm:

+ Thuế sản xuất;

+ Thuế thương vụ nhập cảng và phụ trội quân nhu;

+ Thuế tiêu thụ nước đá, thịt;

+ Thuế đặc biệt xăng dầu;

+ Thuế xa xỉ quí kim, hỉ cuộc;

+ Thuế chế biến;

+ Thuế lưu hành xe tự động...

Tổng thu năm 1956 là 9.821.509 đồng.

* Ty thuế công quản thu thuế đường mía (1.156..616 kg được 378.308 đồng), thuế thuốc lá (47.353 kg được 402.500 đồng), thuế muối, thuế rượu sản xuất trong tỉnh.

* Thuế trước bạ do một nữ nhân viên đảm nhận dưới quyền viên trưởng ty ngân khố, năm 1956 thu được 1.766.811 đồng.

Theo báo cáo, Tổng thanh tra hành chánh ở tỉnh Biên Hòa từ ngày 13 đến 24-3-1956, cả tỉnh có 90 xã thì tổng dự thu ngân sách các xã 12.475.867 đồng.

Thực thu 10.633.564 đồng;

Thực chi 6.917.213 đồng;

Kết dư 3.716.351 đồng;

Trong đó: 01 xã (Bình Trước) có ngân sách 5.300.000 đồng;

01 xã (Phước Lộc) có ngân sách 543.000 đồng;

01 xã (An Bình) có ngân sách 420.000 đồng;

02 xã có ngân sách trên 200.000đồng;

21 xã có ngân sách trên 100.000 đồng;

64 xã có ngân sách dưới 100.000 đồng.

Địa phương chí tỉnh Biên Hòa năm 1964 cho biết: Ngân sách tỉnh Biên Hòa tài khóa 1963 như sau:

Dự trù ngân sách 38.250.000 đồng.

Thực thu 31.466.797,95 đồng.

Thực chi 34.469.063, 42 đồng.

Bội chi 3.002.265,47 đồng.

Ngân sách xã dự trù: 21.765.155,00 đồng.

Thực thu 21.277.352,08 đồng.

Thực chi 19.099.808, 83 đồng.

Còn dư 2.177.543,25 đồng.

Tỉnh Long Khánh không có số liệu ngân sách năm 1963.

Địa phương chí tỉnh Long Khánh năm 1968 cho biết: Ngân sách tỉnh năm 1967 như sau:

Dự trù 23.745.000,00 đồng.

Thực thu 23.084.064,39 đồng

Thực chi 23.197.667,90 đồng.

Phân tích thực thu:

Thuế môn bài, thuế thổ trạch 2.189.450,54 đồng

Thuế trực thu súc vật, xe cộ 850,00 đồng.

Thu có tính cách hành chánh 1.000,00 đồng.

Thu hoa lợi 60 căn phố công chức 455.528,00 đồng.

Chỉ tồn thu theo bộ và lệnh thu ngân 98.193,85 đồng.

Trợ cấp ngân sách quốc gia và quĩ trù bị 20.339.042 đồng.

Người ta thấy tổng số các nguồn thu là 2.745.022,39 đồng = 13,49% và trợ cấp từ ngân sách quốc gia chiếm tỷ trọng tuyệt đối (mà ngân sách quốc gia của chế độ Sài Gòn chủ yếu là viện trợ Mỹ).

Ngân sách xây dựng nông thôn năm 1967 (nằm ngoài ngân sách tỉnh) được chuẩn chi 24.034.245 đồng, chi các khoản: xây dựng hội đồng nông thôn (củng cố bộ máy hành chính xã ấp), lập ấp, chương trình tị nạn cộng sản, chiêu hồi, mở giáo dục cộng đồng hết 16.347.424 đồng (chiếm 68%), còn lại 32% chi cho mở chợ, trạm xá, mục súc, làm đường nông thôn (0,9%), điện hóa nông thôn (4,8%), thủy nông, mục súc, khuyến nông...

NGÂN SÁCH XÃ

THỰC THU

THỰC CHI

CÒN

Năm 1966

7.518.914,63 đồng

6.487.121,43 đồng

1.031.793,20 đồng

Năm 1967

15.048.294,16 đồng

14.007.575,48 đồng

1.040.718,68 đồng

Địa phương chí tỉnh Long Khánh năm 1968 cho biết: 2 xã Bến Nôm, Đồng Hiệp lưu vong nên không thu được hoa chi chợ và lò mổ thịt gia súc. Ngân sách tỉnh và xã của Long Khánh thu thấp không hẳn vì ít nguồn thu mà chủ yếu do phong trào cách mạng ở đây lên cao, chế độ Sài Gòn không kiểm soát được tình hình trong tỉnh.

Địa phương chí tỉnh Biên Hòa năm 1974 viết về tình hình tài chính tỉnh này: Trước năm 1972 vì ảnh hưởng tình trạng giá biểu thuế còn thấp và một phần vì lý do an ninh, nên nguồn lợi thu thuế cho ngân sách tỉnh và ngân sách xã còn quá thấp... phải xin trợ cấp của ngân sách quốc gia. Và khi tu chỉnh giá biểu vài loại thuế và lập thêm vài sắc thuế mới cùng với sự tận thâu các sắc thuế nên:

 

NĂM

THỰC THU

THỰC CHI

1972

105.710.089 đồng

105.710.089 đồng

1973

133.221.979 đồng

124.702.846 đồng

 

Năm 1972, ngân sách  tỉnh Biên Hòa nhận trợ cấp ngân sách quốc gia 36.500.000 đồng bằng 34,5% thì năm 1973 chỉ còn nhận 30.000.000 đồng bằng 22,5%.

Phần thu của tỉnh Biên Hòa chủ yếu chỉ có nguồn lợi về thuế thổ trạch thị trấn và tỷ lệ % phụ thu về môn bài, không có nguồn lợi về trưng thâu và quan quản hoặc hoa lợi tư sản (không có nhà công cho mướn). Ở các xã thì nguồn lợi trưng thâu và quan quản rất quan trọng, có thể chiếm 70% ngân sách xã.

Comments