1.4.2. Thuế

Sau giải phóng 30-4-1975, cùng với sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, toàn bộ chính sách thuế - tài chính cũ cũng bị xóa bỏ hoàn toàn. Thay vào đó là chính sách thuế - tài chính của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Thời kỳ đầu (1975-1990), nguồn thu của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam còn ít và chưa bao quát hết nguồn thu, chính sách thu lại phức tạp, rườm rà. Những nguồn thu chủ yếu thời kỳ ấy là: Thuế nông nghiệp, thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận, thuế doanh thu, thuế hàng hóa, thuế lợi tức, thuế sát sinh, thuế muối, thuế môn bài và các khoản  thu khác.

Chính sách thu thời kỳ này vừa  phân biệt theo thành phần kinh tế, vừa phân biệt theo ngành nghề kinh doanh, với mục đích là khuyến khích kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể (là 2 thành phần kinh tế cơ bản của chế độ XHCN), hạn chế phát triển các thành phần kinh tế khác, khuyến khích phát triển sản xuất, hạn chế kinh doanh buôn bán, dịch vụ ...

Cùng với quá trình phát triển nền kinh tế và cải cách hành chính, chính sách và hệ thống thuế dần dần được hoàn thiện. Qua cải cách thuế bước một (bắt đầu từ năm 1990), hệ thống thuế Việt Nam có 9 sắc thuế cùng với nhiều loại phí và lệ phí. Chính sách thuế thời kỳ từ 1990 đến nay không phân biệt theo thành phần kinh tế mà chỉ còn phân biệt theo ngành nghề kinh  doanh.

Việc lập bộ và thu các sắc thuế, phí và lệ phí ở tỉnh Đồng Nai qua các thời kỳ như sau:

a) Thuế nôngnghiệp (nay là thuế sử dụng đất nông nghiệp):

Thuế nông nghiệp ban hành năm 1952, sau đó có sửa đổi bổ sung nhiều lần, và năm 1983 thuế nông nghiệp được ban hành bằng Pháp lệnh thuế nông nghiệp, áp dụng đến năm 1994.

Pháp lệnh thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật (đến cuối năm 1989 chuyển sang thu bằng tiền) và phân biệt 2 loại đất gồm: đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.

Đối với đất trồng cây hàng năm chia thành 7 hạng với các thuế suất tương ứng như sau:

- Đất hạng 1 thu 700 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 2 thu 560 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 3 thu 420 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 4 thu 350 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 5 thu 280 kg/thóc/ha/năm.

- Đất hạng 6 thu 210 kg/thóc/ha/năm.

- Đất hạng 7 thu 100 kg/thóc/ha/năm.

Đất trồng cây lâu năm thu từ 10% đến 20% sản lượng thực tế nhân với giá tính thuế và được thu bằng tiền.

Thời kỳ này, Phòng thuế nông nghiệp thuộc Ty tài chính Đồng Nai và bộ phận thuế nông nghiệp thuộc Phòng tài chính các huyện, thành phố Biên Hòa lập bộ và thu thuế.

Năm 1990, thuế nông nghiệp lập bộ được 169.764 ha, thu thuế được 154.818 ha vào các loại cây sau:

- Cây mía: lập bộ 4.734,27 ha, thu thuế 4.647 ha, thuế ghi thu 15.821 tấn mía.

- Cây đậu: lập bộ và thu thuế 418 ha, thuế ghi thu là 33.447 kg.

- Cây cà phê: lập bộ 11.962 ha, thu thuế 11.713 ha, thuế ghi thu được 1.165.495 kg.

- Cây điều: lập bộ 8.300 ha, thu thuế 5.731 ha, thuế ghi thu được 155.765 kg.

- Cây cao su: lập bộ 41.813 ha, thu thuế 31.200 ha, thuế ghi thu được  2.910 tấn.

- Cây ăn trái: lập bộ 7.738 ha, thu thuế 7.365 ha. Thuế ghi thu được 3.075.028 đồng.

Ngày 10-7-1993, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp thay Pháp lệnh thuế nông nghiệp. Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp có hiệu lực từ 01-01-1994. Thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng phân biệt thu theo 2 loại đất là:  đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm và đều phân hạng đất để thu thuế:

+ Đối với đất trồng hàng năm chia làm 6 hạng, mức thuế suất có giảm xuống so với Pháp lệnh thuế nông nghiệp trước đây:

- Đất hạng 1 thu 550 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 2 thu 460 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 3 thu 370 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 4 thu 280 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 5 thu 180 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 6 thu  50 kg thóc/ha/năm.

+ Đối với đất trồng cây lâu năm chia thành 5 hạng với các thuế suất như sau:

- Đất hạng 1 thu 650 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 2 thu 650 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 3 thu 400 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 4 thu 200 kg thóc/ha/năm.

- Đất hạng 5 thu 80 kg thóc/ha/năm.

Kết quả năm 1994 lập bộ thuế sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm) được 181.700 ha, thu thuế 152.941 ha, số thuế ghi thu được 48.508 tấn thóc. Trong đó:

+ Đất trồng cây hàng năm lập bộ được 97.375 ha, thu thuế 96.488 ha, số thuế ghi thu là 21.432 tấn thóc gồm: Đất hạng 1 = không ha; đất hạng 2 = 3.949 ha; đất hạng 3 = 7.574 ha; đất hạng 4 = 32.408 ha; đất hạng 5 = 39.430 ha; đất hạng 6 = 13.127 ha.

+ Đất trồng cây lâu năm lập bộ được 84.325 ha, thu thuế 56.453 ha, số thuế ghi thu 27.276 tấn thóc, gồm: Đất hạng 1 = 21.292 ha; đất hạng 2 = 16.125 ha; đất hạng 3 = 5.520 ha; đất hạng 4 = 10.806 ha, đất hạng 5 = 2.710 ha. Cụ thể:

- Cây cà phê: lập bộ 11.248 ha, thu thuế 9.940 ha, gồm:

+ Đất hạng 1 = 3.611 ha.

+ Đất hạng 2 = 3.672 ha.

+ Đất hạng 3 = 2.612 ha

+ Đất hạng 4 = 44 ha

+ Đất hạng 5 = 1 ha.

+ Cây điều: lập bộ 16.957 ha, thu thuế 8.283 ha, gồm:

+ Đất hạng 1 = 404 ha.

+ Đất hạng 2 = 1.400 ha.

+ Đất hạng 3 = 1.333 ha

+ Đất hạng 4 = 3.395 ha

+ Đất hạng 5 = 1.751 ha.

- Cây cao su: lập bộ 42.576 ha, thu thuế 25.944 ha, gồm:

+ Đất hạng 1 = 15.423 ha.

+ Đất hạng 2 = 10.533 ha.

+ Đất hạng 3 = 38 ha.

- Cây ăn trái: lập bộ 13.773 ha, thu thuế 12.138 ha, gồm:

+ Đất hạng 1 = 1.783 ha.

+ Đất hạng 2 = 496 ha.

+ Đất hạng 3 = 1.534 ha

+ Đất hạng 4 = 7.367 ha

+ Đất hạng 5 = 958 ha.

b) Thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận:

Thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận là chế độ thu vào các xí nghiệp quốc doanh, được thực hiện theo Thông tư số 47-TC/TQD, ngày 27-12-1985 và Thông tư số 21-TC/QD ngày 21-8-1986 của Bộ tài chính. Chế độ thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận áp dụng đến năm 1990 thì được thay bằng chế độ thu thuế doanh thu và thuế lợi tức.

Thu quốc doanh tính bằng tỷ lệ (%) trên doanh thu bán hàng. Mức thu được Nhà nước qui định thống nhất, có phân biệt theo mặt hàng sản xuất. Còn lợi nhuận thực hiện của các xí nghiệp quốc doanh nộp từ 40% - 60% cho ngân sách nhà nước tùy theo từng ngành. Ngoài 2 khoản thu trên, các xí nghiệp quốc doanh còn phải nộp khấu hao cơ bản và các khoản nộp linh tinh khác. Bắt đầu từ 1983 đến 1990, các công ty thương nghiệp còn phải nộp khoản chênh lệch giá.

Từ năm 1976 đến năm 1990, Chi cục thu quốc doanh trung ương quản lý thu 46 xí nghiệp quốc doanh trung ương, Phòng thu quốc doanh thuộc Sở tài chính và các bộ phận thu quốc doanh thuộc phòng tài chính các huyện, thành phố Biên Hòa quản lý thu 200 XNQD địa phương. Số thu qua các năm như sau: (lưu lý: các số liệu báo cáo về thu chi tài chính, thuế các năm tính theo giá trị đồng tiền được phát hành và thu đổi qua các thời điểm).

- Năm 1976 thu 27 triệu đồng.

- Năm 1980 thu 23 triệu đồng.

- Năm 1985 thu 238 triệu đồng.

- Năm 1990 thu 53.000 triệu đồng.

Số thu từ xí nghiệp quốc doanh hàng năm chiếm từ 43%-64% trên tổng nguồn thu ngân sách nhà nước tại tỉnh.

c) Thuế doanh thu và thuế lợi tức:

Pháp lệnh thuế doanh thu và Pháp lệnh thuế lợi tức thi hành từ năm 1976 đến năm 1990. Đối tượng chịu thuế doanh thu và thuế lợi tức là những đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.

Thuế doanh thu tính bằng % trên doanh thu. Thuế suất thuế doanh thu ngành sản xuất thấp hơn ngành kinh doanh dịch vụ, nhằm mục đích khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, hạn chế thương nghiệp dịch vụ.

Thuế lợi tức thu trên 30% trên lợi nhuận của các hộ và tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh.

Chi cục thuế công thương nghiệp chịu trách nhiệm lập bộ và thu thuế, cụ thể:

- Năm 1981, thu được 16.723 hộ, số thuế là 3.033.000 đồng.

- Năm 1982, thu được 15.754 hộ, số thuế là 6.785.000 đồng.

- Năm 1983, thu được 14.516 hộ, số thuế là 17.095.000 đồng.

- Năm 1984, thu được 12.208 hộ, số thuế là 30.627.000 đồng.

- Năm 1985, thu được 8.686 hộ, số thuế là 39.489.000 đồng.

Đến tháng 1-1990, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (khóa VIII), kỳ họp thứ 7 thông qua Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức áp dụng cho tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác. Bãi bỏ chế độ thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận và 2 pháp lệnh: Pháp lệnh thuế doanh thu và Pháp lệnh thuế lợi tức.

- Thuế doanh thu có 10 bậc thuế suất, đó là 1%, 2%, 3%, 4%, 5%, 6%, 7%, 8%, 10% và 40% quy định cho 6 ngành nghề gồm: sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống và dịch vụ. Cách tính thuế doanh thu như trước đây.

Cục Thuế tỉnh và Chi cục Thuế các huyện, thành phố Biên Hòa lập bộ và thu thuế được 121 doanh nghiệp nhà nước, 200 xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 58 hợp tác xã, 797 doanh nghiệp tư nhân, 136 công ty trách nhiệm hữu hạn, 5 công ty cổ phần và 23.481 hộ cá thể. Số thu thuế doanh thu qua các năm như sau:

Đơn vị tính: triệu đồng

Khu vực

1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

XNTW

24.046

35.628

55.065

68.980

103.731

140.106

166.575

210.993

XNĐP

12.723

8.595

9.602

14.574

24.624

23.561

33.885

46.691

ĐTNN

 

 

5.912

9.650

24.512

74.399

144.542

225.935

TTCNTMDV

8.796

8.726

18.576

31.386

46.238

71.147

106.073

92.700

Tổng số

45.565

52.949

89.155

124.590

199.105

309.213

451.075

576.319

Thuế lợi tức thu các đơn vị kinh tế trong nước ở 3 mức: 25%, 35%, 45% và thu xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở 4 mức: 10%, 15%, 20%, 25% tùy theo ngành nghề kinh doanh. Số thuế lợi tức thu được qua các năm như sau:

 

Khu vực

1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

XNTW

4.198

11.423

10.212

15.322

43.607

78.078

109.135

81.044

XNĐP

2.507

1.277

5.530

12.629

16.572

16.880

26.447

32.391

ĐTNN

 

 

73

892

3.828

12.066

20.829

44.753

TTCNTMDV

3.848

7.549

14.091

21.923

32.589

50.684

79.930

67.148

Tổng số

10.553

20.249

29.906

50.786

96.596

157.708

236.341

225.336

 

Từ năm 1990 đến nay, Luật thuế doanh thu và Luật thuế lợi tức qua nhiều lần sửa đổi bổ sung. Bắt đầu từ 01-01-1999, Luật thuế doanh thu được thay bằng Luật thuế giá trị gia tăng (tiếng Anh viết tắt là VAT), Luật thuế lợi tức được thay bằng Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

d) Thuế tiêu thụ đặc biệt (trước đây gọi là thuế hàng hóa):

Năm 1990, Quốc hội ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thay Pháp lệnh thuế hàng hóa trước đây. Thuế tiêu thụ đặt biệt chỉ còn thu vào 6 mặt hàng, gồm: thuốc hút, rượu các loại, bia các loại, pháo, bài lá và vàng mã, thuế suất từ 20-70% trên doanh thu. Đến năm 1993, bãi bỏ 2 mặt hàng bài lá và vàng mã (vì Nhà nước cấm sản xuất), thuế suất các mặt hàng còn lại từ 15-100%.

Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế hàng hóa thu qua các năm như sau:

- Thuế hàng hóa thu năm 1981 được 329.000 đồng.

Năm 1982, được 2.503.000 đồng.

Năm 1983, được 3.234.000 đồng

Năm 1984, được 4.206.000 đồng.

- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu qua các năm như sau:

Năm 1990, thu 3.872 triệu đồng.

Năm 1991, thu 33.128 triệu đồng.

Năm 1992, thu 51.492 triệu đồng.

Năm 1993, thu 66.980 triệu đồng.

Năm 1994, thu 48.041 triệu đồng.

Năm 1995, thu 42.574 triệu đồng

Năm 1996, thu 34.645 triệu đồng.

Năm 1997, thu 27.351 triệu đồng.

e) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thực hiện theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội thông qua ngày 26-12-1991 và sau đó có sửa đổi bổ sung vào các năm 1993, 1997. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thu vào hàng hóa xuất nhập khẩu và được tính bằng cách lấy giá trị tính thuế, nhân với số lượng hàng hóa, nhân với thuế suất theo qui định.

Đầu năm 1995, Cục Hải quan Đồng Nai được thành lập, từ thời gian này trở đi tỉnh Đồng Nai mới có nguồn thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Cục hải quan Đồng Nai chịu trách nhiệm lập bộ và quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thu được qua các năm như sau:

Năm 1995, thu 131.000 triệu đồng.

Năm 1996, thu 216.231 triệu đồng.

Năm 1997, thu 250.933 triệu đồng.

Số lượng cán bộ Cục hải quan đến năm 1997 là 153 người. Dự kiến sắp tới sẽ thành lập tại mỗi khu công nghiệp hoặc cảng một đội hải quan, nhân viên hải quan có thể trên 200 người.

g) Thuế tài nguyên:

Thuế tài nguyên thực hiện theo Pháp lệnh thuế tài nguyên do Hội đồng nhà nước ban hành ngày 30-3-1990, nhưng phải đến năm 1992 Đồng Nai mới thu được thuế tài nguyên từ việc khai thác đất, cát, đá và được tính bằng cách lấy sản lượng tài nguyên khai thác, nhân với giá tính thuế, nhân với thuế suất. Mức thuế thu từ 1% đến 10% tùy theo nhóm tài nguyên khai thác.

Thuế tài nguyên do Cục thuế và Chi cục thuế các huyện, thành phố Biên Hòa quản lý thu. Số thu các năm như sau:

Năm 1992, thu 14.407 triệu đồng.

Năm 1993, thu 17.371 triệu đồng.

Năm 1994, thu 21.104 triệu đồng.

Năm 1995, thu 14.009 triệu đồng.

Năm 1996, thu 20.443 triệu đồng.

Năm 1997, thu 24.512 triệu đồng.

h) Thuế môn bài:

Thuế môn bài đã thu từ lâu đời và hiện nay Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vẫn tiếp tục thu. Mọi cá nhân và tổ chức có đăng ký sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đều phải đóng thuế môn bài. Thời kỳ 1976 đến 1986, thuế môn bài thu 13 bậc. Thời kỳ 1986 đến 1993, thuế môn bài thu 9 bậc. Từ 1993 đến nay, thuế môn bài còn thu 6 mức: 450.000 đồng, 270.000 đồng, 150.000 đồng, 75.000 đồng, 30.000 đồng và 15.000 đồng tùy theo quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Thuế môn bài thu qua các thời kỳ như sau:

Năm 1983, thu 2,380 triệu đồng.

Năm 1984, thu 3,745 triệu đồng.

Năm 1985, thu 4,151 triệu đồng.

Năm 1990, thu 1.163 triệu đồng.

Năm 1991, thu 1.278 triệu đồng.

Năm 1992, thu 2.112 triệu đồng.

Năm 1993, thu 3.603 triệu đồng.

Năm 1994, thu 4.668 triệu đồng.

Năm 1997, thu 11.000 triệu đồng.

i) Thuế sát sinh:

Thuế sát sinh được thực hiện thu từ sau ngày giải phóng, đánh vào heo (lợn), trâu, bò đem giết thịt, với thuế suất 5% trên giá trị con vật giết thịt.

Trước năm 1990, Chi cục thuế công thương nghiệp quản lý thu thuế sát sinh, từ năm 1990 đến nay Cục thuế Đồng Nai lập bộ và quản lý thu. Số thu qua các năm như sau:

Năm 1981, thu 149 ngàn đồng.

Năm 1982, thu 265 ngàn đồng.

Năm 1983, thu 179 ngàn đồng.

Năm 1984, thu 365 ngàn đồng.

Năm 1985, thu 1.297 ngàn đồng.

Năm 1990, thu 526 ngàn đồng.

Năm 1994, thu 1.904 ngàn đồng.

Năm 1997, thu 3.818 ngàn đồng.

k) Lệ phí trước bạ:

Lệ phí trước bạ được tổ chức thu từ năm 1987, thực hiện theo Nghị định số 222/HĐBT, ngày 5-12-1987. Mức thu 3% - 5% đánh vào giá trị chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng về nhà đất, xe ô tô, xe gắn máy, tàu thuyền...

Phòng thuế trước bạ trực thuộc Cục thuế Đồng Nai chịu trách nhiệm thu. Số thuế trước bạ thu qua các thời kỳ như sau:

- Năm 1990, thu 1.674 triệu đồng.

- Năm 1994, thu 26.931 triệu đồng.

- Năm 1997, thu 38.958 triệu đồng.

l) Ngoài các khoản thuế nêu trên, còn thu các loại thuế như: thuế thu nhập, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế vốn (chỉ thu phần vốn ngân sách cấp cho các doanh nghiệp nhà nước), thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và các khoản thu khác như: thu tiền bán cây đứng, thu  hoàn vốn biển gác, tiền thuê mặt đất, mặt nước, tiền cấp quyền sử dụng đất và một số khoản thu linh tinh khác. Các nguồn thu thuế do Cục thuế chịu trách nhiệm lập bộ và thu:

Đơn vị tính: triệu đồng

TT

LOẠI THUẾ

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1

Thuế vốn

4.271

26.700

22.880

37.708

29.095

27.475

2

Thuế chuyển lợi nhuận

-

-

-

107

702

811

3

Thuế nhà đất

875

10.348

14.809

19.111

15.822

21.234

4

Thuế thu nhập

2.641

4.712

6.501

14.276

34.207

72.541

5

Thuế CQSDĐ

-

-

688

5.665

7.036

8.653

6

Thuế cấp CQSDĐ

-

-

13.252

3.977

19.089

7.323

7

Tiền thuê đất

-

-

-

1.845

15.672

29.221

8

Thu hoàn vốn

13.063

9.988

11.569

11.860

43.102

130

9

Thu KHCB

38.055

87.974

59.577

8.445

28

-

10

Thu phí, lệ phí

-

13.402

14.126

19.118

26.335

33.192

11

Thu XSKT

31.441

43.963

61.053

75.129

85.398

101.309

Comments