2.1. Các loại tiền lưu hành trên đất Biên Hòa - Đồng Nai

Từ đầu thế kỷ XVII, khi những người dân từ miền Bắc và đất Ngũ Quảng vào khai thác vùng đất phương Nam hoang hóa mênh mông xa vời, chắc hẳn họ có mang  theo tiền để tiêu dùng, nhưng có lẽ số tiền vốn giắt lưng chẳng đáng là bao bởi đa số họ là dân nghèo. Thuở đó, người ta dùng tiền nhà Hậu Lê hoặc bạc, vàng. “Tiền tệ rất phức tạp vì có nhiều cơ sở đúc tiền, nhất là lúc đất nước chia làm hai miền (triều Mạc 1527-1677 và thời Trịnh - Nguyễn phân tranh 1557-1648). Các cuộc khởi nghĩa của nông dân, các loại thầy bói phù thủy cũng đúc tiền. Do nguyên liệu khang hiếm, tiền thời cuối Lê được đúc nhiều bằng kẽm” (Tiền Việt Nam, tr.11, Ngân hàng Nhà nước xuất bản, 1991). Tiền kẽm dễ gãy vỡ hư hỏng, nhất là ở môi trường khí hậu nóng ẩm. Hơn ba trăm năm đã trôi qua, trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai có nhiều xáo trộn nên người ta không còn lưu giữ được các đồng tiền cổ hiếm hoi này.

Năm 1679, nhóm người Hoa do Trần Thắng Tài xin tị nạn ở Đàng Trong, họ vốn theo nghề buôn bán, mở cảng Nông Nại đại phố cho tàu bè Trung Quốc, Nhật, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha... tấp nập ra vào buôn bán gần một thế kỷ. Có thể đã diễn ra cảnh hàng đổi hàng, nhưng cũng có thể người dân Đồng Nai – Gia Định thuở ấy đã có dịp tiếp xúc với nhiều loại ngoại tệ: tiền Trung Hoa, tiền Nhật, tiền các nước phương Tây.

Vương triều Nguyễn Tây Sơn (1778-1802) khá ngắn ngủi cũng phát hành ba loại tiền: Thái Đức thông bảo, Quang Trung đại bảo, Cảnh Thịnh thông bảo. Quân Tây Sơn năm lần vào đất Đồng Nai – Gia Định đánh các chúa Nguyễn, từng đóng quân ở Chợ Đồn (tên cũ: chợ Bình Tân tục danh chợ Lò Giấy, nay là phường Bửu Hòa). Mỗi lần vào quân Tây Sơn chỉ nhằm giải quyết vấn đề quân sự trong thời gian rất ngắn, nên - nếu có – thì tiền Tây Sơn cũng chỉ lưu hành với số lượng nhỏ. Cho đến nay, người ta chưa tìm thấy tiền Tây Sơn trên đất Biên Hòa.

Sau khi Lấy Phú Xuân rồi Thăng Long, Nguyễn Ánh lên ngôi vua năm 1802, mở đầu triều Nguyễn. Các vua nhà Nguyễn cho đúc các loại tiền: Gia Long thông bảo, Tự Đức thông bảo, Hàm Nghi thông bảo, Thành Thái thông bảo, Duy Tân thông bảo, Bảo Đại thông bảo. “Các loại tiền được đúc rất nhiều, đa số là tiền kẽm và không ổn định giá trị. Vàng bạc trao đổi cũng được đúc thành thoi qui thành nén, lạng” (Tiền Việt Nam, tr.14, Ngân hàng nhà nước xuất bản, 1991).

Một số gia đình cố cựu ở Biên Hòa - Đồng Nai còn lưu giữ được rất ít các đồng tiền thời Nguyễn (để xin quẻ âm dương trong cúng lễ).

Tháng 2-1859 quân Pháp đánh thành Gia Định. Cuối năm 1861 chúng hạ thành Biên Hòa. Năm 1862, chúng thôn tính xong ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Người dân Biên Hòa - Đồng Nai buộc phải làm quen với đồng franc (đồng quan Pháp) của đạo quân viễn chinh Pháp. Đồng bạc có hình con ó bằng bạc kim loại của Mexico cũng được lưu hành vào khoảng thời gian này. Một vài đồng bạc con ó hiếm hoi  có thể còn được lưu giữ ở gia đình nào đó. Để đáp ứng nhu cầu bạc lẻ, người ta đã khéo léo cắt đồng bạc con ó thành 10 phần bằng nhau, mỗi mảnh mệnh giá 1 cắc (tiếng Hán Việt: 1 hào), 1 giác bằng 2 hào. Sách Tiền Việt Nam có ảnh chụp ở trang 16.

Năm 1875, Ngân hàng Đông Dương thành lập, từ đó họ phát hành vào các thời điểm khác nhau các đồng tiền kim loại và tiền giấy có mệnh giá: 1 cent (1 xu = 1/100 đồng piastre), 5 cent, 10 cent, 20 cent, 1 đồng, 5 đồng (dân gọi là tờ con công vì có hình con công), 100 đồng (gọi là tờ bộ lư vì in hình lư hương tròn).

Khi Nhật vào Đông Dương, Ngân hàng này còn phát hành tờ 500 đồng (năm 1946, cao ủy d’Argenlieu tuyên bố hủy bỏ giấy bạc này).

Sau hiệp định Pau, Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Quốc trưởng Bảo Đại thì Ngân hàng Đông Dương phát hành tiền liên bang có thể mua bán được ở cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia như tờ Đông Dương cũ.

Từ năm 1875 đến 1954, tiền Đông Dương nằm trong quỹ đạo đồng franc Pháp. Tỷ giá hối đoái chính thức năm 1893 ấn định 1 piastre (đồng Đông Dương) đổi được 3,10 fr, qua năm 1894 sụt xuống còn 2,65 fr; năm 1896 hơi nhích lên 2,80 fr... Trước năm 1952, tỷ giá hối đoái 1 đồng Đông Dương ăn 17 fr thì năm 1952 Ngân hàng Đông Dương phá giá còn ăn 10 fr (phá giá 41%) hòng cướp đoạt tiền bạc của nhân dân ta.

Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân tỉnh Biên Hòa hưởng độc lập tự do khoảng hai tháng thì quân Pháp được quân Anh giúp sức mở đường, trở lại chiếm tỉnh lỵ Biên Hòa, sau đó nống ra lần lượt chiếm đóng các quận lỵ các trục đường giao thông quan trọng. Chúng ta vẫn dùng tiền Đông Dương làm phương tiện mua bán như trước.

Năm 1946, Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định cho Bộ tài chính phát hành đồng tiền Việt Nam với mệnh giá: 2 hào và 5 hào (bằng nhôm) và giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng... Giấy bạc Tài chính  có mặt ở tỉnh Biên Hòa khoảng năm 1947 cho đến trước năm 1952 với số lượng nhỏ ở các vùng căn cứ, vùng độc lập do ta làm chủ. Rất tin tưởng ở Chính phủ kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nên nhân dân Biên Hòa (vùng căn cứ) quí tiền Cụ Hồ, người ta vui lòng nhận cả những tờ bạc rách nát miễn là có hình Bác.

Để đảm bảo chi tiêu cho kháng chiến, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Biên Hòa phát hành Tín phiếu riêng của Địa phương với chữ ký của ông Trịnh Văn Kính, Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách Kinh tài. Để quản lý tiền tệ và thu chi tài chính từng tỉnh, tránh địch làm tiền giả phá hoại tài chính của ta, tín phiếu tỉnh Biên Hòa chỉ có giá trị trong tỉnh (muốn có tiền chi xài ở Bà Rịa hay Bình Thuận, phải đổi qua tín phiếu tỉnh đó). Ngoài ra chúng ta cho đóng dấu Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh lên các tờ bạc Ngân hàng Đông Dương (gọi là tiền xanh) làm phương tiện trao đổi hàng hóa giữa vùng căn cứ và vùng địch tạm chiếm. Đến Hiệp định Genève tháng 7-1954, trước khi đi tập kết, ta đã thu đổi tín phiếu mà nhân dân còn giữ lấy tiền Ngân hàng Đông Dương và tiền Liên bang.

Ngày 29-12-1954 một Hiệp định tay tư được ký kết giữa đại diện Pháp, Lào, Campuchia và chính quyền Sài Gòn để chấm dứt hoạt động của Viện phát hành tiền Liên bang Đông Dương. Ngày 31-12-1954 Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chế độ Sài Gòn được thành lập, từ đó bắt đầu phát hành đồng tiền riêng với nhiều mệnh giá khác nhau: 5 hào, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1000 đồng (tiền kim loại và giấy bạc) vào nhiều thời điểm khác nhau. Đồng tiền Sài Gòn chuyển đổi quỹ đạo: từ phụ thuộc đồng franc Pháp sang lệ thuộc đồng đô la Mỹ (USD). Năm 1955, tỉ giá hối đoái chính thức 1 USD = 35 đồng bạc Sài Gòn thì cuối năm 1956 đã là 500 đồng theo giá thị trường chợ đen (tăng 14,3 lần)... Đến năm 1973, chính quyền thả nổi giá hối đoái.

Tuy đôla Mỹ không lưu hành chính thức nhưng ảnh hưởng của nó rất lớn, nhất là khi quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam. Lính Mỹ và đồng minh cũng như nhân viên dân sự được trả lương  bằng USD đã chi tiêu tại đây, làm nảy sinh vấn đề buôn bán USD khiến chủ quyền tiền tệ của chế độ Sài Gòn bị tổn thương. Nạn buôn bán hàng lậu và ngoại tệ tăng vọt khiến đời sống kinh tế xáo trộn mạnh mẽ. Ngày 4-6-1965, chính quyền Sài Gòn và Mỹ phải ký bản thỏa hiệp cho quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lưu hành đồng USD đỏ (M.P.C), nhưng nạn buôn USD không vì thế mà giảm bớt. Một số dân ở Tam Hiệp, Hố Nai và chợ Biên Hòa nhờ buôn USD đỏ và hàng P.X. của Mỹ nên chỉ một thời gian ngắn đã giàu lên rất nhanh.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), để bảo đảm sinh hoạt bình thường cho nhân dân miền Nam, ta chủ trương tạm thời vẫn sử dụng giấy bạc của chế độ cũ trong mua bán, trao đổi trên thị trường. Như vậy lúc này ở miền Nam song song tồn tại 2 loại tiền có giá trị khác nhau, đó là tiền chế độ cũ và tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam (nói nôm na là tiền miền Bắc) vẫn có giá trị trao đổi mua bán.

Vào lúc 6 giờ sáng ngày 22-9-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố lệnh thu đổi đồng tiền chế độ cũ (tiền của chế độ Sài Gòn), phát hành đồng tiền Ngân hàng mới ở miền Nam (Tiền này được in năm 1966 chuẩn bị cho cuộc tập kích chiến lược Xuân Mậu Thân 1968, nếu ta thắng lợi thì có ngay tiền do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam phát hành). Giá trị trao đổi là 1 đồng Ngân hàng mới (nhân  dân thường gọi là tiền Giải phóng) bằng 500 đồng tiền cũ. Các tờ 50 đồng, 20 đồng, 10 đồng tiền cũ không thu đổi mà vẫn tiếp tục được dùng như bạc lẻ.

Tiền Giải phóng có các loại mệnh giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng (3 loại tiền kim loại). Mỗi hộ được đổi 100.000 đồng cũ cho nhu cầu sinh hoạt, hộ kinh doanh đổi nhiều nhất đến 500.000 đồng, tổ chức kinh doanh được đổi tới 1.000.000 đồng. Số còn lại của từng hộ, tổ chức kinh doanh được quy ra tiền mới gửi vào Quĩ tiết kiệm hoặc tài khoản gửi Ngân hàng được hưởng lãi, được rút dần ra.

Như vậy trên đất nước ta nói chung và Đồng Nai nói riêng lúc này có hai đồng tiền có giá trị khác nhau cùng song song tồn tại: 1 đồng tiền miền Bắc bằng 0,80 đồng tiền Giải phóng. Ở mỗi miền có mức giá cả, phương tiện trao đổi và hạch toán riêng gây khó khăn phức tạp cho việc kế hoạch hóa nền kinh tế, quản lý tài chính thống nhất, điều hòa lưu thông tiền tệ.

Để khắc phục tình trạng trên, vào lúc 6 giờ sáng ngày 2-5-1978, Chính phủ Việt Nam ra Quyết định Phát hành tiền Ngân hàng mới, thu hồi tiền Ngân hàng cũ ở cả hai miền đất nước. Giá trị trao đổi là: 1 đồng ngân hàng mới bằng 1 đồng ngân hàng cũ miền Bắc và bằng 0,8 đồng ngân hàng cũ miền Nam (tiền Giải phóng). Các loại tiền lẻ cũ 50 xu, 20 xu, 10 xu, 5 xu, 2 xu tiếp tục lưu hành. Giấy bạc 1 đồng cũ các loại trở lên còn lại (không hoặc chưa đổi hết) phải hủy bỏ vì không còn giá trị sử dụng.

Tiền Ngân hàng năm 1978 có các mệnh giá 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Do nhiều nguyên nhân về kinh tế - chính trị - xã hội, nên tiền Ngân hàng phát hành năm 1978 bị lạm phát trầm trọng.

Để chuyển mạnh sang nền kinh tế có hạch toán, vào lúc 7 giờ ngày 14 tháng 9 – 1985, Chính phủ quyết định thu đổi tiền (1978) và phát hành tiền (1985). Tỷ giá thu đổi: 1 đồng tiền mới (1985) bằng 1 đồng tiền cũ (1978), không hạn chế mức đổi cho tất cả cá nhân và tập thể, nhưng chỉ hạn chế thời gian đăng ký đến hết 10 giờ sáng cùng ngày, quá thời hạn này số tiền chưa được đăng ký coi như bị bỏ. Loại tiền (1978) có mệnh giá từ 2 đồng trở xuống được tiếp tục lưu hành như tiền lẻ.

Mệnh giá tiền giấy năm 1985 có các loại: năm hào, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1.000 đồng, 2.000 đồng, 5.000 đồng, 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng.

Do giá cả biến động nên đến nay (1998) trên thực tế các loại giấy bạc có mệnh giá từ 100 đồng trở xuống không có mặt trên thị trường.

Như vậy, trong khoảng 300 năm qua người dân Biên Hòa-Đồng Nai đã sử dụng bằng nhiều loại tiền tệ  khác tùy từng thời kỳ lịch sử.

Comments