2.2.1. Hệ thống tổ chức tín dụng từ sau ngày giải phóng đến nay

Trước năm 1975, ở tỉnh Biên Hòa chỉ có Sở kho bạc làm nhiệm vụ thu, chi ngân sách, tiền bạc cho Tòa tham biện (Tòa Bố) Biên Hòa.

Cuối năm 1954, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chế độ Sài Gòn được thành lập.

Năm 1957, ở tỉnh Biên Hòa ra đời Quốc gia Nông tín cuộc (QGNTC), đến năm 1965 đổi thành các Ngân hàng phát triển nông thôn tỉnh. QGNTC thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước, chuyên cho nông dân vay tiền làm ăn với lãi suất vừa phải, điều kiện vay dễ dàng nhanh chóng. Ngân hàng Phát triển nông thôn có 3 chi nhánh:

- Ngân hàng phát triển nông thôn quận Đức Tu.

- Ngân hàng phát triển nông thôn quận Công Thanh.

- Ngân hàng phát triển nông thôn quận Long Thành.

Các Ngân hàng tư nhân do các nhà tư bản góp vốn lần lượt ra đời khá đông đảo, hoạt động kinh doanh nhộn nhịp:

- Đại Á ngân hàng.

- Đại Nam ngân hàng (ở xã Hố Nai).

- Đại Nam ngân hàng (ở xã Gia Kiệm).

- Đông Phương ngân hàng.

- Giao Thông ngân hàng.

- Nam Đô ngân hàng.

- Việt Nam ngân hàng.

- Nam Việt ngân hàng.

- Việt Nam thương tín ngân hàng (chưa hoạt động thì giải phóng).

Tất cả các chi nhánh Ngân hàng nói trên đều ngưng hoạt động từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Để tiếp tục khôi phục sản xuất và phục vụ đời sống của nhân dân, sau ngày 30-4-1975 Nhà nước đã thành lập hệ thống Ngân hàng trên địa bàn Đồng Nai, gồm:

Ngân hàng nhà nước tỉnh Đồng Nai được thành lập tháng 3-1975, do ông Đào Vựa làm Giám đốc, với hệ thống Chi nhánh ngân hàng các huyện: Biên Hòa, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Xuân Lộc, Tân Phú, Long Thành, Châu Thành, Xuyên Mộc, Vũng Tàu, Cần Giờ, với 1.300 cán bộ công nhân viên.

Ngân hàng nông nghiệp tỉnh, được Thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định thành lập số 603/NHQĐ ngày 22-12-1990. Ngân hàng có 8 chi nhánh đặt tại các huyện với nhiều điểm giao dịch tại các trung tâm dân cư.

Ngân hàng khu công nghiệp Biên Hòa thành lập theo quyết định số 67/QĐNH ngày 27-3-1993.

Ngân hàng công thương Đồng Nai thành lập theo quyết định số 67/QĐNH ngày 27-3-1993.

Ngân hàng ngoại thương Đồng Nai (tiền thân là phòng ngoại hối) thành lập theo Quyết định số 106/QĐNH ngày 18-7-1989.

Ngân hàng đầu tư và phát triển thành lập theo quyết định số 105/QĐNH ngày 26-11-1990.

Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Đại Á ra đời tháng 7 -1993. Lúc thành lập, ngân hàng Đại Á có 14 cổ đông, với số vốn điều lệ 1 tỷ đồng, đến năm 1996 vốn điều lệ tăng lên 3 tỷ đồng và 25 cổ đông, trong đó có 2 doanh nghiệp nhà nước tham gia. Ngoài trụ sở chính đặt tại phường Quyết Thắng, Ngân hàng Đại Á còn có 3 chi nhánh giao dịch đặt tại phường Tam Hiệp, phường Hố Nai thành phố Biên Hòa và một chi nhánh đặt tại thị trấn Long Khánh.

Cuối năm 1995, Chính phủ chủ trương thành lập hệ thống ngân hàng phục vụ người nghèo. Ngày 16-12-1995, Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ký quyết định số 407/QĐNHNO về việc thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo tỉnh Đồng Nai.

Ngoài các ngân hàng kể trên, hiện nay còn có 21 quỹ tín dụng nhân dân, 01 hợp tác xã tín dụng phường Trung Dũng (thành phố Biên Hòa), 01 Công ty kinh doanh vàng bạc đá quý được chính phru quy định nằm trong hệ thống ngân hàng (kinh doanh tiền tệ).

Bên cạnh các tổ chức tài chính - tiền tệ kể trên, vấn đề “chơi hụi” một hình thức “kinh doanh tiền tệ ngầm” đã và đang tồn tại trên đất Đồng Nai.

Tháng 6-1988, thực hiện 2 Pháp lệnh về Ngân hàng, trên địa bàn Đồng Nai hình thành 2 hệ thống Ngân hàng gồm: Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh và hệ thống Ngân hàng Thương mại và Tổ chức Tín dụng.

Về kết quả hoạt động nghiệp vụ ngân hàng: báo cáo của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Đồng Nai cho biết: qua 20 năm hoạt động (1976-1996) ngân hàng ngày càng phát triển cả về mạng lưới tổ chức, nghiệp vụ, tổng nguồn vốn và tổng mức vốn đầu tư cho nền kinh tế.

Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu/năm

1976

1980

1985

1990

1995

1997

Tổng nguồn vốn

12

300

1.268

390.576

1.486.809

2.319.672

T/đó: Huy động tại chỗ

7

160

593

68.952

1.076.820

1.285.285

Vay trung ương

5

140

675

321.624

307.742

700.000

Nguồn khác

0

0

0

0

102.247

324.387

 

Kết quả đầu tư cho nền kinh tế 1976 – 1997 như sau:

 

Đơn vị tính: triệu đồng.

Chỉ tiêu/năm

1976

1980

1985

1990

1995

1997

Tổng dư nợ cho vay

10

267

637.547

185.067

1.114.556

2.093.711

A. Cho vay ngắn hạn

10

72

522

85.038

981.367

1.542.521

DN nhà nước

8

64

23

75.987

539.840

917.800

Hợp tác xã

-

3

-

4.358

3.469

3.000

Ct cổ phần, TNHH

-

-

2

-

20.210

20.000

DN tư nhân

2

5

-

4.693

339.746

390.300

DNLD  nước ngoài

 

 

 

 

6.113

27.800

DN nước ngoài

 

 

 

 

 

18.621

Các đối tượng khác

 

 

 

 

72.049

165.000

B. Cho vay trung dài hạn

 

195.190

90

100.029

133.189

551.190

DN nhà nước

-

2

88

97.548

100.767

412.300

Hợp tác xã

-

-

2

2.481

63

58

Ct cổ phần, TNHH

-

3

-

-

1.086

7.200

DN tư nhân

-

-

-

-

22.535

107.500

DNLD  nước ngoài

-

-

-

-

4.218

2.132

DN nước ngoài

-

-

-

-

-

-

Các đối tượng khác

-

-

-

-

4.520

22.000

 

Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn Đồng Nai, bài “Ngân hàng Đồng Nai, thực trạng và giải pháp đổi mới”, đăng trong tạp chí Tài chính số 3 (389) năm 1997 cho biết: kết quả nguồn vốn huy động bình quân năm trong giai đoạn 1991-1995 tăng trên 32,2%, đồng thời cơ cấu vốn đầu tư cũng được điều chỉnh phù hợp với cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng: tăng đầu tư vốn cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, nâng tỷ trọng đầu tư cho khu vực này từ 8,3% năm 1991 lên 53,7% năm 1995; chuyển dịch cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ từ 29,9%-25,9% -44,2% năm 1991 sang cơ cấu đầu tư 29,5 % - 21,7% - 48,8% trong năm 1995, mở rộng cho vay trung hạn và dài hạn (dư nợ cho vay trung hạn và dài hạn năm 1991 là 132,5% tỷ đồng, đến năm 1995 tăng lên 218 tỷ đồng).

Cũng theo bài viết trên, hệ thống ngân hàng ở Đồng Nai thời gian qua thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, công tác kiểm tra giám sát còn mang nặng tính hình thức, chất lượng các đợt thanh tra chưa cao, hiệu lực thanh tra còn hạn chế. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu vốn cho sự phát triển. Chất lượng hoạt động tín dụng có xu hướng giảm, nợ quá hạn cũ chưa được giải quyết, nợ quá  hạn mới lại tiếp tục phát sinh. Cơ cấu vốn đầu tư tuy có được điều chỉnh tích cực, nhưng tỷ trọng vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng từ 73,2% đến 79,9 %. Chưa mở rộng tài khoản thanh toán cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, kinh tế hộ và cá nhân; chất lượng công nghệ trong ngân  hàng chưa cao, nhất là trong thanh toán không dùng tiền mặt, điện báo, báo cáo thống kê, trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ trong tác nghiệp và điều hành còn thụ động, lúng túng.

Comments