2.2.2. Cơ chế hoạt động của một số ngân hàng và tổ chức tín dụng

a) Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh (năm 1990 trở về trước) đại diện cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng, đồng thời làm chức năng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Từ năm 1991 đến nay Ngân hàng nhà nước tỉnh chỉ làm chức năng quản lý nhà nước, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời là đầu mối triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh và Ngân hàng Trung ương trên địa bàn.

b) Hệ thống Ngân hàng Thương mại và Tổ chức tín dụng trước và sau 1990 làm việc vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Cụ thể:

- Ngân hàng phục vụ người nghèo:

Ngân hàng phục vụ người nghèo ra đời với sự trợ giúp của tổ chức Liên hiệp quốc, tôn chỉ mục đích của nó là phục vụ người nghèo. Hiện nay ở Đồng Nai đã hình thành được hệ thống ngân hàng phục vụ người nghèo với 1 chi nhánh ngân hàng tỉnh, 8 chi nhánh huyện. Hoạt động của các chi nhánh ngân hàng phục vụ người nghèo thường xuyên phải dựa vào ban xóa đói giảm nghèo ở các phường, xã. Ngân  hàng cho các đối tượng đói nghèo vay trên cơ sở ban xóa đói giảm nghèo phường, xã xét duyệt cả về mức cho vay, thời hạn vay. Lãi suất cho vay thường thấp hơn các ngân hàng thương mại khác từ 0,4% - 0,5%.

Nguồn vốn của ngân hàng phục vụ người nghèo được hình thành từ Ngân hàng nhà nước, từ hỗ trợ của ngân hàng nhà nước Việt Nam, và từ quỹ xóa đói giảm nghèo các cấp... Sau 3 năm hoạt động, tổng nguồn vốn của ngân hàng phục vụ người nghèo là 45,212 triệu đồng, trong đó quĩ xóa đói giảm nghèo của tỉnh (kể cả ngân sách nhà nước) là 20,712 triệu đồng, của ngân hàng phục vụ người nghèo Việt Nam là 24.500 triệu đồng. Đã cho 38.277 lượt hộ vay 65.73 triệu đồng, trong đó có 3.663 lượt hộ thiếu đói vay/8.388 hộ thiếu đói toàn tỉnh, với doanh số 5.487 triệu đồng và 34.614 lượt hộ nghèo vay với doanh số 60.250 triệu đồng. Kết quả: 8.349 hộ vượt qua đói nghèo (bằng 21,8%), 6.024 hộ làm ăn khá giả (bằng 15,7%), 4.948 hộ có mức sống trung bình (bằng 12,9%), 2.314 hộ làm ăn khá (bằng 6%), 445 hộ thu lỗ, mất vốn...

Trên thực tế, việc cho vay đối với các hộ nghèo đang đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét, đặc biệt là việc thu nợ. Theo báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện NQ5/TƯ “Về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn” Tỉnh ủy Đồng Nai có đánh giá “Hiệu quả của quĩ xóa đói giảm nghèo và ngân hàng phục vụ người nghèo đạt chưa cao, nợ tồn đọng, quá hạn, khó đòi còn lớn, có nguy cơ mất vốn. Chưa chú trọng xóa đói giảm nghèo bằng cách giải quyết việc làm ở vùng có điều kiện”. Đồng thời báo cáo trên cũng đặt vấn đề “nghiên cứu cải tiến cơ chế quản lý và cho vay đối với quỹ xóa đói giảm nghèo mang lại hiệu quả kinh tế cao, giảm tình trạng chiếm dụng vốn, tránh nguy cơ mất vốn”. Tuy nhiên cải tiến cơ chế quản lý và cho vay theo hướng nào thì Tỉnh ủy chưa chỉ ra, các ngành, các cấp cũng chưa có ý kiến gì về vấn đề này.

- Hợp tác xã tín dụng:

Thực hiện chủ trương cải tạo XHCN ở miền Nam sau giải phóng với tinh thần “ba ngọn cờ hồng ở nông thôn” là: HTX nông nghiệp, HTX mua bán và hợp tác xã tín dụng theo mô hình miền Bắc. Sau khi hoàn thành cải tạo XHCN trong lĩnh vực nông nghiệp và thương nghiệp, tỉnh tiếp tục cải tạo XHCN trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Từ năm 1982 bắt đầu cao trào thành lập các hợp tác xã tín dụng. Đến năm 1986, toàn tỉnh thành lập được 69 hợp tác xã tín dụng với nguồn vốn lúc đầu là 9.826 triệu đồng, bằng 37% tổng nguồn vốn của các ngân hàng quốc doanh cùng thời điểm. Tổng dư nợ cho vay của các hợp tác xã tín dụng lúc đó đạt 8.200 triệu đồng, bằng 20% dư nợ cho vay của các ngân hàng quốc doanh.

Đến năm 1989, hàng loạt hợp tác xã tín dụng đổ vỡ. Đến tháng 6 năm 1991 tổng dư nợ cho vay còn 6.300 triệu đồng, trong đó có 3.800 triệu đồng nợ quá hạn, mất khả năng thu hồi (65%). Nhiều hợp tác xã tín dụng không có tiền chi trả cho khách hàng. Trước tình hình đó, Ngân hàng nhà nước phải cho các huyện vay 1.500 triệu đồng, thành phố Biên Hòa vay 3.200 triệu đồng. Người ta ví sự đổ vỡ của Hợp tác xã tín dụng giống như một cơn lốc, có sức công phá lớn. Tại thành phố Biên Hòa, hàng ngày có hàng trăm người tụ tập trước trụ sở của hợp tác xã tín dụng Quang Vinh để đòi nợ.

Nguyên nhân sự đổ vỡ các hợp tác xã tín dụng theo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước và các nhà nghiên cứu kinh tế là lãi suất huy động và cho vay quá cao (11-12%) thậm chí cho vay nóng tới 15% đến 20%/tháng. Vì vậy người vay không có khả năng trả vốn và lãi. Ngoài ra việc thành lập HTX tín dụng theo kiểu phong trào, mục đích tôn chỉ của nó chỉ vì chạy theo lợi nhuận thuần túy, không tuân thủ các nguyên tắc tín dụng, các định chế tài chính chưa hoàn chỉnh, trong lúc đó vai trò quản lý nhà nước lại bị buông lỏng, cán bộ chuyên môn và cán bộ quản lý không được đào tạo đúng mức...

- Quỹ tín dụng nhân dân:

Là một mô hình tổ chức kinh doanh tiền tệ, được tổ chức Liên hiệp quốc trợ giúp, tư vấn. Cơ chế quản lý và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân gần giống như một ngân hàng cổ phần, nhưng có điểm đặt trưng là quỹ tín dụng nhân dân chỉ thu nạp thành viên trong địa bàn được phép hoạt động và chỉ cho vay đối với các thành viên của quỹ tín dụng nhân dân (những cá nhân tổ chức không phải thành viên thì không được vay).Tất cả các thành viên trong quỹ tín dụng nhân dân đều bình đẳng như nhau, không phân biệt quyền hạn theo tỷ lệ góp vốn. Đồng thời quỹ tín dụng nhân dân có hệ thống tổ chức từ trung ương đến cơ sở: Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, quỹ tín dụng nhân dân khu vực (tỉnh) và các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.

Tổng nguồn vốn của 21 quỹ tín dụng nhân dân trong năm 1997 là 51 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ 4,5 tỷ đồng (với 11.500 thành viên tham gia), tiền gửi của dân cư 33 tỷ, số còn lại do hỗ trợ của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương. Trong 3 năm (từ 1995 đến 1997) đã cho 40.500 lượt thành viên vay, với doanh số 234 tỷ đồng. Lãi chưa chia đạt 3 tỷ đồng. Dư nợ hiện nay là 41 tỷ đồng.

- Hụi (hay họ, hay phường theo cách gọi của miền Bắc):

Là một hình thức kinh doanh tiền tệ tự phát trong dân chúng. Hụi xâm nhập vào Đồng Nai từ lúc nào không ai biết rõ, chỉ biết nó thịnh hành từ chế độ cũ. Thời đó hụi được coi là một dịch vụ, người chơi hụi (bao gồm cả chủ hụi và con hụi) phải đăng ký và được chính quyền địa phương sở tại (xã, phường) cấp thẻ chủ hụi (nếu là chủ hụi) và thẻ hụi viên (nếu là con hụi).

Sau ngày miền Nam giải phóng 30-4-1975, hụi được coi là một tệ nạn xã hội “cho vay nặng lãi”, vì vậy Nhà nước cấm chơi hụi. Mặc dù vậy, hụi vẫn “lén lút” tồn tại và ngày càng lan rộng ra mọi tầng lớp dân cư, kể cả giới công chức, viên chức nhà nước đều tham gia chơi hụi.

Hụi có nhiều loại (người chơi hụi thường gọi là dây hụi): hụi ngày, hụi tuần, hụi tháng, thậm chí có hụi 10 ngày, hụi 15 ngày... và mệnh giá mỗi loại hụi có khác nhau do chủ hụi khởi xướng và được con hụi hưởng ứng. Một người chủ hụi có thể làm chủ nhiều dây hụi, một con hụi có thể chơi nhiều dây hụi.

Khui hụi: về nguyên tắc, tất cả các loại hụi đều có tổ chức khui hụi và tại đây con hụi nào muốn hốt hụi thì phải tham gia “bỏ bẻo”. Thực chất của khui hụibỏ bẻo cũng giống như đấu thầu và bỏ thầu kín. Con hụi nào bỏ bẻo cao nhất thì được hốt hụi kỳ đó (trúng thầu), con hụi nào không được hốt thì phải đóng hụi với số tiền bằng mệnh giá hụi (hụi chết) trừ đi tiền “bỏ bẻo”. Con hụi  nào đã hốt hụi kỳ trước thì những kỳ sau phải đóng hụi chết (bằng mệnh giá hụi). Con hụi nào hốt hụi cuối cùng (gọi là hốt hụi chót) được hưởng gần như nguyên vẹn tổng tiền của dây hụi (mệnh giá hụi chết x tổng số người hụi trong dây hụi đó).

Chủ hụi có 2 cách hưởng lợi tùy theo sự thỏa thuận giữa chủ hụi và con hụi trong dây hụi đó. Cách thứ nhất: chủ hụi hưởng một lần đầu kỳ, gọi là “tiền thảo”. Đó là kỳ khui hụi đầu tiên, chủ  hụi hốt và các con hụi phải đóng hụi chết (không tổ chức khui hụi và bỏ bẻo). Cách thứ hai: Mỗi lần con hụi nào được hốt hụi thì phải đóng cho chủ hụi một khoản tiền đúng bằng tiền “bỏ bẻo” của kỳ đó. Trong trường hợp này (cách thứ hai), chủ hụi muốn hốt hụi cũng phải tham gia bỏ bẻo như các con hụi khác.

Do việc chơi hụi bị Nhà nước cấm, nên những người chơi hụi hoạt động ngầm. Lợi dụng tình trạng này, một số người tham gia chơi hụi với mục đích lừa đảo. Nếu là chủ hụi, họ gọi nhiều dây hụi, lấy dây hụi này nuôi dây hụi kia, và cuối cùng là họ vớ một mớ tiền rồi bỏ trốn (những người chơi hụi gọi là giật hụi). Ngoài ra một số con  hụi, với nhiều lý do khác nhau, họ không có khả năng đóng hụi chết cho nên họ xù hụi (bỏ trốn) hoặc ù lỳ không đóng tiếp. Nếu là dây hụi nhỏ thì chủ hụi có thể choàng được, nhưng là dây hụi lớn thì chủ hụi cũng đành bó tay và tuyên bố bể hụi.

Tình trạng giật hụi, bể hụi thời kỳ lạm phát càng trở nên phổ biến. Hiện nay, tình trạng này thỉnh thoảng vẫn xảy ra. Thông thường một số dây hụi bị giật hoặc bị bể thì nó kéo theo các dây hụi khác trong khu vực cũng bể theo, bởi vì tình trạng phổ biến của người chơi hụi là hốt hụi này, nuôi hụi kia và kết cục cuối cùng là tiền chơi hụi chỉ chạy vòng từ dây hụi này (hoặc từ người chơi hụi này) sang dây hụi khác. Vì vậy phần lớn tiền chơi hụi không tham gia vào quá trình lưu thông tiền tệ, thực chất tiền chơi hụi như những đồng tiền dự trữ, cất giữ mà thôi, mà cái két cất giữ là cái két lưu động.

Tuy nhiên hụi vẫn là một hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư, với một cơ chế “trả lãi trước” cho người gởi tiền khá hấp dẫn. Đồng thời nó là động lực thúc đẩy ý thức tiết kiệm của dân chúng (dành tiền để chơi hụi của những người chân chính thực chất như bỏ tiền vào  heo đất). Ngoài ra đối với những người buôn bán nhỏ, những người có nhu cầu mua sắm, sinh hoạt hoặc sản xuất... thì chơi hụi  là một trong những hình thức khá tốt để đáp ứng yêu cầu về vốn. Đặc biệt nhu cầu chơi hụi càng cần thiết khi lãi suất tiền gửi ngân hàng quá thấp, thị trường vốn chưa thịnh hành, chưa hấp dẫn, thủ tục vay - gửi tiền qua ngân hàng còn lắm nhiêu khê...

Comments