4. Ở

Nhà trên mặt đất là loại nhà ở chủ yếu của người Việt. Số lượng nhà sàn cọc gỗ ven sông không nhiều, cũng không lâu bền. Dạng nhà phố xây sàn lấn ra sông chỉ là tạm bợ.

Theo chất liệu xây dựng, có nhiều dạng nhà ở thích hợp với từng vùng. Vùng nông thôn, người bình dân thường ở nhà tranh hoặc nhà lá (lá dừa), những nơi thôn rẫy chưa ổn định dựng tạm chòi lá hoặc chòi tranh. Gia đình khá giả xây dựng nhà ngói vách ván bổ kho; khi tiếp xúc kỹ thuật châu Âu có thêm nhà gạch mái tôle hoặc nhà bê tông mái ngói hay mái bằng của người khá giả.

Nhà ở nông thôn xứ Đồng Nai được xây dựng thường hài hòa với tự nhiên, chuộng hướng Đông, Nam; quay mặt ra sông, ruộng, vườn; ngõ không vào thẳng cửa chính, sân trước sân sau đều rộng, rào thẳng bằng chè cát, dâm bụt hoặc cây quít dại; trước sân bày nhiều chậu hoa kiểng, nhiều nhà bày non bộ. Ở đô thị, nhà ở theo dãy phố, dù hẹp cũng cố có chỗ bày hoa kiểng.

Theo kiến trúc xây dựng, nhà ở người Việt xứ Biên Hòa - Đồng Nai gồm các kiểu chính:

 - Nhà xông hai gian hoặc ba gian, không chái, thường bằng tre lá hoặc vật dụng gỗ nhẹ. Đây là kiểu nhà phổ biến của gia đình nghèo hoặc mới "ra riêng".

 - Nhà chái, cũng là kiểu nhà vật liệu tre lá đơn sơ hợp với người bình dân ở nông thôn.

 - Nhà sắp đọi có kiểu xây dựng như chén (đọi là chén, tiếng Việt cổ) xếp trong tủ, nhà trên nhà dưới nối tiếp nhau, mặt tiền hẹp nhưng có chiều sâu, có nhiều kiểu sắp đọi biến thể thành nhà chữ nhị (chỉ có nhà dưới và nhà trên); có trường hợp nhà chữ nhị có thêm thảo bạt phía trước gọi là nhà chữ tam; cũng có trường hợp biến thể kết hợp nhà xông, nhà chái, nhà chữ đinh... sắp đọi.

 - Nhà chữ đinh là phổ biến hơn cả. Đây là kiểu nhà truyền thống của người Việt Trung bộ, có người giải thích: “đinh” là dân đen, tức kiểu nhà dành cho người bình dân. Nhà chữ đinh phân rõ hai khu vực, nhà trên nằm ngang, nhà dưới nằm dọc hông. Có khi nhà dưới cách nhà trên một thảo bạt hay mái ngang. Cũng có khi nhà trên kiểu ba gian, hai chái hoặc nhà xông có chái. Biến thể kiểu nào thì trông ngôi nhà cũng thấy cân xứng, rõ dạng chữ đinh. Nếu nhà dưới nằm bên hông phải thì gọi là đinh thuận, nếu nhà dưới nằm bên hông trái gọi là đinh nghịch. Hiếm thấy kiểu nhà chữ công ở xứ Biên Hòa - Đồng Nai. Những nhà ở phố chợ do diện tích chật hẹp nên tận dụng đất, ít theo kiểu truyền thống. Khi có kỹ thuật kiểu châu Âu, xuất hiện kiểu nhà tường, hình hộp, cao tầng, mái tole, ngói, hoặc đổ bằng.

Về kỹ thuật, ở Biên Hòa - Đồng Nai cũng như ở Nam bộ, có nhà rường, nhà rội. Nhà rường có hai hàng cột cái theo kiểu phương Bắc, vững chãi trước giông bão. Nhà rội chỉ một hàng cột cái (còn gọi là nọc ngựa). Theo truyền thống của người Việt, do tiết kiệm cột cái nên bộ giàn trò yếu, nội thất chật hẹp. Để chắc chắn hơn, nhà rội thường có xà đầu nối liền hàng cột cái. Ở Biên Hòa - Đồng Nai không thấy có sự phân biệt tuổi tác, sang hèn trong việc ở nhà rường hay nhà rội, nhà rường là kiểu bắt buộc của đình chùa, nhà rội phổ biến trong dân gian, kể cả những nhà sang trọng dựng bằng danh mộc hoặc bằng vật liệu hiện đại.

Không gian sinh hoạt trong nhà thường phân bổ thành hai phần: Các thành viên trong gia đình sinh hoạt ở nhà sau (nhà dưới). Nhà trước (nhà trên) là nơi thờ phượng, tiếp khách. Khách thân, sơ, sang, hèn đều được tiếp ở nhà trước. Bàn thờ gia tiên đặt ở sát vách, ngang cây đòn giông nhà ở gian giữa. Đối diện là bàn khách (bàn dài hoặc bàn tròn). Hai bên là bộ ván ngựa để khách nghỉ ngơi. Tùy độ sang hèn mà tủ thờ, ván ngựa bằng gỗ quí hay gỗ thường, cũng tùy giàu nghèo mà bày thêm các vật trang trí khác. Những nhà giàu có thường treo nhiều liễn đối, đại tự sơn son thếp vàng, có tủ bày đồ cổ, quí hiếm.

Những ngôi nhà của các ông: Nguyễn Háo Nhơn ở phường Quyết Thắng thành phố Biên Hòa, thầy giáo Hảo ở Thạch Phú (Vĩnh Cửu), Trần Văn Thông (phường Hòa Bình - Biên Hòa), Phan Đương ở Hiệp Phước (Nhơn Trạch), Nguyễn Phát Vĩnh ở Cù Lao Phố (Biên Hòa) được xem là những ngôi nhà cổ khá tiêu biểu ở Đồng Nai. Năm 1998, Trường đại học kiến trúc TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà bảo tàng Đồng Nai với sự hỗ trợ của các chuyên gia Trường đại học nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) đã khảo sát 400 ngôi nhà cổ ở Đồng Nai, sau đó chọn lọc 25 ngôi nhà kiểu xưa được xem là tài sản văn hóa cần được bảo tồn:

STT

Chủ hộ

Địa chỉ

Năm xây dựng

01

Huỳnh Văn Sao

K2, 53, Tân Mỹ, phường Bửu Hòa, Biên Hòa

khoảng 1890

02

Nguyễn Văn Thân

K2, 54, Tân Mỹ, phường Bửu Hòa, Biên Hòa

1900

03

Nguyễn Bửu Khoa

72/1, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa

1920

04

Đinh Văn Trơn

189/3, ấp Tam Hòa, xã Hiệp Hòa, Biên Hòa

1930

05

Trương Công Xã

19 Bùi Văn Hòa, thành phố Biên Hòa

1930

06

Nguyễn Háo Thoại

145 CMT8, phường Quyết Thắng, Biên Hòa

1897

07

Nguyễn Thị Sương

Ấp 5, xã Tam An, Long Thành

trước 1945

08

Nguyễn Thị Sáu

186A, ấp 2, xã An Hòa, Long Thành

trước 1900

09

Phạm Văn Lẹo

Ấp 1, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch

khoảng 1890

10

Nguyễn Văn Lình

Ấp 2, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch

khoảng 1940

11

Nguyễn Văn Pháp

Ấp 2, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch

trước 1890

12

Lê Thành Tôn

Ấp 2, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch

khoảng 1880

13

Nguyễn Văn Canh

39/T2, Phú Mỹ 2, xã Phú Hội, Nhơn Trạch

khoảng 1820

14

Nguyễn Thị Hiệp

Ấp Phú Mỹ 2, xã Phú Hội, Nhơn Trạch

1938

15

Phạm Thị Khê

Ấp Phú Mỹ 2, xã Phú Hội, Nhơn Trạch

khoảng 1930

16

Đào Mỹ Trí Nhân

Ấp Phú Mỹ 2, xã Phú Hội, Nhơn Trạch

trước 1900

17

Mã Thị Tám

Ấp Phú Mỹ 2, xã Phú Hội, Nhơn Trạch

khoảng 1890

18

Phan Duy Huân

Ấp Bến Sắn, xã Phước Thiền, Nhơn Trạch

khoảng 1910

19

Trần Ngọc Khánh

Ấp Bến Cam, xã Phước Thiền, Nhơn Trạch

trước 1900

20

Nguyễn Văn Lôm

Ấp Bến Cam, xã Phước Thiền, Nhơn Trạch

trước 1900

21

Phan Thị Xuyến

Ấp Bến Sắn, xã Phước Thiền, Nhơn Trạch

khoảng 1900

22

Nguyễn Văn Bạc

Ấp Bình Lục, xã Tân Bình, Vĩnh Cửu

khoảng 1900

23

Nguyễn Văn Thể

Ấp Bình Lục, xã Tân Bình, Vĩnh Cửu

khoảng 1900

24

Nguyễn Văn Hảo

Xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu

1916

25

Nguyễn Văn Tấn

26/2, ấp 1, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu

trước 1930

Nhà người Hoa ở nông thôn chủ yếu theo kiểu nhà trệt ba gian, bán kiên cố, thường phân biệt với nhà người Việt ở việc dán nhiều giấy đỏ trước nhà. Ở đô thị, nhà người Hoa ít có nhà chữ đinh, thường theo dạng phố lầu, liền sát nhau, lầu ít khi có hàng hiên, hầu hết thuộc dạng kỹ thuật xuyên trính với kết cấu vì không có kèo hay có kèo.

Đồng bào Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro xưa đều có nhà dài. Nhà dài người Châu Ro dài thường vài chục mét, có khi dài đến 100m, bộ cột tròn ít khi lột vỏ cây, chọn những cây dáng thẳng tốt, không có dây leo; tính theo đòn giông, nhà có gốc hướng đông, ngọn hướng tây; trổ cửa ngang hông, phần dưới chăn nuôi, phần trên để ở, không vách ngăn phân chia theo thứ bậc: Góc phía đông nhiều ánh sáng dành cho cha mẹ; những khoang tiếp theo bố trí theo thứ bậc con cái, phần giữa nhà là nơi tiếp khách. Nhà sàn nhỏ thường cất quanh nhà dài, sàn cao khoảng 1,5m; thang lên cửa hông bên trái, phía đông là bếp đun nấu. Nhà kho cất riêng, cũng theo chiều đông tây, tránh không để mặt trời đi ngang qua đòn giông.

Nhà sàn dài của người Châu Mạ, Stiêng tương tự nhà của người Châu Ro. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, đã ít thấy nhà dài, nhà sàn kiểu xưa cũng dần mai một.

Comments