5. Vật dụng

Vật dụng gia đình:

Cuộc sống lao động phong phú đòi hỏi sáng tạo nhiều loại vật dụng để đáp ứng yêu cầu hàng ngày. Nơi ăn nghỉ trong nhà thường rộng thoáng nên thường sử dụng loại to nặng, lâm sản dồi dào, nên dùng gỗ quí là thể hiện sự sang trọng. Dù nhà nghèo người ta cũng ráng sắm đồ bằng gỗ quí: Cẩm lai, trắc, hương, gõ... ít nhất là với tủ thờ. Tủ khảm xà cừ với những hình ảnh: tứ quí, hoa cảnh và chuyện tích tàu được xem là quí nhất. Hai mùa mưa nắng, khi nóng khi lạnh, bộ ván ngựa bằng gõ, càng dày, càng quí; ván một (một tấm, ước 1,4 m ngang), ván hai (hai tấm, mỗi tấm 0,7 m ngang) là quí nhất. Không có ván thì dùng vạc, chõng bằng tre.

Nằm ván ít khi trải chiếu. Chiếu có loại trải để bày đồ cúng, khổ vừa bàn giỗ gọi là chiếu cỗ. Chiếu trải nằm thời xưa có nhiều loại: chiếu liếp đan bằng mây, tre sợi nhỏ; chiếu lác đan bằng lác, chiếu đôi khổ rộng, chiếu chiếc khổ hẹp; chiếu kế viền vải... Chợ chiếu Cù Lao Phố từng là nơi hội tụ nhiều loại chiếu trong cả nước. Đệm đan bằng lác có thể thay chiếu trải nằm, nhưng đệm được dùng chính trong việc phơi lúa, đậu.

Nhà của người Biên Hòa xưa luôn có nhiều gối để sẵn sàng tiếp khách. Nhưng ấy là gối nằm. Còn nhiều loại gối khác: Gối ấp để ôm cho ấm, gối luôn may dài đủ hai người nằm; gối dựa để dựa lưng, gối kê để kê tay chống mỏi, gối mỏng để quỳ lạy... phổ biến là gối vải dồn bông gòn nhẹ mà dễ chống ẩm; Gối mây đan bằng sợi mây cứng cáp, thông thoáng; Nghe nói người xưa còn gối gỗ các cụ cao niên thường dùng, gối dồn vỏ xác đậu xanh để chống ẩm cho trẻ bị bệnh chảy mồ hôi đầu.

Tất cả những vật dụng cần thiết cho việc tiếp khách hoặc để gia bảo thường được bỏ vào rương xe bằng gỗ đậy kín. Rương xe có thể dùng làm chỗ ngủ cho một người.

Bếp là nơi sống động của nhiều vật dụng gắn với nội trợ. Vật đựng của người xưa thường bằng gốm, đất nung. Khó có thể kể hết tên gọi của các vật dụng quen thuộc: Nồi, niêu, om, trách, ơ, trã, lu, hũ, vịm, mái, bình, lọ, tô, tộ, tượng, chén, dĩa... Một câu đối mười bảy chữ cũng đã gọi được tên 6 loại vật chứa bằng gốm thô:

Mượn nồi không trã (trả) đòi lại trách

Bể ấm đền siêu cãi lộn om.

 Biên Hòa là xứ gốm nên đồ gốm thông dụng. Đồ gốm ở Bến Đò Trạm (Bửu Long), Rạch Lò Gốm (Cù Lao Phố), Tân Vạn... còn theo ghe thương hồ đi khắp miền Tây.

Xứ Đồng Nai nhiều mây, tre nên đồ đan bằng mây tre rất phong phú và tinh xảo. Gióng mây thắt đơn hoặc thắt đôi đều bền chắc, giỏ xách bằng mây cũng được ưa dùng; ngoài ra, các thứ đan bằng tre: thúng, mủng, rổ, nia, vần, rế... cũng rất khéo tay được bán đi nhiều nơi.

Dao, rựa, cuốc, phảng, lưỡi cày... là công cụ đắc lực cho cuộc sống, có phần được mua từ nhiều nơi, có phần được rèn tại địa phương. Lò thổi, thiết trường ở An Hòa (Long Thành) là nơi có quặng sắt và hiện còn nhiều lò rèn gia truyền. Xóm lò thổi ở Bình Thạnh (huyện Vĩnh Cửu) xưa cũng nổi tiếng về rèn đúc, đặc biệt là đúc lưỡi cày, đến những năm gần đây còn giữ lệ cúng tổ vào ngày mồng hai tháng hai âm lịch hàng năm. Phảng cổ cò của người làm ruộng, Chà gạc của người Châu Ro ngoài việc để lao động sản xuất, nó đã từng theo người chiến sĩ nông dân ra trận lập nên chiến công diệt thù.

 Để chế biến thực phẩm, các vật dụng để đâm, xay, giã... thường làm bằng gỗ tốt hoặc bằng đá. Cối giã tay, chày đạp bằng gỗ dùng làm bún ở Phước Kiểng, Phước Lai hiện vẫn còn được dùng. Cối xay, cối giã bằng đá từ làng đá Bửu Long được các tỉnh Nam bộ ưa chuộng. Mới đây, nghệ nhân làng đá Bửu Long còn tạo một cối xay bằng đá Biên Hòa đường kính 2m theo đặt hàng để xuất đi nước ngoài.

Dụng cụ đo lường của người xưa dùng theo lối của Nam bộ; đong lúa kiểu dân gian bằng thúng; hai thúng bằng một giạ; khoảng 25 giạ được một xe. Đong theo kiểu chính xác bằng đấu (2 bát), bát, thăng (2 đấu).

Cái cân xách được dùng theo cách của người Hoa, tính bằng cân, yến (10 cân), tạ (10 yến). Thước mộc, thước đo ruộng không giống nhau. Đến đầu thế kỷ XX mới thống nhất áp dụng cách đo lường theo kiểu của Pháp.

Phương tiện chuyên chở:

Sự vận chuyển bằng nội lực của người xưa tự đã nói lên vật dụng làm phương tiện và cách thức vận chuyển: xách, vác, gánh, khiêng, kéo, đẩy... Người Hoa giỏi gánhcõng. Đồng bào dân tộc thường là gùi. Người Chăm thạo về đội. Người Việt tiếp thu, thực hiện được tất cả, tùy theo việc cụ thể mà chọn cách vận chuyển cho phù hợp. Có thể hình dung:

Con thơ lưng cõng tay bồng

Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bong.

Sự dẻo dai, khéo léo trong cách vận chuyển tự thân đã được phát huy và thể hiện hết sức mạnh, vẻ đẹp của nó trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Đòn gánh, đòn xóc bằng tre hoặc cau già có thể dùng làm vũ khí tự vệ rất lợi hại. Vận chuyển nặng người ta có thể dùng xe hoặc cộ do trâu hay bò kéo. Xe bò đi rừng thường có chà gạc để vẹt cây cối theo kiểu người Chăm với bánh bọc sắt, hai bò kéo. Cộ trên đồng dùng hai thanh gỗ trượt do một trâu kéo là đủ. Còn có loại cộ nhỏ để đập lúa do người kéo trên ruộng sụp, nơi không thể dùng sức kéo của trâu bò.

Cư dân Biên Hòa - Đồng Nai xưa đi xa bằng đường sông - biển là chính nên giỏi dùng ghe, xuồng. Nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu khi xưa có lẽ đã dùng thuyền to, mũi lái bọc đồng, buồm cánh dơi mới vượt biển cả vào đến Đồng Nai. Thuyền có thể vượt biển của người Việt gọi là ghe bầu, ghe cửa với đáy ghe đan bằng tre, trét chai. Chuyên chở vật liệu nặng như: Lu, mái, cát, đá... xuôi ngược miền Tây có ghe chài rộng khoảng 3 thước, dài 10 thước. Chở hoa trái nhẹ hơn có hình dáng nhẹ, nhỏ hơn gọi là ghe cui. Ghe cui chở cá gọi là ghe rỗi. Ghe lườn thân dài độc mộc, có cơi be cũng có thể chở nặng.

Ở địa phương còn có xuồng ba lá (bằng ba tấm ván) để đi lại sông rạch; xuồng vỏ gòn đóng ghép bằng nhiều tấm ván chở nhẹ nhưng vượt được sóng gió ven bờ. Tương truyền, ở địa phương người xưa thường dùng ghe độc mộc được đục từ một loại cây, đốt nóng nong rộng, không hề có dấu đóng, ghép. Loại thuyền này lướt sóng nhanh, luồn lách trong các xẻo, tắc rất tiện. Gần đây, ở xã Long Thọ, gần di tích Cái Vạn, cư dân đào đất nuôi tôm có phát hiện một xác ghe như thế, tiếc là đã hư hỏng.

Comments