2.2.1. Phật giáo

a) Tổng quan về Phật giáo Đồng Nai:

Đồng Nai là địa bàn Phật giáo đã được truyền vào từ xa xưa trong lịch sử và đã từng là một trong những cái nôi của Phật giáo Đàng Trong thời các chúa, các vua nhà Nguyễn, có ảnh hưởng không những đối với Phật giáo ở Nam bộ mà còn ảnh hưởng cả đến Phật giáo ở miền Trung. Nhiều nhà sư nối tiếp ở Đàng Trong đã từng tu hành, hoằng hóa ở Đồng Nai và có nhiều đệ tử nổi danh khác đi hoằng hóa ở các nơi. Đồng Nai có nhiều ngôi chùa cổ kính, trong đó có ba ngôi đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa là chùa Long Thiền, chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong.

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, phật tử ở các nơi, nhất là ở miền Trung về Đồng Nai làm ăn sinh sống, tăng ni ở các nơi về Đồng Nai tu hành làm cho Phật giáo Đồng Nai có bước phát triển mới. Hơn 20 năm qua, số tăng ni gấp ba lần sau giải phóng. Toàn tỉnh chỉ có 419.286 tín đồ nhưng đã có 2.250 tăng ni, trong đó có 4 hòa thượng, 38 thượng tọa và 12 ni sư. Trong thời gian ngắn từ năm 1980 đến nay đã có hơn 100 chùa, tu viện... được trùng tu, xây dựng mới, đưa số cơ sở thờ tự ở Đồng Nai là 448. Nhiều chùa, thiền viện, tịnh xá được xây dựng mới khang trang và hiện đại, được kiến trúc và trang trí khác nhau theo từng hệ phái càng tô điểm thêm cho sự phong phú, nhiều màu sắc của Phật giáo Đồng Nai.

Phật giáo Đồng Nai có nhiều tông môn, hệ phái cả Bắc tông và Nam tông, bao gồm: Cổ truyền, Phật giáo Việt Nam thống nhất, Thiền tông, Khất sĩ, Tịnh Độ tông, Nam tông Theravada, Phật giáo Khơ - me... Nhưng Thiền tông nhập thế hòa nhập với tín ngưỡng dân gian truyền thống là chủ yếu, có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, không chỉ có ảnh hưởng trong phật tử mà còn có ảnh hưởng cả trong những người theo đạo thờ cúng ông bà tổ tiên... theo quan niệm Thần, Phật ở bên cạnh con người để "hộ quốc an dân".

b) Tiến trình phát triển qua các thời kỳ:

+ Sự hình thành và phát triển từ đầu đến trước thời kỳ Pháp thuộc:

Phật giáo được truyền vào Đồng Nai theo nhiều hướng khác nhau, nhiều thời điểm khác nhau. Buổi đầu trực tiếp từ Ấn Độ, các nhà sư và phật tử theo thuyền buôn bằng đường biển đến các nước vùng Đông Nam Á và Viễn Đông truyền giáo. Những tài liệu khảo cổ tìm thấy ở Đồng Nai chứng tỏ ngay thời kỳ trước và sau công nguyên, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo ở Ấn Độ đã có ảnh hưởng đến vùng đất này, trong đó có văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo.

Ngay thời kỳ nhà Trần (1225 - 1400) với việc di dân vào phía Nam, tín ngưỡng Phật giáo cũng được mang theo vào vùng đất mới. Khi nhà Minh xâm chiếm nước ta, Lê Lợi khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược dựng lên triều đại nhà Lê (1428 - 1527), phái thiền Trúc Lâm do các vua nhà Trần lập cũng bị nghi kỵ. Vì vậy, một số hoàng tộc nhà Trần và các thiền sư Trúc lâm đã phải lẩn trốn qua Chiêm Thành, Chân Lạp vào tận vùng lưu vực sông Đồng Nai. Họ ẩn tu, che giấu tên tuổi, tông tích nên tài liệu về sự truyền thừa của phái Trúc Lâm ở Đồng Nai chưa xác định được rõ ràng. Chỉ biết rằng vào khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII số người Việt vào sinh sống ở Đồng Nai đã nhiều. Người Việt vào khai hoang lập ấp đến đâu thì tín ngưỡng Phật giáo được loan truyền đến đó. Cho nên "buổi khai nguyên các chúa Nguyễn thì tinh thần Phật giáo đã theo cuộc di dân nhiều đợt định cư trước đó lan rộng rồi" ([1][6]). Về sau các phái thiền Trung Quốc truyền vào đều chịu sự ảnh hưởng của phái thiền Trúc Lâm đã có trước ở đây.

Năm 1630 khi cuộc nổi dậy của Lý Tự Thành nổ ra và sau đó nhà Thanh đánh bại nhà Minh chiếm trọn Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc không thần phục nhà Thanh đã bỏ nước mà đi. Trong số người di cư tị nạn và xin vào lập nghiệp ở Đàng Trong có cả các nhà sư Phật giáo. Vào Biên Hòa - Đồng Nai, các nhà sư Trung Quốc được phật tử mời đến trụ trì các chùa do họ đã tạo dựng trước đó, hoặc tự cất chùa, am để tu hành và hoằng hóa như: chùa Long Thiền, chùa Bửu Phong, chùa Đại Giác... (thành phố Biên Hòa), chùa Châu Thới (nay thuộc Bình Dương)...

Năm Kỷ Mùi (1679), các tướng lưu vong nhà Minh đem theo quân vào Đàng Trong thần phục chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho họ quan chức và cho họ khai khẩn vùng Mỹ Tho, Biên Hòa. Tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình vào Biên Hòa khai khẩn Cù Lao Phố, còn gọi là Đại phố Nông Nại (theo phát âm của người Hoa, nay thuộc xã Hiệp Hòa - Biên Hòa); chùa Thanh Lương là một trong các chùa được xây dựng trong thời gian này, hiện nay còn long vị và tượng Trần Thượng Xuyên.

Khác với các tài liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam đã xuất bản trước đây, những tài liệu và hiện vật mới phát hiện ở Đồng Nai gần đây cho thấy vào khoảng năm 1692 - 1695, sau những biến cố chính trị và cuộc nổi loạn ở Quảng Nam và Quy Nhơn vì bị nghi có liên quan, thiền sư Nguyên Thiều vị tổ sơ của phái thiền Lâm Tế Đàng Trong và một số đệ tử lập chùa Kim Cang ở ấp Bình Thảo, trấn Biên Hòa (nay là xã Tân Bình, Vĩnh Cửu). Thời đó, chợ Bình Thảo là một giang cảng lớn và thịnh vượng, có đông thương khách, có hàng hóa trong nước và có cả hàng hóa ngoại quốc([2][7]).

Việc phát hiện tháp mộ của thiền sư Nguyên Thiều ở chùa Kim Cang và long vị hòa thượng Minh Vật Nhất Tri ở chùa Kim Long ([3][8]) đã mở đường cho việc sưu tầm công tích hoằng hóa của thiền sư Nguyên Thiều và các đệ tử của thiền sư ở Biên Hòa - Đồng Nai. Thiền sư Nguyên Thiều đã truyền thừa cho nhiều đệ tử nổi danh như thiền sư Minh Vật Nhất Tri sau trụ trì chùa Kim Cang, thiền sư Thành Đẳng Minh Lương trụ trì chùa Đại Giác, thiền sư Thành Nhạc Ẩn Sơn trụ trì chùa Long Thiền, thiền sư Thành Trí Pháp Thông trụ trì chùa Bửu Phong v.v... Các đệ tử thiền sư Nguyên Thiều ở Biên Hòa - Đồng Nai lại có nhiều đệ tử và pháp tôn nổi tiếng mở rộng phạm vi hoằng hóa ở Đồng Nai - Gia Định và lan rộng ra ở Mỹ Tho, Định Tường, Châu Đốc... còn truyền thừa cho đến ngày nay ở Nam bộ.

Trong thời các chúa Nguyễn, ở Biên Hòa - Đồng Nai có hai ngôi chùa được sắc tứ là chùa Vạn An ở thôn Phước An (nay thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu) và chùa Hộ Quốc ở thôn Đắc Phước, huyện Phước Chánh (nay là Tân Vạn - Biên Hòa). Ngoài phái thiền Lâm Tế, ở Biên Hòa - Đồng Nai còn có sự truyền thừa của phái thiền Tào Động. Các tài liệu Phật giáo Việt Nam trước đây đều nói "Tông Tào Động do sư (hòa thượng) Thạch Liêm truyền vào Việt Nam về phái xuất gia không thấy nói đến người thừa kế". Nhưng ở Biên Hòa đã xác định được tháp mộ của thiền sư Pháp Thông Thiện Hỷ mới biết thiền sư thuộc phái Tào Động thế hệ 36, người khai sơn chùa Long Ẩn vào năm Ất Sửu (có thể là năm 1733 hay 1793); chùa thuộc làng Tân Lại, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là phường Bửu Long, Biên Hòa).

Trong thời kỳ Nho giáo độc tôn dưới triều Nguyễn (thế kỷ XIX), "chính sách của triều Nguyễn nói chung hạn chế sự phát triển của Phật giáo. Triều đình tăng cường quản lý số sư tăng, bắt họ tham gia công tác xã hội, chủ trương thu hẹp ảnh hưởng của nhà chùa đối với người dân, quy định ngặt nghèo nhằm giảm bớt việc xây chùa, tô tượng, đúc chuông và người theo đạo Phật" ([4][9]). Triều đình cho rằng để Phật giáo phát triển sẽ làm hại cho lễ giáo phong kiến, ảnh hưởng đến việc thực hiện các giáo điều Nho giáo. Nhưng trong lịch sử phát triển của mình, Phật giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai thời này không những không bị hạn chế mà còn phát triển. Các ngôi chùa cổ kính danh tiếng ở Biên Hòa - Đồng Nai đều được xây dựng trong thời chúa Nguyễn. Nhiều nhà sư tu hành, hoằng hóa ở Biên Hòa - Đồng Nai trở thành các nhà sư tiêu biểu của Phật giáo Đàng Trong. Đó là vì Phật giáo với tính chất từ bi, bình đẳng, nêu cao cứu khổ cứu nạn cho con người nên đã được người Biên Hòa - Đồng Nai tiếp thu một cách sâu rộng, Phật giáo đã trở thành một mảng văn hóa đậm nét trong văn hóa truyền thống ở địa phương, và vì trong thời gian chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh và hoàng gia đã nhiều lần lẩn trốn trong các ngôi chùa ở Biên Hòa - Đồng Nai như chùa Kim Cang, chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong. Chùa Bửu Phong hiện còn một giếng nước rất trong, nhân dân địa phương lưu truyền là do Nguyễn Vương trong thời gian lẩn trốn ở đây đã cho đào giếng này.

Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi (1802) đã ban cho chùa Kim Cang 3 pho tượng (Tam Thế Phật) và bức hoành phi khắc "Kim Cang tự". Nhà vua lại xuống chiếu chỉ trùng tu chùa Đại Giác và cúng chùa pho tượng Phật A - di - đà bằng gỗ cao 2, 50 m nên nhân dân địa phương còn gọi chùa Đại Giác là chùa "Phật lớn". Tháng 10 năm Minh Mạng nguyên niên (1820), công chúa Ngọc Anh cúng chùa bức hoành phi khắc "Đại Giác tự" sơn son thếp vàng treo ở chính điện.

* * *

Năm Gia Long thứ 14 (1815) vua xuống chiếu triệu thiền sư Mật Hoàng trụ trì chùa Đại Giác về kinh đô sắc phong Tăng cang trụ trì chùa Thiên Mụ và thường mời vào nội cung thuyết pháp cho hoàng gia. Năm Gia Long thứ 16 (1817) vua lại triệu thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt là đệ tử của thiền sư Minh Vật Nhất Tri về kinh đô phong Tăng cang trụ trì chùa Thiên Mụ (thay Tăng cang Mật Hoàng được cử trụ trì chùa Quốc Ân) v.v...

+ Phật giáo Đồng Nai thời kỳ Pháp thuộc:

Sau mấy thế kỷ nhòm ngó, điều tra, tính toán, đến thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản Pháp quyết định thôn tính Việt Nam. Tháng 9 - 1858, Pháp nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu thời kỳ xâm lược Việt Nam. Tháng 12 - 1861, Pháp chiếm Biên Hòa. Tháng 6 - 1862, Pháp buộc triều đình Huế phải nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam bộ (Biên Hòa - Gia Định - Định Tường) cho Pháp làm thuộc địa. Với truyền thống yêu nước gắn bó với dân tộc, tăng ni, phật tử Đồng Nai tích cực tham gia cùng với nhân dân đứng lên chống Pháp xâm lược. Khi Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định hiệu triệu nhân dân đứng lên chống Pháp ở Gò Công, tăng ni, phật tử Đồng Nai đã hưởng ứng và tham gia chống Pháp trong đạo quân của Đỗ Trình Thoại ở Biên Hòa và nhiều đơn vị nghĩa quân khác.

Tháng 8 - 1883, Pháp chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Tháng 6 - 1884, triều đình nhà Nguyễn phải ký hiệp ước thừa nhận sự thống trị của Pháp tại Việt Nam. Nước Việt Nam từ độc lập thành nô lệ, trở thành thuộc địa nửa phong kiến. Người dân mất nước là mất độc lập tự do, mất quyền sống, quyền sáng tạo mọi giá trị. Người phật tử tu tại gia hay xuất gia, trước hết họ là người dân của nước Việt Nam, họ cũng có nỗi đau chung của dân tộc. Pháp đã tạo điều kiện cho Công giáo phát triển và âm mưu dùng tôn giáo này thay thế các tôn giáo bản địa. Trong tình hình như vậy, Phật giáo có nguy cơ bị đẩy lùi và mất chỗ đứng.

Thời cuộc đặt ra cho Phật giáo Việt Nam hai vấn đề phải giải quyết: đó là ứng phó với hiện trạng chính trị - xã hội đất nước như thế nào? Và sự phát triển tiếp theo của Phật giáo ra sao để đối phó thời cuộc? Trong hàng ngũ Phật giáo lúc bấy giờ không có quan điểm thống nhất, không có cùng một suy nghĩ, có người thờ ơ với thời cuộc, nhưng các vị cao tăng và phật tử có lòng yêu nước, thương người thấy mình phải quan tâm đến tình hình đất nước, phải thay đổi quan niệm về giáo lý nhà Phật để thích ứng với dân tộc và thời đại. Cũng như Phật giáo trong cả nước, Phật giáo Đồng Nai trong giai đoạn này từng bước tìm cách chấn hưng, nhập thế để góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc và tạo chỗ đứng trước thời cuộc.

Nối tiếp truyền thống anh dũng đứng lên chống Pháp, thời kỳ Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, nhiều hòa thượng, thượng tọa, tăng ni đã tham gia phong trào yêu nước chống ách thống trị của thực dân Pháp tiêu biểu như hòa thượng Hoan Hỉ chùa Long Thành, cùng với tăng ni, phật tử trực tiếp tham gia vận chuyển lương thực cho phong trào nông dân khởi nghĩa ở Hóc Môn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Văn Bường và Phan Công Hớn...

Các tăng già tiền bối tìm cách duy trì mối đạo, kêu gọi và tổ chức duy trì tông lâm quy chế, tham gia hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học và xuất bản tạp chí "Từ bi âm". Người trực tiếp tham gia và có nhiều đóng góp là giáo thọ Thiện Tâm ở chùa Đại Giác đã cổ vũ phong trào chấn hưng Phật giáo ở Đồng Nai.

Năm 1930 - 1931, cao trào đấu tranh của quần chúng nhân dân chống ách thống trị của thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nội bộ Phật giáo. Tăng ni, phật tử ở nhiều nơi dùng chùa làm nơi học tập, in ấn tài liệu và nuôi chứa cán bộ cách mạng. Từ năm 1942 - 1945, nhiều chùa bí mật tham gia Mặt trận Việt Minh, vận động ủng hộ cách mạng. Tháng 8 - 1945, hòa thượng Thích Huệ Thành cùng với các nhà sư yêu nước hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban khởi nghĩa bí mật vận động tăng ni, phật tử tham gia giành chính quyền. Cách mạng tháng Tám 1945 ở Biên Hòa thành công có sự đóng góp của đông đảo tăng ni, phật tử.

+ Phật giáo Đồng Nai trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước:

Sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân Nam bộ một lần nữa lại đi đầu trong cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai. Tổ chức Phật giáo có sự phân hóa mới. Nhiều tăng ni, phật tử hồi cư về vùng tạm chiếm, một số làm việc trong các cơ quan kháng chiến rút về các căn cứ, các chiến khu. Được sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh tỉnh Biên Hòa, ngày 6 - 9 - 1945, hòa thượng Thích Huệ Thành đứng ra triệu tập Đại hội Phật giáo Biên Hòa, thành lập Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh, do hòa thượng làm chủ tịch, kiêm ủy viên Mặt trận Việt Minh tỉnh. Trụ sở của Hội đặt tại chùa Long Thiền (Biên Hòa). Từ đó, các tổ chức cơ sở của Hội được thành lập ở các quận, huyện và xã trong tỉnh.

Sau khi thành lập, các tổ chức Phật giáo cứu quốc từ tỉnh đến cơ sở đã vận động tăng ni, phật tử tích cực tham gia ủng hộ kháng chiến, tham gia bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tham gia hưởng ứng "Tuần lễ vàng", "Tuần lễ kim khí". Nhiều chùa đã ủng hộ lư đồng, chân đèn bằng đồng, đại hồng chung... tiêu biểu như chùa Phước Nhĩ xã Phước Thiền (Long Thành) đã hiến hai đại hồng chung, mỗi cái nặng gần một tạ gởi vào chiến khu để đúc võ khí.

Cuộc kháng chiến chống Pháp ngày một lan rộng, trụ sở của Phật giáo cứu quốc tỉnh Biên Hòa dời về xã Hiệp Phước (Long Thành). Đến đầu năm 1946, trụ sở dời về xã Mỹ Lộc quận Tân Uyên. Hòa thượng Thích Huệ Thành và một tăng ni thoát ly đi kháng chiến.

Trong thời gian kháng chiến, trong vùng tự do mọi hoạt động đều hướng về mục tiêu kháng chiến và sản xuất để phục vụ kháng chiến. Phần lớn tăng ni trong vùng tự do đều trực tiếp lao động trồng lúa, tỉa bắp, tiếp tế, liên lạc hoặc làm công tác xã hội, giáo dục... Tại các vùng tạm chiếm, hoạt động của phật tử diễn ra sôi động hơn; tăng ni, phật tử có ý thức rất rõ về cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra trên mọi miền đất nước và tâm hồn họ vẫn hướng về cuộc kháng chiến đó. Bằng mọi cách, tăng ni, phật tử vẫn tìm cách liên lạc, ủng hộ và một số gia nhập kháng chiến. Sau khi hồi cư, nhiều thanh niên phật tử lại bỏ nhà đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tìm ra chiến khu... Những người khác ở lại vùng Pháp kiểm soát vẫn âm thầm hoạt động cho kháng chiến. Một số tăng ni bí mật hoạt động mà nòng cốt là nhà sư đảng viên cộng sản như nhà sư Thích Thiện Thuận.

Hòa thượng Thích Thiện Khải đã từng đóng vai thầy cúng, người viết các câu đối cổ bằng chữ Hán len lỏi đi về nội thành để liên lạc giữa chiến khu với bộ phận hoạt động bí mật trong nội thành. Chính trong thời gian này một số tăng ni bị bắt, bị giam cầm hoặc bị sát hại.

Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra ngày càng quyết liệt, cũng là lúc các tổ chức Phật giáo cứu quốc được thành lập ở tất cả các tỉnh, thành phố, cần phải có sự phối hợp chỉ huy thống nhất chung. Năm 1947, các vị cao tăng và phật tử trong tổ chức Phật giáo cứu quốc các tỉnh, thành phố ra chiến khu Đồng Tháp Mười thành lập ban chấp hành Phật giáo cứu quốc Nam bộ. Hòa thượng Thích Huệ Thành, Chủ tịch Phật giáo cứu quốc tỉnh Biên Hòa làm phó hội trưởng và được đề cử làm ủy viên Mặt trận Liên Việt Nam bộ.

Sau khi ban chấp hành Phật giáo cứu quốc Nam bộ được thành lập, một số cao tăng ở lại chiến khu để tập hợp tăng ni, phật tử trực tiếp tham gia kháng chiến, một số cao tăng về vùng tạm chiếm bí mật tổ chức đấu tranh chống thực dân Pháp. Để có một tổ chức hợp pháp đứng ra tập hợp tăng ni, phật tử hướng về cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, năm 1952, Phật giáo cứu quốc ở Sài Gòn - Chợ Lớn phối hợp với Phật giáo cứu quốc Biên Hòa thành lập và mở Trường Phật học. Giáo hội Lục Hòa tăng Việt Nam xuất bản tờ Phật học tạp chí và mở trường Phật học. Hòa thượng Thích Huệ Thành ở Biên Hòa được cử làm trưởng ban hoằng pháp. Năm 1953, ông củng cố và mở rộng tổ chức của giáo hội Lục Hòa tăng. Hòa thượng Thích Thiện Hào, người đã xuất gia đầu Phật và thọ giới Tỳ kheo tại Đồng Nai làm phó hội trưởng và hòa thượng Thích Huệ Thành làm phó tăng giám. Từ đó ảnh hưởng của Giáo hội Lục Hòa tăng càng được mở rộng.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta sắp giành được thắng lợi, để chuẩn bị thay chân Pháp, đế quốc Mỹ đã đưa gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, trong đó có hàng chục vạn tín đồ Phật giáo. Đế quốc Mỹ đã lôi kéo lợi dụng một số người làm chỗ dựa chính trị để chúng lèo lái phong trào Phật giáo di cư. Mỹ dàn dựng đưa "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" tham gia "Liên hữu Phật giáo thế giới", lợi dụng mối quan hệ quốc tế này, Mỹ đã gián tiếp hay trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho tăng ni du học, từ năm 1955. Chúng đã trực tiếp cấp hàng loạt học bổng cho tăng ni học trong nước và nước ngoài để đào tạo lực lượng nòng cốt cho các tổ, các tu viện, nhà trường... do Mỹ đài thọ xây cất.

Đáng lưu ý, trong giai đoạn này, nhiều hệ phái không tham gia "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" như giáo hội Lục Hòa tăng, giáo hội Nguyên thủy, phái Nam tông Theravada. Ngược lại, nhiều phái đã tham gia Phật giáo cứu quốc và phong trào đấu tranh chung của các đô thị. Các phái không tham gia "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" chiếm ưu thế ở Đồng Nai như giáo hội Lục Hòa tăng, giáo hội Lục Hòa phật tử, ni giới khất sĩ... Các tổ chức và hệ phái Phật giáo bị đế quốc Mỹ thao túng ít có cơ sở ở Đồng Nai.

Năm 1963, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của phong trào Phật giáo Việt Nam. Trong mùa Phật đản, Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo đã gây xúc động cả giới Phật giáo, tiếp đến là nhiều cuộc bao vây thảm sát các tín đồ Phật giáo tại Đài phát thanh Huế. Trước tình thế đó, "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" đã phát động phong trào đấu tranh chống Diệm đòi các tôn giáo bình đẳng.

Đối với Phật giáo, đây là một phong trào lớn có tính chất toàn miền, xuất phát từ Huế sau đó lan ra các tỉnh miền Nam, đỉnh cao là cuộc tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức (11 - 6 - 1963), song giai đoạn này vẫn mang nhiều sắc thái tôn giáo. Từ tháng 7 - 1963 trở đi phong trào Phật giáo, đã phối hợp được các yêu sách chung của các tầng lớp nhân dân các đô thị, chống chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm, đòi tự do dân chủ với quy mô ngày càng rộng lớn.

Năm 1963 cũng là thời điểm sôi sục của phong trào cách mạng miền Nam. Sau đồng khởi năm 1960, nhiều vùng nông thôn rộng lớn được giải phóng, các đô thị miền Nam đẩy mạnh cao trào chống Mỹ xâm lược, chống chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm. Các phong trào đó lan rộng rất nhanh trong công nhân lao động, sinh viên, học sinh... kết hợp các hình thức đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ với các hình thức bạo lực xuống đường, đốt xe Mỹ, tấn công vào các đầu não của Mỹ - ngụy, đồng thời kết hợp với phong trào của Phật giáo chống kỳ thị tôn giáo, đòi thực hiện bản thông báo chung giữa Phật giáo với chế độ Sài Gòn khiến đế quốc Mỹ lâm vào tình thế không thể duy trì chế độ Ngô Đình Diệm, buộc chúng phải lật đổ Diệm - Nhu.

Tháng 11 - 1963, Diệm - Nhu bị giết, Mỹ tìm mọi cách nắm lực lượng Phật giáo, tạo thêm chỗ dựa chính trị cho mưu đồ xâm lược của chúng. Tháng 1 - 1964, chúng đã chấp nhận cho các hệ phái Phật giáo gồm 11 tập đoàn trong "Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo" tham dự đại hội lập ra "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" hình thành tổ chức từ trung ương đến địa phương. Mỹ cũng chọn sẵn một số con bài đưa vào tổ chức để nắm và lôi kéo Phật giáo đi theo con đường có lợi cho Mỹ - ngụy.

Đối với Phật giáo đây là cơ hội tốt để phát huy thắng lợi vừa mới giành được. Tuy nhiên, trong nội bộ Phật giáo lúc bấy giờ lại có nhiều xu hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau: thống nhất được với nhau ở mục tiêu chung là chống Mỹ - ngụy kỳ thị Phật giáo nhằm đưa Phật giáo lên một bước phát triển mới của phong trào chấn hưng, nhưng từng nhóm, từng hệ phái, từng miền khác nhau, lại có những khuynh hướng khác nhau.

"Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" đã tăng cường hoạt động trên nhiều lĩnh vực ở khắp các địa phương trong vùng địch kiểm soát.

Về tôn giáo, giáo hội đã đẩy mạnh hoạt động theo hướng hiện đại hóa Phật giáo, tăng cường thuyết giảng, mở các Phật học viện đào tạo tăng tài, đẩy mạnh xây dựng nơi thờ tự và các hoạt động từ thiện xã hội. Các chùa được xây dựng ở Đồng Nai trong giai đoạn này đều được trang trí màu sắc sặc sỡ, đều có giảng đường để thuyết giảng, các trường Bồ đề và các phòng khám bệnh phát thuốc được xây dựng ở Biên Hòa, thị xã Long Khánh, Bà Rịa - Vũng Tàu...

Về chính trị, từ năm 1964 giáo hội tiếp tục chủ trương phát động phong trào đấu tranh chống độc tài, chống phục hồi chế độ Diệm không có Diệm, hưởng ứng và kết hợp chặt chẽ với các khẩu hiệu đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong phong trào cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, Mỹ - ngụy sử dụng nhóm tay sai đứng đầu là Thích Tâm Châu, công khai ra mặt chống cộng, chống lại cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Bọn này tìm mọi cách kiềm chế và tiếp tay cho Mỹ - ngụy đàn áp đẫm máu phong trào học sinh, sinh viên và Phật giáo, công khai phá vỡ và loại trừ các tổ chức cơ sở và ảnh hưởng của cách mạng trong Phật giáo. Nhưng hầu hết các hệ phái và tông môn ở Đồng Nai không tham gia "Phật giáo Việt Nam thống nhất" và tổ chức Phật giáo Việt Nam thống nhất ở Biên Hòa do nhà sư yêu nước Thích Diệu Tâm từ Phú Yên về làm chánh đại diện. Cũng trong thời gian này, nhà sư yêu nước Thích Thiện Hào, một trong các nhà sư lãnh đạo giáo hội Lục Hòa tăng và Lục Hòa phật tử sau hợp nhất và đổi thành Phật giáo cổ truyền Việt Nam có nhiều cơ sở ở Đồng Nai - năm 1964 được bầu làm ủy viên đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam và năm 1968 được cử làm ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam là nguồn cổ vũ lớn cho tăng ni, phật tử Đồng Nai trên con đường "Đạo pháp dân tộc".

Phong trào đấu tranh của Phật giáo ở Biên Hòa kết hợp rất chặt chẽ với phong trào đấu tranh của quần chúng và phật tử ở Sài Gòn, như phong trào cứu đói, cầu nguyện cho hòa bình, tập hợp đông phật tử.

Cụ thể như lễ Vu lan 1971 ở chùa Định Quang (An Hảo) do nhà sư Thích Thiện Hoa chủ trì. Trong đó có buổi nói chuyện của sinh viên phật tử Thiện Phước (7 - 8 - 1971) thu hút gần 3000 phật tử, vạch trần "Việt Nam hóa chiến tranh" là tiếp tục gây tang thương chết chóc cho nhân dân Việt Nam.

Hoạt động phá hoại phong trào Phật giáo, gây cản trở con đường "Đạo pháp dân tộc" của nhóm Thích Tâm Châu đã gây nhiều công phẫn trong đông đảo tăng ni, phật tử, bọn chúng ngày càng mất uy tín và bị cô lập. Từ đó về sau, các phong trào Phật giáo phản ánh rõ nét cuộc đấu tranh quyết liệt trong nội bộ Phật giáo, giữa một bên (đa số) gắn bó với phong trào cách mạng miền Nam với nhóm Thích Tâm Châu cố lái phong trào Phật giáo theo hướng có lợi cho Mỹ - ngụy. Chúng đều bị thất bại trước sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta và trước sức mạnh của truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc của Phật giáo Việt Nam.

+ Phật giáo Đồng Nai từ 30 - 4 - 1975 đến nay:

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tình hình Phật giáo có nhiều biến đổi. Tăng ni, phật tử các nơi, nhất là ở miền Trung về Đồng Nai làm ăn sinh sống ngày một nhiều, tập trung chủ yếu dọc quốc lộ 51 Biên Hòa - Vũng Tàu. Các ngôi chùa đã có từ trước ở đây đều được mở mang, xây dựng lại, nhiều chùa, viện, tịnh xá, tịnh thất mới được xây dựng khang trang, hiện đại tạo nên một vùng Phật giáo đông đảo, sầm uất.

Tuyệt đại đa số tăng ni, phật tử tự hào về sự đóng góp của mình vào thắng lợi chung của dân tộc, phấn khởi và tin tưởng vào công cuộc xây dựng lại quê hương đất nước sau bao năm chiến tranh tàn phá. Đất nước đã độc lập thống nhất thì Phật giáo Việt Nam cũng phải thống nhất trong cả nước. Đó là nguyện vọng tha thiết của mọi tín đồ Phật giáo Việt Nam. Nhưng một số phần tử cực đoan chống đối vẫn còn nắm quyền hành khống chế Viện Hóa đạo của giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang) ngăn cản việc thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Ngày 12 - 2 - 1980, đông đảo hàng giáo phẩm có uy tín ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam đã tập hợp lại thành lập "Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam", tiêu biểu cho hàng lãnh đạo các tổ chức và hệ phái Phật giáo trong cả nước để vận động thống nhất Phật giáo đã được đông đảo hàng giáo phẩm, tăng ni, phật tử hưởng ứng.

Ngày 4 - 11 - 1981, lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, hội nghị thống nhất Phật giáo cả nước được tổ chức tại chùa Quán Sứ (Hà Nội) thành lập giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chương chương trình hoạt động của giáo hội. Hội nghị đã suy tôn các vị cao tăng vào "Hội đồng chứng minh" và suy cử "Hội đồng trị sự" là hai cơ quan lãnh đạo cao nhất của Trung ương Giáo hội.

Tại Hội nghị lịch sử này, hai vị cao tăng tiêu biểu cho Phật giáo Đồng Nai: hòa thượng Thích Huệ Thành được suy tôn làm phó pháp chủ Hội đồng chứng minh và hòa thượng Thích Thiện Khải được suy tôn làm ủy viên Hội đồng. Sự tín nhiệm này của hội nghị đã khẳng định vai trò, vị trí của Phật giáo Đồng Nai trong phong trào Phật giáo chung của cả nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đoàn kết thống nhất Phật giáo trong tỉnh.

Việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất trong cả nước đã mở ra một trang sử mới, một hướng phát triển mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam để phát huy cao hơn nữa truyền thống gắn bó giữa đạo Phật với dân tộc trong thời đại mới theo phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".

Sau Đại hội thống nhất Phật giáo trong cả nước năm 1981, Đồng Nai đã tổ chức Đại hội thống nhất Phật giáo trong tỉnh, thành lập Giáo hội Phật giáo tỉnh Đồng Nai trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại hội đã suy cử các thành viên trong Ban trị sự Phật giáo tỉnh gồm 25 thành viên, đại diện tiêu biểu cho các tông môn, hệ phái Phật giáo trong tỉnh. Ban trị sự có 1 trưởng ban, 2 phó ban và 12 ủy viên thường trực, đồng thời là trưởng tiểu ban các ngành hoạt động của Giáo hội. Các huyện và thành phố Biên Hòa có Ban đại diện Phật giáo huyện và thành phố, do Ban trị sự Phật giáo tỉnh bổ nhiệm để giúp Ban trị sự thực hiện các phật sự ở địa phương.

Từ ngày Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời đến nay Giáo hội đã làm được nhiều việc mà từ trước kia trong lịch sử Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ làm được. Đó là thống nhất Phật giáo trong cả nước để duy trì chánh pháp, góp phần tích cực cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hòa bình an lạc cho mọi người. Về Phật sự, giáo hội đã tổ chức phiên dịch xuất bản Đại tạng kinh bằng tiếng Việt, biên soạn xuất bản nhiều công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam, làm rõ để duy trì và phát huy một cách độc đáo hơn nữa "cái chất Việt Nam" ở trong đạo Phật Việt Nam, trong đó có sự đóng góp đáng trân trọng của hòa thượng Thích Thanh Từ, một nhà sư phái Thiền Trúc Lâm tiêu biểu ở Đồng Nai; xây dựng Viện nghiên cứu Phật học, mở hai Trường cao cấp Phật học ở các tỉnh và thành phố trong cả nước; tổ chức giới đàn truyền giới cho đệ tử được tổ chức với quy mô lớn, trọng thể trong phạm vi tỉnh, thành phố hoặc một vùng. Nhiều di tích lịch sử Phật giáo bị hủy hoại do thời gian hoặc bị tàn phá do chiến tranh được trùng tu, xây dựng lại. Từ ngày thống nhất Phật giáo đến nay, ở Đồng Nai đã mở được trường cơ bản Phật học, là tỉnh có nhiều tăng ni theo học Trường cao cấp Phật học và du học ở nước ngoài nhiều nhất trong cả nước, đã 4 lần tổ chức Đại giới đàn cho trên 700 tăng ni, xây dựng mới, trùng tu hàng trăm chùa, am, tự viện... Một số chùa, tự viện được xây dựng mới hoặc xây dựng lại to đẹp, hiện đại mà trong lịch sử Phật giáo Đồng Nai chưa bao giờ làm được.

Gắn bó với dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn luôn cổ vũ tăng ni, phật tử chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, luật pháp của Nhà nước, hưởng ứng, tham gia tích cực các công tác ở địa phương, các phong trào hành động cách mạng do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, nhất là các phong trào từ thiện xã hội, góp phần ngày càng có hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong sự ổn định và phát triển của đất nước, chứng tỏ con đường "Đạo pháp - dân tộc - Chủ nghĩa xã hội" trong giai đoạn mới của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với giáo lý của nhà Phật, phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam.



([1][6]) Vãn Thanh: Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, Nxb Phật học viện, Sài Gòn 1974, tr. 148.

([2][7]) Trịnh Hoài Đức: Gia Định thông chí viết: "Chợ Bến Cá hay chợ Bình Thảo ở tổng Phưóc Chánh, trấn Biên Hòa thương khách tụ hội tiện cả đường thủy, đường bộ, ngoại hóa, thổ sản cùng gia hào mỹ vị ở sông rạch và núi non không thiếu vật gì, là một chợ miền núi rất đông đảo".

([3][8]) Chùa Kim Long là chùa Kim Cang được xây dựng lại cách vị trí cũ khoảng 500 m sau khi chùa Kim Cang bị đốt cháy thời chống Pháp năm 1946. Hiện vẫn chưa xác định được tháp mộ của thiền sư Nguyên Thiều ở đây là tháp thật hay tháp vọng.

([4][9]) Lịch sử Phật giáo Việt Nam  -  Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam   -   Nxb. Hà Nội 1991, tr. 378.

Comments