2.2.2. Công giáo ở Đồng Nai

a) Tổng quát về Công giáo ở Đồng Nai:

Biên Hòa - Đồng Nai là một trong những địa bàn được truyền giáo sớm ở Đàng Trong và đã từng có những giáo sĩ Thừa sai nổi tiếng đương thời hoạt động truyền giáo ở đây. Nhưng từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1954 đạo Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai không trở thành một tôn giáo sâu rộng như Phật Giáo. Số dân đến Biên Hòa - Đồng Nai cư trú từ lâu đời theo đạo Công giáo chiếm tỷ lệ rất thấp. Một vùng đất vốn có truyền thống tín ngưỡng tôn giáo hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía nên khi tiếp nhận đạo Công giáo, người giáo dân Biên Hòa - Đồng Nai cũng không có niềm tin "tinh dòng", lễ nghi, phong tục, tập quán cũng không quá rườm rà, hình thức. Đạo không có vùng tập trung đông giáo dân, các xứ họ không phải là một lãnh địa khép kín, giáo dân sống xen kẽ với người ngoài đạo chan hòa cởi mở. Trong một dòng họ, một gia đình cũng có người đi lương, người đi giáo. Thậm chí trong một con người họ là tín đồ đạo Công giáo, họ đi nhà thờ cầu phúc, nhưng cũng có khi họ đi đình, chùa cầu cúng thần, Phật.

Đạo Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai là một giáo phận thuộc giáo tỉnh Sài Gòn của giáo hội Công giáo Việt Nam. Giáo phận có Tòa giám mục, 16 giáo hạt, 252 giáo xứ và hơn 100 họ lẻ và các cụm giáo dân ở các vùng kinh tế mới. Có 2 giám mục và 282 linh mục với 842.809 giáo dân.

Bên cạnh hệ thống triều, các dòng tu cũng là một tổ chức của giáo hội với nhiều loại hình khác nhau. Các dòng tu do Tòa thánh thiết lập hầu hết là dòng miễn trừ, đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Tòa thánh ít bị chi phối của giáo quyền, giáo phận. Các dòng tu do Tòa thánh thiết lập có cơ sở ở Việt Nam đều thuộc tỉnh dòng nước ngoài và do các tỉnh dòng nước ngoài chi phối. Mãi đến năm 1956 trở đi Việt Nam mới có tỉnh dòng riêng, nhưng cho đến nay vẫn còn các dòng tu trực thuộc tỉnh dòng nước ngoài. Các dòng tu do Giám mục giáo phận thiết lập thì mọi hoạt động đều đặt dưới sự kiểm soát của Giám mục giáo phận.

Hầu hết các dòng tu có ở Việt Nam đều có các cơ sở ở Biên Hòa - Đồng Nai. Đến nay số dòng tu đã đăng ký hoạt động có 13 dòng nam và 24 dòng nữ với 62 cơ sở dòng tu và 1510 tu sĩ.

+ Tiến trình phát triển qua các thời kỳ:

- Từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1954:

Việc truyền giáo vào Biên Hòa - Đồng Nai từ bao giờ cho đến nay chưa có tài liệu nào xác định rõ. Chỉ biết rằng "Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý lấy đất Đồng Nai đặt ra huyện Phước Long, đất Sài Gòn đặt ra huyện Tân Bình và đặt phủ Gia Định thì đã có đông lưu dân đến đây lập nghiệp. Trong số lưu dân sớm sủa ấy đã thấy có sự hiện diện của người Công giáo. Họ lác đác đến đây lập nghiệp tại vùng ven sông Đồng Nai, đồng bằng sông Mê Công... từ đầu thế kỷ 17 hay thế kỷ 16. Như vậy, số người Công giáo tới đây đã theo đạo rồi chứ không phải tới đây mới theo đạo" ([1][10]). Trong thư gởi Ban giám đốc chủng viện truyền giáo Paris đề ngày 24 - 7 - 1710, giám mục phó giáo phận Đàng Trong Labbé viết:

"Có một miền gọi là Đồng Nai (Dou - nai) ở giữa Cao Miên và Chiêm Thành, đây là vùng đồng bằng đất tốt, khá rộng và dài, rừng rậm cây to, nơi mà người Đàng Trong đến đây lập nghiệp từ 35 hay 40 năm nay. Tôi nghĩ là đã có hơn 20.000 người Đàng Trong tới đây, trong số đó có ít nhất 2000 người Công giáo. Cách đây 13 hay 14 năm có một cha dòng Tên người Bồ Đào Nha (Pires) đến đây, ông đã xây một nhà thờ khá lớn..." ([2][11]).

Những họ đạo đầu tiên được nhắc tới ở Biên Hòa - Đồng Nai:

 - Họ đạo Bến Gỗ (nay thuộc thành phố Biên Hòa) có từ cuối thế kỷ 17 do thừa sai Feret quy tụ giáo dân thành lập, đến năm 1747 có khoảng 200 giáo dân. Khi Hội thừa sai nước ngoài Paris vào truyền giáo ở Đàng Trong thì năm 1750, Hội đặt trụ sở tại Bến Gỗ. Bến Gỗ trở thành nhà thờ đầu tiên của Hội thừa sai nước ngoài Paris ở Nam bộ.

 - Họ đạo Tân Triều (nay thuộc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), có từ thời giám mục Pigneau làm giám mục đại diện tông tòa Đàng Trong (1771 - 1733). Trong thời gian này có 4 năm (1778 - 1782) Tân Triều là nơi đặt trụ sở của đại diện tông tòa Đàng Trong và chủng viện cũng được quy tụ về đây.

 - Vùng Bà Rịa (nay thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) "đã được truyền giáo từ lúc các thừa sai ngoại quốc vừa đặt chân vào miền Nam... đến năm 1664 trở thành khu vực truyền giáo quan trọng. Vùng Đất Đỏ là nơi thuận tiện cho các thừa sai nước ngoài và linh mục bản xứ trú ẩn". Vì "các thừa sai không được thiện cảm của triều đình, nhưng Bà Rịa là một vùng xa xôi hẻo lánh, có lẽ dễ bề truyền đạo hơn" ([3][12]).

Biên Hòa do có Bến Gỗ là trụ sở của Hội thừa sai nước ngoài Paris và Tân Triều là trụ sở của đại diện tông tòa Đàng Trong nên đạo phát triển tương đối nhanh hơn các khu vực khác ở Nam bộ. Theo phúc trình đề ngày 31 - 1 - 1852, giám mục Lefèbvre đại diện tông tòa Tây Đàng Trong (tức Nam bộ ngày nay) cho thấy giáo phận Tây Đàng Trong có 9 khu vực chính thì Biên Hòa có 3 khu vực.

 - Thị Rịa (tức Bà Rịa) có 1914 giáo dân thuộc các họ đạo Đất Đỏ, Thôm, Dinh (sau đổi thành Phước Lễ), Thành, Gò Sầm...

 - Tân Triều có 3034 giáo dân của các họ đạo: Tân Triều, Bến Gỗ, Mỹ Hội...

 - Lái Thiêu (nay thuộc tỉnh Bình Dương) là họ đạo có từ đầu thế kỷ 18 cho đến năm 1852 vẫn là cái nôi của Công giáo Nam bộ, bởi nơi đây là nơi trú ẩn của chủng viện, của các thừa sai và vẫn là một trung tâm với 3.547 giáo dân ([4][13]).

Từ ngày đầu của việc truyền giáo cho đến tháng 6 - 1862, sự phát triển của Công giáo Tây Đàng Trong còn rất hạn chế, chỉ mới bắt đầu xây dựng và phát triển từ sau hòa ước ngày 5 - 6 - 1862 được ký kết giữa triều đình vua Tự Đức với đại diện Pháp và Tây Ban Nha. Ở Biên Hòa cũng từ đó về sau, các nhà thờ lớn của các xứ đạo, các cơ sở dòng tu được xây dựng. Nhà thờ Tân Triều xây dựng lại năm 1862, nhà thờ Biên Hòa có từ năm 1861 đến năm 1870 xây dựng lại to đẹp hơn, nhà thờ Bến Gỗ xây dựng lại năm 1862, nhà thờ Phước Lễ có từ năm 1664 đến năm 1877 xây dựng lại với quy mô lớn được coi là một trong những nhà thờ lớn nhất ở giáo phận Tây Đàng Trong lúc bấy giờ. Nhà thờ Mỹ Hội, Long Thành xây năm 1889. Phước Lý (huyện Nhơn Trạch) có sổ "rửa tội" từ năm 1885, nhưng mãi đến năm 1900 mới xây dựng nhà thờ...

Cơ sở dòng tu có quy mô lớn đầu tiên được xây dựng ở Phước Lễ, năm 1877, Phước Lễ đã có trường học của nhà dòng, năm 1890 các nữ tu dòng Phao Lô đến Phước Lễ lập Dưỡng lão đường và giảng dạy ở trường dòng. Các cơ sở kinh tế có đồn điền cao su ở Mỹ Hội, trại trồng điều ở Phước Bửu.

Năm 1890 Đất Đỏ đã xây dựng một trung tâm dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ thừa sai ngoại quốc mới đến Việt Nam. Vì vậy, vùng Phước Tuy - Biên Hòa là địa bàn lui tới tổ chức truyền giáo của nhiều giáo sĩ thừa sai ngoại quốc nổi tiếng đương thời.

Đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản phương Tây đua nhau xâm chiếm phương Đông, trong đó Pháp ráo riết chuẩn bị xâm chiếm Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, các giáo sĩ ngày càng can dự vào chính sự Việt Nam, can thiệp sâu vào nội trị Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1857, Pháp quyết định đánh chiếm Việt Nam bằng vũ lực, cũng là lúc các giáo sĩ ngoại quốc cho rằng họ đã chuẩn bị xong cho cuộc thôn tính Việt Nam. Linh mục Legrand, cha sở xứ Biên Hòa năm 1865, trong bản trần tình gửi Napoléon III đã nói rõ tầm quan trọng của việc xâm chiếm Việt Nam. Theo Legrand "Chỉ cần nhìn vị trí "xứ An Nam" người ta hiểu ngay nếu chiếm đóng xứ này quan trọng cho Pháp đến đâu" và "Xứ này rất đáng là một xứ thuộc địa xét về mặt giầu có của đất đai, vốn hơn hẳn Philipine, Java, Bornéo... Tài nguyên của nó khiến cho nước Pháp sẽ yêu thích vùng thuộc địa đẹp đẽ nhất, quí giá nhất này trong các thuộc địa cũ và mới của Pháp". Sau khi phân tích các nguyên nhân tất thắng của cuộc xâm chiếm Việt Nam, linh mục Legrand kết luận: "Vùng đất mỹ miều và quí giá này sẵn sàng rơi vào tay Pháp. Trái đã chín rồi không thể không rụng. Lạy Chúa! Đừng để nó rơi vào tay người Anh" ([5][14]).

Sự dính líu giữa việc truyền giáo và chủ nghĩa thực dân của các thừa sai trên đất Biên Hòa - Đồng Nai đã dẫn đến lệnh cấm đạo thời Thiệu Trị (1841 - 1847) và thời Tự Đức (1847 - 1862) được thực thi ở Biên Hòa - Đồng Nai. Nhiều giáo dân bị bắt bớ tù đày và bị sát hại, các giáo sĩ thừa sai bị trục xuất, bị cấm truyền giáo.

Sự dính líu giữa công cuộc truyền giáo và chủ nghĩa thực dân dẫn tới việc cấm đạo và đàn áp tràn lan người theo đạo của triều đình nhà Nguyễn là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận. "Nhưng sự dính líu giữa giáo hội với chủ nghĩa thực dân phương Tây không thuộc về bản chất của việc truyền giáo, đó là sự dính líu mang tính chất thời đại lúc bấy giờ, thời đại của sự phát sinh và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã xảy ra vào cuối thế kỷ XV" ([6][15]).

Chính giáo sĩ thừa sai Paris, linh mục Louvet, người đã làm cha sở xứ Biên Hòa năm 1870, cũng thừa nhận đó không phải là kỳ thị tôn giáo vì không có một dân tộc nào bao dung vấn đề tôn giáo hơn dân tộc Việt Nam. Ông viết: "Muốn cứu vãn tôn giáo trong hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ, thì chỉ có một cách phải tách rời nó ra khỏi toàn cảnh đế quốc và thực dân". Bởi vì "Vấn đề này mang tính chất chính trị nhiều hơn tôn giáo, hay nói cho đúng, nó gần như hoàn toàn chính trị... cái mà họ chống đối trong đạo Công giáo chính là sự xâm lược của châu Âu. Vậy hãy tách rời minh bạch vấn đề tôn giáo ra khỏi vấn đề chính trị" ([7][16]).

Vì ý nghĩa thiêng liêng và nhân bản của đạo hãy "tách rời minh bạch vấn đề tôn giáo ra khỏi vấn đề chính trị" để người Công giáo Việt Nam có thể là con chiên của Chúa mà vẫn là người Việt Nam, gắn bó với vận mệnh của Tổ quốc và nhân dân của họ.

 Theo linh mục Legrand, lúc làm cha sở xứ Biên Hòa thì số giáo dân của giáo xứ có chừng 700 người, sau đó di tán chỉ còn chừng 300 người. Ý định tập hợp những người theo đạo thành những xóm, làng riêng tách khỏi người ngoại đạo như ở miền Bắc không thực hiện được ở Biên Hòa - Đồng Nai. Những xứ đạo được hình thành lớn nhất của công cuộc truyền giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai mãi đến trước năm 1954 vẫn xen kẽ với người ngoại đạo, không có xứ đạo toàn tòng, có xứ càng về sau càng ít đi.

Cuối thế kỷ XIX bước sang thế kỷ XX, nước Pháp đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Những thuộc địa mới ở Viễn Đông trong đó có Việt Nam bắt đầu được chú ý khai thác. Năm 1897, triều đình Huế buộc phải ký nhượng quyền khai thác đất hoang cho Pháp. Từ đó trở đi thì sự chiếm đoạt ruộng đất càng trở nên ồ ạt. Việc mộ dân (chủ yếu là miền Bắc và miền Trung) lập các đồn điền cao su ở Biên Hòa - Đồng Nai đã hình thành các xứ, họ đạo của công nhân đồn điền cao su. Từ năm 1912 đến năm 1947 đã hình thành các xứ họ: Dầu Giây (Thống Nhất), Suối Tre, Bình Lộc, Xuân Tân (Long Khánh), nhà thờ họ lẻ của công nhân cao su ở Túc Trưng (Định Quán), Bảo Thị (Xuân Lộc)... Số giáo dân trong các đồn điền cao su này là 7197 người làm cho số giáo dân ở Biên Hòa - Đồng Nai tăng lên đáng kể. Trên toàn địa bàn có 8 giáo xứ và một số họ lẻ được hình thành từ thế kỷ XVII, XVIII và 6 giáo xứ và một số họ lẻ của giáo dân là công nhân các đồn điền cao su, với số giáo dân gần 20 ngàn người thuộc giáo phận Sài Gòn.

Trong gần hai mươi ngàn giáo dân ấy, có một bộ phận là người Công giáo ở các nơi sớm có mặt ở Biên Hòa - Đồng Nai khai hoang lập ấp, góp phần mở mang vùng đất mới. Cũng như các lưu dân khác, họ đi xa để tìm đất sống và trốn tránh áp bức, bất công. Riêng họ còn nhằm mục đích trốn tránh bách hại tôn giáo.

Vào vùng đất mới, trước cảnh rừng núi âm u hoang vắng, nhiều thú dữ, nhiều bất hạnh do thiên nhiên và con người mang lại, họ phải đoàn kết gắn bó với các lưu dân khác để tồn tại và phát triển. Vậy nên giữa họ dù là lương hay giáo luôn có mối tương thân, tương trợ và cùng cảnh ngộ. Bên cạnh số giáo dân đã sống lâu đời ở Biên Hòa - Đồng Nai, số giáo dân công tra ở các đồn điền cao su, họ là công nhân bị thực dân Pháp, chủ đồn điền áp bức bóc lột tàn khốc, sớm giác ngộ cách mạng đi theo Đảng tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân cao su chống áp bức bóc lột, đòi tự do dân chủ, chống ách thống trị của thực dân Pháp, tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Trong thời Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp, đạo Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai cũng bị thực dân, đế quốc lợi dụng, nhưng đa số giáo dân vẫn gắn bó với quê hương, dân tộc, hăng hái tham gia các phong trào chống Pháp xâm lược và kháng chiến chống Pháp cứu nước.

Nhiều cơ sở cách mạng trong vùng giáo dân là công nhân cao su được xây dựng, có vùng đã trở thành căn cứ kháng chiến chống Pháp như: Bình Sơn, Bình Lộc, Cẩm Mỹ v.v...

Từ lâu, đế quốc Mỹ đã có âm mưu can thiệp và xâm lược nước ta hòng thực hiện kế hoạch bành trướng và thống trị của chúng ở vùng Đông Nam Á. Âm mưu và ý đồ đó đã được thực hiện đầu tiên bằng việc dụ dỗ, cưỡng bức 40% giáo dân miền Bắc di cư vào Nam, trong đó có Biên Hòa - Đồng Nai là một trọng điểm. Cuộc di dân thấm đậm máu và nước mắt của giáo dân này được Mỹ Diệm coi là "thắng lợi ban đầu với Cộng sản". Điều đó khẳng định rằng việc dụ dỗ, cưỡng bức giáo dân di cư năm 1954 không phải là việc làm mang ý nghĩa tôn giáo mà là ý nghĩa chính trị thực sự. Mỹ - ngụy sử dụng giáo dân di cư làm hậu thuẫn chính trị trong những ngày đầu còn non yếu của chế độ Diệm. Đồng bào được bố trí định cư ở khu Hố Nai dọc đường quốc lộ 1 Biên Hòa - Long Khánh, quốc lộ 15 Biên Hòa - Bà Rịa, quốc lộ 20 Kiệm Tân - Lâm Đồng...

Giáo dân di cư năm 1954 và di cư đến các nơi rồi lại đến Biên Hòa - Đồng Nai cư trú vào các năm sau đó, làm cho số giáo dân trên địa bàn tăng lên gấp bội. Từ năm 1954 đến năm 1965, Biên Hòa - Đồng Nai đã có 133 giáo xứ và 105 họ lẻ, 175 linh mục, 3 dòng tu nam, 8 dòng tu nữ với 865 tu sĩ và 164.144 giáo dân.

Trong tình hình đó, ngày 04 - 10 - 1965, Tòa thánh Rôma ra sắc lệnh cho tách khỏi giáo phận Sài Gòn, thành lập giáo phận Xuân Lộc (bao gồm 3 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy và thị xã Vũng Tàu), Tòa giám mục đặt tại Xuân Lộc, tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh.

Từ năm 1972 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chế độ Sài Gòn lại hốt hàng loạt dân, trong đó có nhiều giáo dân ở những vùng chiến ác liệt, những vùng tranh chấp giữa ta và địch ở miền Trung và một số nơi như: Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Tây Ninh, Bình Tuy... về định cư ở Biên Hòa - Đồng Nai lập nên một số xứ, họ đạo mới. Một số giáo dân ở Campuchia hồi cư năm 1972 về sống xen kẽ với các xứ, họ ở Túc Trưng (Định Quán), Xuân Định, Xuân Hiệp (Xuân Lộc)... làm cho giáo phận Xuân Lộc ngày càng phát triển cả tôn giáo và chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Sau 20 năm từ năm 1954 đến 1974, từ một địa bàn chỉ có gần 20 ngàn giáo dân thuộc giáo phận Sài Gòn, Biên Hòa - Đồng Nai trở thành vùng Công giáo lớn với 333.410 giáo dân chiếm 36,6% dân số, với một tòa giám mục, 14 giáo hạt, 192 giáo xứ, 53 cơ sở dòng tu và tu hội với 1158 tu sĩ và trên 3000 thực tập sinh dự tu.

Mỹ - ngụy âm mưu lợi dụng lực lượng Công giáo di cư làm chỗ dựa để lôi kéo giáo hội miền Nam chạy theo chủ nghĩa chống cộng mù quáng, ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược, diệt chủng chống lại dân tộc mình. Quan điểm và lập trường chống cộng cực đoan mà Mỹ - ngụy đầu độc ấy đã ràng buộc lương tâm, đè nặng lên số phận của phần đông linh mục, tu sĩ và giáo dân làm cho họ phải băn khoăn, trăn trở, day dứt. Một số giáo dân tại chỗ và giáo dân trong các đồn điền cao su đã trưởng thành trong các phong trào yêu nước và kháng chiến chống Pháp, trước âm mưu xâm lược miền Nam nước ta của đế quốc Mỹ đã đứng lên cùng toàn dân kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Một số xã Anh hùng lực lượng vũ trang như: Phú Hội, Bình Sơn, Bình Lộc... có sự đóng góp của những người Công giáo kính chúa, yêu nước. Ở những nơi đông có đến 90% gia đình giáo dân là cơ sở cách mạng, gia đình thương binh, liệt sĩ. Nhiều thanh niên công giáo tham gia kháng chiến trở thành cán bộ lãnh đạo ở cơ sở, có người đã trở thành cán bộ trung, cao cấp của Đảng và Nhà nước. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Cúc là người Công giáo tiêu biểu của Đồng Nai có ba con là liệt sĩ. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Sen là giáo dân ở Long Khánh, bà mẹ Lê Thị Tin Biên Hòa đều có chồng và hai con là liệt sĩ. Đó là những người công giáo tiêu biểu cho "lòng kính Chúa yêu nước".

Lực lượng này tuy ít so với số giáo dân di cư đến Đồng Nai từ năm 1954 và các năm sau, nhưng đã có tác động và ảnh hưởng đến xu hướng ngày càng gắn bó với dân tộc của họ ngay trong chế độ cũ. Một số linh mục, tu sĩ thức thời, cấp tiến muốn đi tìm một hướng đi mới, hướng đi "trở về nguồn", "tìm về dân tộc" để sống trong tương quan "đạo đời" tốt đẹp hơn. Họ đã công khai trình bày quan điểm của mình và kêu gọi những người đồng đạo "người Công giáo chân chính là người phải yêu dân tộc mình, phải hi sinh tất cả cho dân tộc". Có những linh mục, tu sĩ đã đồng tình ủng hộ sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa của nhân dân. Một số linh mục, tu sĩ ở vùng giáp ranh đã cùng với giáo dân tiếp tế lương thực, thuốc men cho kháng chiến như linh mục Nguyễn Trinh Đoàn ở nhà thờ Hiếu Liêm (Vĩnh Cửu), linh mục Trần Quang Vũ ở nhà thờ Đồng Lách (Biên Hòa), có linh mục ở Hố Nai, Biên Hòa đã đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, giúp đỡ thuốc men cho tù nhân là cán bộ kháng chiến và đã tìm cách cứu thoát một số cán bộ, chiến sĩ giải phóng trong nhà tù lúc giao thời trước giải phóng. Tiêu biểu là linh mục Nguyễn Trinh Đoàn, năm 1962 đã tham gia Đại hội Mặt trận giải phóng miền Đông Nam bộ. Linh mục đã được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng hai và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng Huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Trong thời Mỹ - ngụy, lực lượng này còn nhỏ bé, nhưng tiếng nói của họ đã có tác động góp phần thức tỉnh đối với giáo dân, nhất là đối với trí thức, thanh niên, sinh viên học sinh.

Tuyệt đại đa số giáo dân di cư năm 1954 là nông dân vốn có truyền thống cần cù lao động, họ vốn phải chắt chiu, dành dụm để đảm bảo cuộc sống. Vào Đồng Nai vùng đất màu mỡ, mưa thuận, gió hòa, dân cư thưa thớt, họ đã khai hoang, mở mang ngành nghề phát triển sản xuất. Với chính sách tư sản hóa miền Nam của Mỹ - ngụy, người sản xuất cũng thay đổi thành phần, thay đổi cách làm ăn. Trung nông phát triển, nông, lâm, ngư nghiệp đã sử dụng máy móc, kỹ thuật tư bản, tiểu thủ công nghiệp phát triển, một số người bỏ lao động chuyển sang buôn bán hình thành các khu sản xuất, buôn bán sầm uất, các thị tứ, thị trấn dọc các quốc lộ và ven thành phố Biên Hòa ra đời làm cho kinh tế Đồng Nai có bước phát triển mới.

Một bộ phận được chế độ Mỹ - ngụy ưu đãi, có đặc quyền nên giàu lên nhanh chóng. Nhưng đại đa số giáo dân vẫn là người nghèo khổ, nhiều người bị đưa đẩy vào nghịch cảnh của cuộc chiến tranh phi nghĩa, dần nhận ra chính nghĩa của cách mạng, có nhiều hoạt động góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc. Trong những năm về sau, cách mạng đã xây dựng được cơ sở ở một số vùng giáo dân di cư, cả ở vùng Kiệm Tân, Hố Nai... các cơ sở này góp phần đáng kể trong việc tiếp tế lương thực, thuốc men cho kháng chiến.

+ Từ 30 - 4 - 1975 đến nay:

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện chủ trương giãn dân từ thành phố đi xây dựng vùng kinh tế mới; Đồng Nai tiếp nhận nhiều người từ các đô thị đến vùng kinh tế mới ở huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Xuyên Mộc, Châu Thành... trong đó có nhiều chức sắc, giáo dân (có cả số giáo dân bị Mỹ - ngụy cưỡng ép di tản chiến tranh không thành). Từ năm 1977 về sau, ngoài số giáo dân ở thành phố, ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường theo kế hoạch của Nhà nước, còn có hàng trăm ngàn giáo dân vào Đồng Nai cư trú ngoài kế hoạch, hình thành các cụm dân cư mới. Trong đó có 72 cụm dân cư mới có nhiều giáo dân như Suối Nho 4.200 giáo dân, Phú Điền 4150 giáo dân, Gia Canh 2400 giáo dân... (thuộc huyện Định Quán). Các cụm dân cư có trên dưới 3000 giáo dân ở huyện Châu Thành như Suối Trầu, Suối Quýt, Cẩm Đường, Bàu Cạn và 11 cụm dân cư mới ở huyện Xuyên Mộc (nay thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu).

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, Đồng Nai là một trong những trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam, có những định hướng phát triển lớn, tập trung nhất là phát triển công nghiệp đòi hỏi một lực lượng lao động lớn. Một lần nữa, dân ở các nơi lại dồn về Đồng Nai làm ăn sinh sống trong đó có nhiều giáo dân làm cho dân số phát triển cơ học ngày một tăng. Do dân số phát triển cơ học ngày một tăng và tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trong giáo dân còn cao (2,45%) đưa số giáo dân trên địa bàn Biên Hòa - Đồng Nai tăng lên không ngừng. Trong vòng hơn 20 năm qua, từ 1974 đến nay số giáo dân trên địa bàn tăng gấp hơn 2 lần.

Từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng đến nay, tín đồ đạo Công giáo ở Đồng Nai ngày càng gắn bó với dân tộc. Giáo dân lúc đầu còn hoang mang lo sợ, nhưng với chính sách đối xử nhân đạo đối với những người có dính líu với chế độ cũ, chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta đã đáp ứng được lòng mong đợi của quần chúng giáo dân, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập của đông đảo quần chúng giáo dân với dân tộc.

Hơn 10 năm đổi mới, với những thành tựu về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và các mặt khác, quần chúng giáo dân ngày càng phấn khởi, tin tưởng vào chính sách của Đảng và Nhà nước, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Có nhiều hộ giáo dân như ở Hố Nai, Tân Biên, Tân Mai (thành phố Biên Hòa), Bắc Sơn, Gia Tân, Gia Kiệm (huyện Thống Nhất) đã đầu tư hàng tỷ đồng phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ... Việc đồng bào Công giáo phấn khởi làm ăn tạo ra những kết quả mới trong đời sống kinh tế, xã hội, mức sống được cải thiện, có vùng được nâng cao rõ rệt. Đã có nhiều hộ làm ăn khá giả, nhiều hộ giàu lên, nhiều hộ làm được nhà kiên cố, có tiện nghi sinh hoạt đắt tiền. Bộ mặt của xứ, họ đạo đổi mới, đường nông thôn, khu phố được mở mang, tu bổ sạch đẹp, cuộc sống cộng đồng ngày một an vui. Nhiều tập thể và cá nhân điển hình trong các phong trào quần chúng, nhất là các hoạt động từ thiện xã hội như: xóa đói giảm nghèo, cứu trợ thiên tai, giúp đỡ người cô đơn, tàn tật, đền ơn đáp nghĩa, xã hội hóa giáo dục, giao thông nông thôn...

Do đời sống được cải thiện và từng bước nâng cao, giáo dân có điều kiện xây dựng, tu bổ lại nhà thờ, nhà nguyện. Hầu hết các nhà thờ xây dựng tạm bợ thời chiến tranh đều được trùng tu, hoặc xây dựng lại với qui mô rộng lớn hơn, khang trang, hiện đại hơn. Sinh hoạt lễ nghi tôn giáo ngày một đông vui. Đại đa số giáo dân có thể tìm thấy tinh thần đạo thực sự của mình ở chính ngay trong việc "hòa mình gắn với dân tộc, với vận mệnh quê hương". Dấn thân phục vụ cùng với toàn dân xây dựng xã hội mới là con đường tất yếu tạo nên "bộ mặt mới, vị thế mới" trong cộng đồng dân tộc để duy trì và phát triển đạo.

Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng có những thay đổi quan trọng. Năm 1980 Hội đồng giám mục Việt Nam ra Thư chung tỏ thái độ tuân thủ chính sách pháp luật của Nhà nước, đoàn kết cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường hướng "Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào". Tuy nhiên, thực hiện đường hướng nói trên là một quá trình lâu dài. Vì lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam trước kia như Hội đồng giám mục Việt Nam đã thừa nhận: "luôn xen lẫn ánh sáng và bóng tối". Những bóng tối đầy máu và nước mắt, đầy băn khoăn trăn trở trong lòng người Công giáo Việt Nam, sống trong lòng dân tộc mà không hoàn toàn thuộc về dân tộc. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ngày 30 - 4 - 1975 "đã mở ra một vận hội lịch sử mới" cho giáo hội Công giáo Việt Nam.



([1][10]) Địa chí văn hóa Thành phố Hô Chí Minh   -   Tập I, phần lịch sử, Nxb. TP. HCM 1997, tr. 143

([2][11]) Lịch sử Công giáo Nam bộ (thế kỷ XVI   -   XVII   -   XVIII). Nguyệt san Công giáo và dân tộc số 39, tháng 3   -   1998.

([3][12]) Linh mục Errard (cha Y): Phước Tuy máu lửa   -   tài liệu của giáo hội xuất bản 1960, tr. 8

([4][13]) Công giáo Nam bộ: Những ngày đầu thành lập giáo phận Sài Gòn (1844   -   1859). Nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 43, tháng 7   -   1998.

([5][14]) Cao Huy Thuần: Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam  -  Xuất bản tại Paris năm 1930, tr. 148.

([6][15]) Giáo sư Mạc Đường - tham luận tại Hội nghị: "Một số vấn đề lịch sử đạo Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam". Năm 1988 tại TP. HCM.

([7][16]) Cao Huy Thuần: (sách đã dẫn), tr. 149.

Comments