2.2.3. Đạo Tin Lành

a) Khái quát:

Đạo Tin Lành là một tôn giáo cải cách, tách ra từ đạo Công giáo từ thế kỷ XVI ở châu Âu. Đạo có đường hướng hoạt động năng động, luôn luôn đổi mới từ nội dung đến hình thức để thích nghi với hoàn cảnh xã hội của mọi quốc gia dân tộc mà đạo truyền đến, đặc biệt là chủ trương "nhập thế" lấy hoạt động xã hội làm phương tiện, điều khiển để thu hút tín đồ.

Đạo Tin Lành truyền vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do tổ chức Tin Lành Liên hiệp Phúc âm và Truyền giáo Mỹ (CMA) thực hiện. Những năm đầu truyền đạo ở Việt Nam, CMA gặp nhiều khó khăn về chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, trong đó phải kể đến sự chèn ép, cấm cách của Pháp. Mãi đến năm 1911, CMA mới đặt được cơ sở Hội thánh đầu tiên, rất ít tín đồ ở Đồng Nai, chỉ phát triển từ năm 1954 đến năm 1975.

Đạo Tin Lành truyền vào Đồng Nai chưa lâu, số lượng tín đồ ít, đến nay toàn tỉnh có 8530 tín đồ thuộc 16 hội thánh với 16 thánh đường và 12 tụ điểm nằm rải rác trên khắp các địa bàn từ thành phố, nông thôn đến các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đạo Tin Lành ở Đồng Nai đã trở thành một tôn giáo tương đối hoàn chỉnh, lại có mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng nên có điều kiện để tiếp tục phát triển.

Về tổ chức, đạo Tin Lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo, mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với các hình thức khác nhau tùy theo hệ phái, hoặc theo từng quốc gia. Trong cơ cấu tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin Lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở: chi hội, các cấp hội thánh bên trên hình thành phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cho phép. Trước năm 1975, tổ chức hội thánh Tin Lành miền Nam có 3 cấp: tổng liên hội, địa hạt, chi hội (hay hội thánh cơ sở). Các chi hội ở Đồng Nai thuộc địa hạt miền Đông Nam bộ. Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, đạo chưa xây dựng được tổ chức giáo hội bên trên cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới, các hội thánh cơ sở đều độc lập, nhưng với tinh thần đồng đạo, tín đồ các hội thánh vẫn có mối quan hệ tình cảm với nhau, chịu sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau và được phép cử đại diện phối hợp giữa các Hội thánh trong tỉnh để tiến hành một số hoạt động chung như tổ chức bồi linh, mở các lớp giáo lý, các hoạt động từ thiện xã hội

b)  Quá trình phát triển qua các thời kỳ:

+ Từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1954:

Năm 1915, sau khi chiến tranh thế giới nổ ra, mượn cớ các giáo sĩ Tin Lành Mỹ làm gián điệp cho Đức, trong lúc đó Pháp đánh nhau với Đức, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương cấm các giáo sĩ CMA hoạt động. Để tránh sự kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, các giáo sĩ CMA từ Sài Gòn lẻn về Đồng Nai truyền giáo. Từ năm 1915 đến năm 1923 đã có một số người ở Biên Hòa theo đạo, CMA thuê một căn nhà ở Biên Hòa làm nơi giảng đạo và sinh hoạt tôn giáo. Năm 1924, CMA lập được Hội thánh ở Biên Hòa, Hội thánh đầu tiên ở Đồng Nai. Thời kỳ Nhật xâm chiếm Việt Nam, Nhật cấm đạo Tin Lành hoạt động, đạo không phát triển được. Suốt quá trình truyền giáo vào Đồng Nai từ năm 1915 đến năm 1954, đạo Tin Lành ở Đồng Nai chỉ có 1746 tín đồ với 5 hội thánh ở Biên Hòa, Long Thành, Long Khánh, Định Quán thuộc tổng liên hội Tin Lành Việt Nam.

+ Từ năm 1954 đến năm 1975:

Sau hiệp định Genève về Việt Nam (1954) CMA đẩy mạnh hơn bao giờ hết việc đầu tư tiền của, phương tiện, đội ngũ giáo sĩ... giúp tổng liên hội hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) gọi tắt là Hội thánh Tin Lành miền Nam, xây dựng hệ thống tổ chức, mở rộng các cơ sở tôn giáo, kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều nơi, củng cố và mở rộng các cơ sở đào tạo giáo sĩ, xây dựng Trường thánh kinh học viện Nha Trang và mở 2 Trường thánh kinh cho Tây Nguyên. Mặc dù trên danh nghĩa Hội thánh Tin Lành miền Nam là một tổ chức độc lập, nhưng mối quan hệ giữa CMA với Hội thánh Tin Lành miền Nam được thiết lập chặt chẽ. CMA lập ban Trị sự đặt bên cạnh tổng liên hội là "thuộc viên" của CMA. Một số giáo sĩ CMA được đưa vào miền Nam bố trí ở các cấp Tổng Liên hội, các địa hạt và các địa bàn quan trọng để phối hợp hoạt động.

Trong giai đoạn này, đạo Tin Lành đặc biệt chú trọng hướng hoạt động truyền giáo đến các vùng dân tộc thiểu số, nơi chưa có một tôn giáo chính thống hoặc tôn giáo đang suy thoái, nơi trình độ dân sinh, dân trí còn thấp. Truyền giáo ở vùng này, đạo Tin Lành không những biết thích nghi với phong tục tập quán của địa phương, mà còn tiếp tục đơn giản luật lệ, lễ nghi cách thức hành đạo vốn rất đơn giản, dễ dàng hòa nhập với văn hóa, tâm lý, lối sống của người dân, từ đó lôi cuốn họ vào đạo. Tổng Liên hội Tin Lành miền Nam có "bộ phận truyền đạo cho người Thượng". Nó được quyền ưu tiên và có quy chế đặc biệt. Các giáo sĩ người dân tộc thiểu số được tuyển chọn đào tạo công phu. Ở Đồng Nai có 16 mục sư và truyền đạo, trong đó có 5 truyền đạo là người dân tộc thiểu số, phụ trách các hội thánh của người dân tộc thiểu số.

 Sau hơn 20 năm từ năm 1954 đến năm 1975, đạo Tin Lành ở Đồng Nai phát triển nhanh chóng, số tín đồ và hội thánh cơ sở tăng gấp 3 lần năm 1954, đặc biệt là xây dựng được nhiều cơ sở truyền giáo ở vùng dân tộc thiểu số.

Trong thời kỳ này ngoài hai hệ phái Tin Lành đã có từ trước là hội thánh Tin Lành miền Nam (thuộc CMA) và Cơ đốc Phục lâm, còn có 25 hệ phái, tổ chức tôn giáo xã hội quốc tế, chủ yếu là thuộc các hệ phái Tin Lành ở Mỹ và truyền giáo, xây dựng cơ sở ở miền Nam. Trên địa bàn Đồng Nai có các hệ phái: Cơ đốc Phục lâm, Báp - tít, Trưởng lão, Ngũ tuần, vào hoạt động truyền giáo, nhưng chỉ xây dựng được 3 cơ sở truyền giáo ở Biên Hòa, Long Khánh, Định Quán với 65 tín đồ. Năm 1960, một mục sư người Mỹ bỏ tiền của và đứng tên xây dựng thánh đường của phái này ở phường Quang Vinh, Biên Hòa.

+ Từ sau ngày 30 - 4 - 1975 đến nay:

Sau giải phóng, số giáo sĩ người Mỹ và nước ngoài, một số mục sư, truyền đạo người Việt là tuyên úy quân đội Sài Gòn chạy ra nước ngoài. Các hệ phái, tổ chức Tin Lành mới vào Đồng Nai truyền giáo sau năm 1954 cũng rời khỏi Đồng Nai, kể cả phái Cơ đốc Phục lâm có một thánh đường do người Mỹ xây dựng, mục sư này cũng bỏ ra nước ngoài, thánh đường không sử dụng nữa. Ở Đồng Nai chỉ còn lại hội thánh Tin Lành Việt Nam, lực lượng truyền giáo giảm. Nhưng với phương thức truyền đạo năng động, thích nghi với mọi hoàn cảnh xã hội, đạo Tin Lành ở Đồng Nai tiếp tục được củng cố và phát triển, nhất là sau khi mối bang giao với nước ngoài mở rộng, được sự chi viện của các hệ phái, tổ chức Tin Lành ở nước ngoài, hội thánh Tin Lành Việt Nam tích cực củng cố tổ chức, phát triển lực lượng bằng nhiều hình thức vừa linh hoạt vừa mềm dẻo. Hội thánh Tin Lành Việt Nam tiếp tục tập trung vào vùng dân tộc thiểu số và mở rộng ra các vùng sâu, vùng xa, các vùng kinh tế mới còn nhiều khó khăn để truyền giáo, hình thành các tụ điểm và các tổ chức hội thánh cơ sở mới.

Các tổ chức, hệ phái Tin Lành khác, sau khi giải phóng rời khỏi Đồng Nai, nay cũng vào Đồng Nai tìm cách khôi phục lại các cơ sở đã bị tê liệt để truyền giáo. Phái Cơ đốc Phục lâm đã khôi phục được tụ điểm sinh hoạt tôn giáo ở xã Phước Thái (Long Thành) với gần 200 tín đồ; một số tín đồ ở Phú Túc (Định Quán) và ở các phường nội ô thành phố Biên Hòa cũng trở lại sinh hoạt tôn giáo. Các hệ phái trên còn lôi kéo cả mục sư, truyền đạo và tín đồ của hội thánh Tin Lành Việt Nam và tín đồ đạo Công giáo theo hệ phái của họ.

Tín đồ đạo Tin Lành lúc đầu phần lớn là tầng lớp: tiểu thương, tiểu chủ, trí thức, thanh niên học sinh, cơ sở xã hội chưa sâu rộng như các tôn giáo khác, nhưng sau này đạo Tin Lành mở rộng phát triển ảnh hưởng của mình đến những vùng xa, vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Comments