2.2.4. Đạo Cao Đài

a) Khái quát chung:

Vào những năm 20 của thế kỷ này, đạo Cao Đài đã xuất hiện trong thời điểm lịch sử khá đặc biệt. Nhân dân Việt Nam, trong đó nhân dân Nam kỳ cùng cảnh ngộ bị chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp áp bức bóc lột nặng nề. Các phong trào khởi nghĩa của nông dân và sĩ phu yêu nước nổi lên nhiều nơi, nhưng đều bị bọn thống trị và tay sai đàn áp khốc liệt nên đều thất bại, không tìm được lối thoát. Lòng khao khát một sự giải thoát về tinh thần trước tình cảnh ngày càng khốn cùng đó đã trở thành nhu cầu của đông đảo nhân dân. Khi người ta không tìm ra được lối thoát cho cuộc sống hiện tại thì không tránh khỏi trông mong vào sự giải thoát ở đời sau bằng con đường tìm đến tôn giáo. Sự xuất hiện của đạo Cao Đài mà nhiều người ở Nam kỳ nghĩ đây là đạo mới, đạo may ra là cứu cánh, sự giải thoát cho con người trong cảnh khốn cùng. Đạo Cao Đài ra đời và phát triển trong bối cảnh đó.

Năm 1926, đạo Cao Đài ra đời tại Tây Ninh đã có hơn 10 ngàn tín đồ. Nhưng chỉ sau 4 năm, năm 1930 số tín đồ đã tăng lên gần nửa triệu. Mặc dù đạo Cao Đài mới ra đời tồn tại ở một số địa phương và trong quá trình phát triển có những yếu tố chính trị phức tạp, nhưng đạo Cao Đài có những thành tố của một tôn giáo: có hệ thống giáo lý, luật lệ, lễ nghi, đội ngũ chức sắc, chức việc, tổ chức giáo hội, cơ sở thờ tự ở các tỉnh Nam bộ và Trung bộ. Đạo mang tính chất quần chúng rộng rãi (hiện có khoảng hơn 2 triệu tín đồ), mức độ tín ngưỡng sâu sắc.

Năm 1926, đạo Cao Đài chính thức ra đời thì năm 1927 đã xây dựng được cơ sở đầu tiên ở vùng Đất Đỏ (Long Đất) do chánh phối sư Nguyễn Ngọc Tương lúc đó là viên chức làm việc cho chính quyền Pháp ở Xuyên Mộc đứng đầu. Từ đó, phát triển ra Châu Thành, Long Thành, Biên Hòa và các huyện khác trên địa bàn Đồng Nai (nay là Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai).

Khi mới ra đời, đạo Cao Đài là một tổ chức thống nhất với cơ quan đầu não là Tòa thánh Tây Ninh. Nhưng đến năm 1945, đạo Cao Đài chia thành 12 hệ phái, mỗi hệ phái đều có tổ chức giáo hội riêng. Trong thời kỳ Mỹ xâm lược miền Nam, đạo Cao Đài tiếp tục phân hóa thành nhiều tổ chức hệ phái khác. Mỗi hệ phái có xu hướng hành đạo và thái độ chính trị khác nhau. Có thể nói quá trình phát triển của đạo Cao Đài là quá trình chia rẽ về tổ chức và phân hóa về thái độ chính trị. Trước đây tuy một số chức sắc trong một số phái Cao Đài mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, bị các thế lực đế quốc, phản động mua chuộc lôi kéo, bôi nhọ thanh danh của đạo, đi ngược lại sự nghiệp của toàn dân, nhưng đa số quần chúng tín đồ và một số chức sắc đạo Cao Đài nhất là các phái Cao Đài Ban chỉnh đạo, Cao Đài Tiên thiên... có những đóng góp xứng đáng cho dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Sau giải phóng một số tín đồ trở về quê cũ hoặc đi nơi khác làm cho số tín đồ ở Đồng Nai giảm. Đạo Cao Đài ở Đồng Nai hiện có 24 thánh thất, 7 điện thờ Phật mẫu với 9652 tín đồ thuộc 4 hệ phái, trong đó phái Tây Ninh có đông tín đồ nhất. Các phái Cao Đài được truyền vào Đồng Nai ở các thời điểm khác nhau và phát triển cũng khác nhau trong từng thời kỳ.

b) Quá trình phát triển qua các thời kỳ của các phái Cao Đài ở Đồng
 Nai:

+ Cao Đài Ban chỉnh đạo:

Phái Cao Đài Ban chỉnh đạo tách ra khỏi Tòa thánh Tây Ninh từ năm 1934, đi theo giáo tông Nguyễn Ngọc Tương, một viên chức có lòng yêu nước. Tuy là chức sắc cao cấp của Cao Đài, nhưng bất bình trước một số chức sắc cao cấp ở Tòa thánh Tây Ninh làm tay sai cho Pháp chống lại nhân dân, ông về Bến Tre lập hội thánh Ban chỉnh đạo, ý là để chỉnh đốn lại đạo. Đạo Cao Đài ở Đồng Nai cũng do ông truyền vào và xây dựng nên khi ông đứng ra thành lập phái Cao Đài Ban chỉnh đạo thì khoảng một nửa tín đồ Cao Đài ở Đồng Nai này tách ra đi theo phái Cao Đài Ban chỉnh đạo do ông là giáo tông.

Là một chi nhánh của Cao Đài Tây Ninh tách ra, nhưng phái Cao đài Ban chỉnh đạo có những nét tiến bộ về mặt tôn giáo và đi với dân tộc về mặt chính trị. Từ khi ra đời, đạo Cao Đài chủ yếu dựa vào "thánh ngôn, thánh giáo, thần quyền, cơ bút", nhưng phái Ban chỉnh đạo ngay từ khi ra đời đã công khai tuyên bố không sử dụng cơ bút làm phương tiện hành đạo và điều khiển Hội thánh. Phương thức hành đạo chủ yếu dựa theo nghị quyết dân chủ công khai. Điều đó không chỉ biểu hiện ở sự nghiệp đạo đức của giáo tông Nguyễn Ngọc Tương, mà còn thể hiện yếu tố yêu nước, thương nòi, đi với dân tộc của phái Ban chỉnh đạo.

Lập trường tiến bộ và cởi mở của giáo tông thể hiện qua việc thu nhận và phong chức cao cấp trong đạo cho những người tham gia cách mạng và cả một số trường hợp có án tù chính trị chống Pháp để có điều kiện tập hợp quần chúng tín đồ đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của đế quốc, thực dân và bọn phản động tay sai. Ngược lại, ông ra lệnh bãi miễn các chức sắc theo Pháp, theo Nhật chống lại nhân dân. Lập trường yêu nước, đi với dân tộc của giáo tông thể hiện cao đẹp nhất trong việc ông đã cho hai người con trai của mình theo kháng chiến, một là phó tư lệnh chiến khu 9 và một là ủy viên Ủy ban kháng chiến Nam bộ. Đồng thời giáo tông cũng tán thành chủ trương lập Cao Đài cứu quốc Trung ương mà Nguyễn Ngọc Nhật con trai ông làm phó chủ tịch để cùng với toàn dân kháng chiến cứu nước. Lập trường yêu nước, đi với dân tộc của phái Ban chỉnh đạo đứng đầu là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương còn được khẳng định rõ bằng chủ trương tẩy chay việc thành lập quân đội Cao Đài năm 1945, thực chất là quân đội tay sai của phát xít Nhật.

Thái độ yêu nước về mặt chính trị và tiến bộ về mặt tôn giáo của phái Cao Đài Ban chỉnh đạo đã góp phần không nhỏ làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo của đế quốc, thực dân, gạt bỏ các phần tử tay sai muốn lũng đoạn các phái Cao Đài tiến bộ.

Trong thời kỳ 1954 - 1975, do sự đàn áp, khủng bố của Mỹ - ngụy một số chức sắc, chức việc Cao Đài Ban chỉnh đạo chạy về Sài Gòn lập Cao Đài Ban chỉnh đạo Đô thành, số còn ở lại trở thành Cao Đài Ban chỉnh đạo Bến Tre. Nhưng ở Đồng Nai các họ đạo và đa số tín đồ dù ở đô thị hay nông thôn đều thuộc về Cao Đài Ban chỉnh đạo Đô thành. Trong thời kỳ này, mặc dù Mỹ - ngụy tìm mọi cách lôi kéo, thao túng các hệ phái, một số chức sắc Cao Đài Ban chỉnh đạo ngả theo Mỹ - ngụy, nhưng đa số chức sắc, tín đồ Cao Đài Ban chỉnh đạo tiếp tục đóng góp sức người, sức của cho cách mạng.

Trên địa bàn Đồng Nai (bao gồm cả tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay) chỉ có 10 họ đạo với 5670 tín đồ, đã có 251 người tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, có 192 người đã anh dũng hy sinh được công nhận là liệt sĩ. Phái Cao Đài Ban chỉnh đạo ở Đồng Nai rất tự hào về việc các tín đồ phái mình tham gia kháng chiến, trong đó có đại tá Nguyễn Thanh Hồng.

Từ tấm lòng yêu nước, gắn bó với dân tộc của giáo tông Nguyễn Ngọc Tương, đến sự ra đời của tổ chức Cao Đài cứu nước, phái Cao Đài Ban chỉnh đạo đã làm trong sáng đường lối hành đạo của giáo tông vào thực tiễn của đất nước ta. Ngày 8 - 12 - 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trao tặng huân chương Kháng chiến hạng nhất cho gia đình giáo tông Nguyễn Ngọc Tương và huân chương Kháng chiến hạng hai cho hội thánh Cao Đài Ban chỉnh đạo.

Phát huy truyền thống yêu nước, đi với dân tộc, từ sau ngày giải phóng đến nay, phái Cao Đài Ban chỉnh đạo ở Đồng Nai không những tích cực tham gia cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh chống bọn phản động và các phần tử xấu trong các phái Cao Đài để bảo vệ và đưa các phái Cao Đài trở về với dân tộc.

+ Cao Đài Tây Ninh:

Mặc dù người đầu tiên tổ chức truyền giáo và xây dựng cơ sở đạo Cao Đài ở Đồng Nai là chánh phối sư Nguyễn Ngọc Tương, một chức sắc cao cấp có tinh thần yêu nước, sau tách ra lập Cao Đài Ban chỉnh đạo, nhưng Tòa thánh Tây Ninh vẫn phái chức sắc của mình về Đồng Nai nắm tín đồ, xây dựng tổ chức Cao Đài Tây Ninh ở đây. Trên địa bàn Đồng Nai phái Tây Ninh chỉ có 10 thánh thất với 7861 tín đồ. Tòa thánh Tây Ninh đã xây dựng một hệ thống tổ chức gồm 1 khâm trấn (bao gồm Đồng Nai và Bình Thuận) 3 châu đạo, 8 tộc đạo, 32 họ đạo và 41 hương đạo với 379 chức sắc, chức việc.

Cao Đài Tây Ninh là một phái lớn, liên tục có sự phân hóa mạnh mẽ về khuynh hướng. Trong khi đa số tín đồ và một số chức sắc có tinh thần yêu nước tham gia các phong trào chống Pháp thì một số chức sắc thống lĩnh tối cao tại tòa thánh Tây Ninh lại hợp tác với Pháp. Khi Nhật đổ quân vào miền Nam, họ lại ngả về phía phát xít Nhật, dựa vào quân đội Nhật để phát triển tín đồ và mở rộng địa bàn hoạt động. Bốn năm sau (1945) Nhật đầu hàng Đồng minh, Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Với khí thế sôi sục, mọi người Việt Nam yêu nước đều hăng hái đứng lên giành chính quyền. Lúc bấy giờ đông đảo tín đồ cùng với một số chức sắc cùng nhân dân giành chính quyền ở các địa phương, tham gia Mặt trận Việt Minh.

Pháp dựa vào quân đội Anh trở lại xâm lược nước ta, nhân dân Nam bộ đứng lên ngăn cản bước tiến của quân Pháp, tiếng súng Nam bộ kháng chiến nổ ra ở khắp nơi. Nhiều tín đồ Cao Đài đứng trong hàng ngũ Việt Minh cầm súng, cầm giáo mác kháng chiến chống Pháp. Những người cầm đầu Cao Đài Tây Ninh rất hoang mang dao động, bề ngoài tỏ ra hợp tác với Mặt trận Việt Minh, nhưng thật sự bên trong họ vẫn giữ nguyên quân đội Cao Đài và bí mật hợp tác với Pháp. Năm 1946, Phạm Công Tắc được Pháp đưa về tòa thánh Tây Ninh thì quân đội Cao Đài được Pháp trang bị vũ khí và nuôi dưỡng, đã công khai dựa vào Pháp đánh phá ác liệt vùng tự do. Ở Đồng Nai, phái Cao Đài Tây Ninh triển khai đóng đồn bốt, càn quét gom dân lập các châu đạo và các "khu chu vi quốc gia" do họ kiểm soát ở Tân Vạn, Bửu Hòa, Bến Gỗ.

Mỹ thay chân Pháp xâm lược miền Nam, những người cầm đầu Cao Đài Tây Ninh lại lèo lái Cao Đài Tây Ninh theo con đường làm hậu thuẫn chính trị cho Mỹ và chính quyền tay sai tiếp tục chống lại nhân dân.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đáng lẽ họ phải thức thời trở về với nhân dân, trở về con đường tu hành chân chính. Nhưng một số chức sắc và sĩ quan quân đội Cao Đài cũ vẫn nuôi mộng dựa vào đế quốc và bọn phản động ở nước ngoài tiếp tục chống phá cách mạng. Chúng gieo rắc tư tưởng phản động, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý gây hoang mang trong quần chúng tín đồ và ngầm lập ra các tổ chức phản động, xây dựng lực lượng vũ trang hòng chờ thời cơ phối hợp với đế quốc và bọn phản động ở nước ngoài gây bạo loạn phản cách mạng, lật đổ chế độ.

Để ngăn chặn hành vi phạm pháp của bọn phản động và các phần tử xấu trong phái Cao Đài Tây Ninh, đồng thời để giúp những tín đồ tu hành chân chính thoát ra khỏi sự khống chế kìm kẹp của chúng, chính quyền Tây Ninh và các tỉnh có tín đồ Cao Đài Tây Ninh đưa ra công khai những hoạt động nguy hại đến an ninh quốc gia, phá hoại đạo của bọn chúng trước ánh sáng của luật pháp và dư luận của chức sắc, tín đồ. Đa số quần chúng tín đồ nhận rõ những hành vi phạm tội của một số chức sắc và sĩ quan quân đội Cao Đài cũ, đứng lên đấu tranh giành lại quyền kiểm soát hội thánh Cao Đài Tây Ninh, đưa đạo đi vào con đường trở về với dân tộc.

Đến nay, chức sắc và tín đồ Cao Đài Tây Ninh đã tổ chức được Đại hội đại biểu thông qua hiến chương và điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử. Đại hội đã công cử được các chức sắc và chức vụ của cơ quan thường trực hội thánh Đại đạo Tam kỳ Phổ độ Cao Đài Tây Ninh. Tổ chức giáo hội đã được chính quyền công nhận tư cách pháp nhân, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Từ đây mở ra trang sử mới của phái Cao Đài Tây Ninh để cho quần chúng tín đồ yên tâm "phụng đạo, yêu nước", làm cho "nước vinh đạo sáng".

+ Cao Đài Trung Việt Truyền giáo:

Sau những năm 1930, một số trí thức, sinh viên, học sinh các tỉnh miền Trung vào Sài Gòn làm ăn sinh sống và học tập đã tiếp nhận đạo Cao Đài và phát triển thành Cao Đài Trung Việt Truyền giáo (nay đổi thành Truyền giáo Cao Đài). Tòa thánh trung tâm đặt tại Đà Nẵng, tín đồ tập trung chủ yếu ở Quảng Nam, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung, các tỉnh Đông Nam bộ tín đồ Truyền giáo Cao Đài ít. Tại Đồng Nai chỉ có thánh thất và tổ chức hội thánh ở Suối Nghệ, Châu Thành (nay là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Có gần 100 tín đồ nằm rải rác ở các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành trực thuộc ban trị sự hội thánh Suối Nghệ.

Từ năm 1975 đến nay, tín đồ Truyền giáo Cao Đài từ các tỉnh miền Trung vào Đồng Nai làm ăn sinh sống, tự hình thành các xã đạo: Xuân Thọ, Xuân Trường (Xuân Lộc), Cẩm Mỹ (Long Khánh), La Ngà (Định Quán), Dầu Giây (Thống Nhất), Bình Sơn (Long Thành), Cây Gáo (Vĩnh Cửu) và phát triển được một số tín đồ ở Đồng Nai lên 526 người.

Tháng 7 năm 1996, Truyền giáo Cao Đài tổ chức hội nhân sinh thông qua đạo qui và tổ chức nhân sự hội thánh. Hội thánh Truyền giáo Cao Đài đã được Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận tư cách pháp nhân hoạt động theo chính sách, pháp luật của Nhà nước.

+ Cao Đài Tiên thiên:

Năm 1934, một số chức sắc về Mỹ Tho lập “Cao Đài Thiên thai tịnh” sau dời về Bến Tre đổi là Cao Đài Tiên thiên. Trong thời kỳ chống Pháp phái Cao Đài Tiên thiên tham gia tổ chức “Cao Đài cứu quốc 12 phái hợp nhất" để động viên chức sắc, tín đồ tham gia kháng chiến. Năm 1955, Cao Đài Tiên thiên phối hợp với các lực lượng yêu nước trong các phái khác đấu tranh chống Mỹ - Diệm, đòi thi hành hiệp định Genève, chống khủng bố đạo Cao Đài....

Tòa thánh trung tâm của Cao Đài Tiên thiên ở Bến Tre, tín đồ tập trung chủ yếu ở Bến Tre, Long An, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Trước năm 1975, ở Đồng Nai chỉ có vài chục tín đồ ở huyện Tân Phú. Sau năm 1975, tín đồ Cao Đài Tiên thiên ở Bến Tre, Long An, và Thành phố Hồ Chí Minh về Đồng Nai làm ăn sinh sống ở các vùng kinh tế mới, các lâm trường huyện Tân Phú, hình thành các cụm dân cư, tín đồ Cao Đài Tiên thiên ở Đồng Nai lên gần 400 người. Năm 1993, xây dựng thánh tịnh ở xã Phú Bình (Tân Phú) và thành lập họ đạo của liên xã trong huyện, bầu ban cai quảnban trị sự để cai quản thánh tịnh, hướng dẫn tín đồ tu học hành đạo và làm phước thiện.

Tháng 2 - 1995, Cao Đài Tiên thiên tổ chức hội Vạn Ninh thông qua hiến chương và suy cử chức sắc vào cơ quan thượng hội và ban thường trực hội thánh Cao Đài Tiên thiên. Hội thánh Cao Đài Tiên thiên đã được Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận tư cách pháp nhân, nội dung và phạm vi hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước.

Comments