1. Văn học dân gian

Từ buổi đầu khai phá vùng đất phương Nam, Đồng Nai - mà cụ thể là miệt dưới hạ lưu của sông Đồng Nai, Mỗi Xuy - Bà Rịa - là địa đầu của cuộc Nam tiến. Rồi sau đó không lâu, sự phát triển của trung tâm thương mại Cù Lao Phố, thì vùng đất này trở thành xứ đô hội đầu tiên ở phương Nam, theo đó, văn hóa Đồng Nai đã bộc phát thành tố văn hóa đô thị và đến năm 1715, cái mốc lập Văn Thánh miếu Trấn Biên dinh thì nơi đây đã thật sự là một trung tâm văn hóa cho cả phủ Gia Định hồi đó. Đây là thời điểm ẩn chứng tầm mức quan trọng trong tiến trình lịch sử - văn hóa của Đồng Nai. Tuy nhiên, vị trí quan yếu và vai trò trung tâm của vùng đất địa đầu này kéo dài không lâu. Vì công cuộc khẩn hoang đã nhanh chóng tiến dần về Bến Nghé - Sài Gòn, rồi sông Tiền - sông Hậu... nên yêu cầu thực tế của thời cuộc cần một trung tâm mới. Vả lại, từ cuối thế kỷ XVIII, nhất là sau biến cố năm 1776, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề đã trực tiếp thúc đẩy tốc độ phát triển của Bến Nghé - Sài Gòn (hiểu là Chợ Lớn hiện nay) và đã giành lấy vị trí vốn có của Cù Lao Phố; và đến cuối thế kỷ XVIII, Bến Nghé - nơi dựng thành Gia Định (thành Bát Quái, thành Qui) - đã mang danh nghĩa là “Gia Định Kinh" thì Trấn Biên dinh rõ ràng là đã trở thành thứ yếu. Tình hình này đã tạo nên một sự đứt gãy trong tiến trình văn hóa, đặt biệt là tính chất đô thị của văn học Đồng Nai. Điều này giải thích sự thiếu vắng đến mức hiếm hoi các tác giả văn học viết Hán - Nôm so với vùng đất Phiên An (Gia Định - Sài Gòn) cũng như sự biến đổi trong cách thức phát triển văn học dân gian. Giờ đây, văn học dân gian lại trở lại với khuôn khổ các hoạt động và hình thức diễn xướng dân gian của của làng xã nông thôn - nông nghiệp. Tính chất thành thị thực chất là lỵ sở hành chính với các nhóm thợ thủ công mà qui mô phát triển chưa trở thành phường hội thậm chí là hoạt động kinh tế phụ trong thời nông nhàn.

Hát bội, từ Thuận Quảng du nhập vào, đã phát triển mạnh đến mức, cuối thế kỷ XVIII, Chúa Nguyễn đã sai người vào “Trấn Biên bắt ca nhi". Thế nhưng từ đó về sau vẫn không thấy một tác giả kịch bản tuồng nào. Các quan lại, các ông đồ và sư sãi gửi gắm những ý tưởng của mình vào liễn đối ở đình chùa, đền miếu là chủ yếu. Văn học dân gian chiếm tỉ trọng quan yếu trong đời sống văn chương ở xứ này...

Thực dân Pháp chiếm Nam kỳ, chữ quốc ngữ La Tinh được thay cho văn tự Hán Nôm. Các ông đồ vẫn còn được trọng dụng để dạy chữ cho những người còn ưu tư với truyền thống đạo lý thánh hiền, nhưng những nỗ lực này cũng chỉ phục vụ cho nhu cầu hoài cổ và sáng tác đối liễn, văn tế - tức là phần văn học miếu vũ và nghi thức tế lễ. Chữ quốc ngữ La Tinh thịnh hành với sự phát triển của báo chí, tiểu thuyết, thơ - tuồng - truyện tích “bổn cũ dọn lại"... Song Biên Hòa cũng chỉ là vùng ven của trung tâm văn hóa Sài Gòn thời thuộc địa. Nói cách khác, sự thịnh hành văn học chữ quốc ngữ của nó là một hệ quả của sự phát triển của Sài Gòn.

Mãi về sau này, bắt đầu Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ và kế đó là Hoàng Văn Bổn, văn học Đồng Nai mới xuất hiện như một đóng góp đáng kể cho văn đàn. Văn học yêu nước và cách mạng Đồng Nai cũng bắt đầu từ đó mà hình thành - phát triển... Trong khi đó, văn học dân gian, sau một thời gian dài phát triển, rất thịnh đạt vào đầu thế kỷ này thì sau 1945 mai một dần cùng với sinh hoạt hò hát, nói vè, nói thơ, nói tuồng để đến nay các hình thức diễn xướng được coi là cái nôi của văn học dân gian chỉ còn được những người lớn tuổi nhắc đến như những kỷ niệm vàng son của thời quá vãng.


Comments