a. Sự tích hợp các mẫu đề thần thoại thời cận đại vào thiên nhiên vùng đất mới.

Đồng Nai là vùng đất mới, thời lượng lịch sử kể từ những lưu dân Việt đến khai phá đến nay chỉ trên 300 năm. Tuy nhiên, văn học dân gian không phải bắt đầu nguồn từ đó, mà là sự nối tiếp những thành tựu từ kho văn học dân gian xa xưa của dân tộc mà trực tiếp và đầu tiên là các văn học dân gian Thuận Quảng được mang theo trong hành trang của những lớp lưu dân Nam tiến. Những hạt giống văn học dân gian này được cấy trồng trên thổ ngơi Đồng Nai trong những năm tháng khai hoang vùng đất mới cách nay trên 300 năm là thời điểm mà trình độ nhận thức về thế giới và xã hội đã khác xa với thời đại thần thoại cổ xưa. Chính vì vậy mà những mẫu đề thần thoại có đặc tính riêng của nó.

a) Một cách tổng quát, toàn cảnh thiên nhiên Đồng Nai, bao gồm núi non, sông hồ được nhận thức dưới cái nhìn mang hơi hám của thuyết phong thủy: đất tứ linh: long, lân, qui, phụng:

Long: Hai ngọn núi Long Ẩn và Bình Điện kết hợp cùng với gò nổi uốn quanh lồi lên, lõm xuống chạy qua các xã Tân Ba, An Thành, Tâm Hiệp, Bình Trị, Hóa An và ngọn núi Châu Thới, gờ đất cấu thành các bộ phận của con rồng khổng lồ nằm vắt ngang dưới lưu vực sông Đồng Nai (chỗ ấp Tân Lại, xã Tân Thành): đầu là núi Long Ẩn, thân rồng là chuỗi gò nỗng nói trên, đuôi vểnh lên là núi Châu Thới. Tư thế rồng quay đầu về hướng Bắc, ngậm trái ngọc châu là núi Bình Điện;

 Lân: là thế đất thuộc ấp Lân Thành (xã Bình Trước, Tp. Biên Hòa): Đầu là núi Đất quay về hướng Bắc; lưng trải ra trung tâm ấp, oằn xuống là vùng đất thấp; và Gò Me (cận sông Sa Hà, rạch Cát) là chóp đuôi vảnh lên;

Qui: là hình thể của Cù Lao Rùa (Qui Dự).

Phụng: là hình dáng của thế đất thuộc xã Long Thạnh Mỹ (nay thuộc huyện Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh) cấu thành hình dáng phụng xòe cánh... (1).

Nói chung, địa hình địa thế, núi non sông rạch ở đất Đồng Nai được định dạng hay được nhìn nhận theo hướng phong thủy nhằm xác định đó là vùng "địa linh" vì nơi đây sản sinh ra được những "nhân kiệt".

Rõ ràng quan niệm như vậy đã trở nên thời thượng trong tư duy của thời đại mà thiên nhiên không còn được nhận thức bằng nếp nghề thần kỳ hồn nhiên nữa.

b) Sự lý giải về tự nhiên, trên cơ sở những tri thức của thời kỳ cách đây trên dưới 300 năm về đại thể là người dân Đồng Nai đã bỏ qua hiện tượng thiên nhiên mà phần nào họ có thể cắt nghĩa theo một quan niệm nào đó: hoặc là quan niệm về sự hình thành vũ và trụ theo dịch lý của Nho Lão, hoặc quan niệm về thế giới của đạo Phật. Còn lại những gì đặc biệt kỳ quặc mới họ buộc phải giải thích. Đó là những tảng đá, khối đá có hình dáng giống một vật dụng nào đó; (lư nhang đá, nồi đá ở sông Buông, Phước Tân) hay là những hàng đá nổi lên giữa sông: Hàng Heo (rạch Bà Hào), hàng Ông Sâm, hàng Nghê... Nói chung, đây cũng là cách giải thích giản đơn theo kiểu “coi mặt đặt tên" mà còn xa mới khả dĩ coi là một mẫu đề dân gian, tuy vậy, ở đó lại đọng lại cái chất thiêng liêng mà thế nhân coi là do một bàn tay vô hình nào đó trong quá khứ xa xăm tạo tác để ấn chứng rằng các nơi đó là vùng “địa linh", để buông thả tâm linh họ vào cõi vô vi, bất khả tư nghị...

c) Trong các địa danh dân gian đó, nổi lên một số sự tích mà tiêu biểu là truyền thuyết về Thác Vọng Phu (ở Hàn Bảy Đá/ Thất Thạch Thang) ở gần xóm Bàu Cát (Trị An). Ở câu chuyện này, mẫu đề người vợ thương chồng hóa “đá” vốn phổ biến từ Trung Bắc một lần nữa lại tích hợp vào nơi thác nước thượng nguồn sông Đồng Nai, con sông mà các dân tộc bản địa gọi là sông Mẹ/Đạ Đơờng gắn với nhiều huyền tích thiêng liêng trong kho tàng thần thoại sử thi của họ, nhất là người Mạ. Chính vì vậy mà truyền thuyết Thác Vọng Phu, mặc dù là truyện dân gian của người Việt, nhưng lại đậm sắc thái sơn cước và hàm hỗn một phong cách hoang sơ của các núi rừng Mạ - Chơn. Phải chăng đó là kết quả sự giao lưu văn hóa của người Việt ở Đồng Nai với các dân tộc bản xứ, vốn cùng cộng cư và tiếp xúc thường xuyên từ buổi đầu khai hoang đến lúc thôn làng đã được thành lập. Biểu hiện ở mức độ ảnh hưởng đậm hơn là một môtip trai gái thi nhau đắp núi trong truyện Ông Châu Thới và Bà Rịa:

Thuở ấy, ông Châu Thới và Bà Rịa không ai chịu nhường ai là anh là chị. Thế là họ thách nhau thi tài đắp núi. Ông Châu Thới ỷ mình là nam nhi nên không chú tâm mấy. Đến khi thấy Bà Rịa đắp ngọt núi cao vút thì mới vội vã xén một xén đất để đắp núi ngay. Chẳng may, trong lúc vội vàng, đất rơi tung tóe thành năm ngọn tạo nên cụm núi Nưa (Bà Trao, Long Sơn). Đất bị phân tán nên năm ngọn núi này thấp lè tè, không ngọn nào cao hơn núi Bà Rịa. Thế là ông Châu Thới từ đó chịu làm em Bà Rịa" ([1][1]).

Môtip thi tài đắp này còn tìm thấy một dị bản ở Phước Thái (Long Thành): Ông Trịnh thi đắp núi với Bà Rịa.

Ông Trịnh đắp núi mệt mỏi bèn dựa lưng vào gốc cây và rồi thiu thiu ngủ. Đánh một giấc đẫy, thức dậy, Ông Trịnh thấy núi Bà Rịa đắp cao hơn núi mình bèn xộc đến đá ngọn núi Bà Rịa một đá làm ngọn núi này thấp xuống; Bà Rịa cũng không vừa, xộc đến đá núi Ông Trịnh một đá. Thế là núi Ông Trịnh bị sạt xuống thấp hơn núi Bà Rịa ([2][2]).

Một cách hiển nhiên, một trai/gái (đàn ông/đàn bà) thi tài đắp núi trong hai dị bản trên đây là chịu ảnh hưởng rõ rệt truyện dân gian Khơme: Bên nào thua cuộc thì phải đi cưới ([3][3]). Mặt khác, cũng cần lưu ý là hai tên trên có thể coi là những dị bản mờ nhạt của truyền thuyết kể về cuộc thi tài của nàng Mê Đang và một chàng trai khỏe mạnh đắp các cụm núi thuộc cụm núi Bà Đen (Tây Ninh) ([4][4]); và điều này đã chỉ ra một vệt dài, từ Bà Đen xuống tới Bà Rịa, sự ảnh hưởng của môtip truyện dân gian này.

d) Hình tượng ông khổng lồ, biểu trưng cho sự khai sáng nên núi non, địa vực cư trú vốn phổ biến trong thần thoại, truyền thuyết cổ chỉ còn lưu lại chút ít dấu vết qua hình dạng của các vị thần thi thoảng xuất hiện trên núi Chứa Chan mà dân chúng gọi là Ông Chì, Ông Bạc, Ông Vàng, và thực ra hành trạng - sự tích không rõ ràng và mang hơi hám của quan niệm cho đó là khí thiêng của sông núi, sự linh thính của tín ngưỡng vạn vật hữu linh, hoàn toàn chưa hội đủ những tình tiết cơ bản của một thần thoại hay truyền thuyết. ([5][5])

e) Nếu đây đó ở Nam bộ, còn tồn đọng ý niệm về hình tượng ông khổng lồ thể hiện ở các truyền thuyết các dấu chân to lớn in trên đá thì ở Đồng Nai lại phổ biến truyền thuyết về các dấu chân tiên: ở Sự tích núi Chơn Tiên (ở miệt Bà Rịa - Long Hải) và Sự tích Sân Bà (Tân Định, Thiện Tôn, Vĩnh Cửu) (3)

Sự tích Sân Bà kể rằng: trên cái sân rộng, do nhiều tảng đá bằng phẳng kết hợp lại, có một giếng nước, gọi là "Ngọc Truyền tỉnh", hàng ngày mực nước lên xuống theo thủy triều sông Đồng Nai cách đó hơn mười ngàn thước. Bên miệng giếng còn lưu dấu một bàn chân nhỏ xinh xắn, như dấu chân phụ nữ mà người dân sống ở miệt rừng cho đây là dấu chân của một vị tiên nữ. Thường thường, trên sân đá ấy có nai, voi lai vãng đến. Thôn lân cho là thiêng lộc, thần tượng của bà Chúa Ngọc Thánh phi "vì nhớ Bà nên tìm và gởi theo ngọn gió ngàn một tiếng rống mênh mông, hoặc đưa đôi mắt mơ màng nhìn vào cõi không gian thăm thẳm" (4).

Các chi tiết của truyện kể trên đã chỉ ra nguồn gốc của nó. Đó là một phiên bản của Sự tích thiên Yana, mà ở Nam bộ thường gọi là Bà Chúa Ngọc/Bà Chúa Tiên, một thần tích Chăm đã được đời sau diễn đạt như là một tiên thoại và định hình là văn bia của Phan Thanh Giản ở Tháp Bà (Nha Trang). Tiên thoại đã được Việt hóa từ Trung bộ này đã theo dòng người vào Nam lập nghiệp mang theo đến và tích hợp vào cảnh trí thiên thiên Đồng Nai.

Mẹ Xứ sở Pô Inư Nagan (Thiên Y - Ana) vốn là một thần thoại khai sáng văn hóa của dân tộc chăm, nhưng càng về sau bị biến đổi theo quan niệm phong kiến - Bà La Môn: Bà có nhiều chồng và nhiều con (cô - cậu), nhằm hệ thống hóa đẳng cấp các thần linh dân dã của nhiều địa phương khác nhau. Các thần linh Chăm  này cùng hội nhập vào hệ thống thần linh Việt, đặc biệt ở Trung bộ và rộng hơn là cả Đàng Trong. Chính vì vậy, tục "kính trọng các nữ thần như Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Hỏa Tinh, Bà Thủy Long và Cô Hồng, Cô Hạnh...” mà tác giả Gia Định Thành thông chí đã đề cập. Đây là cơ sở để hình thành các truyền thuyết về các “hóa thân" địa phương kể về các cô cậu: Cô Hồng ở Dinh Cô (Long Hải) và cô Hiên ở Thiện Tân (Vĩnh Cửu). Nói chung, cả hai truyền thuyết này đều bắt nguồn từ một tâm thức văn hóa - tín ngưỡng và rồi tích hợp vào một sự kiện lịch sử cụ thể mang tính chỉ định mà cơ sở định hướng cho sự ảo hóa là tín lý huyền hoặc kèm với các tình tiết linh ứng có tính chất Đạo giáo.

Như những gì đã trình bày trên, các mẫu đề thần kỳ tích hợp vào đất Đồng Nai, trong trên dưới 300 năm lịch sử đã không còn điều kiện lịch sử sơ khai để nảy nở thành các câu chuyện kể về những công cuộc khai sáng kì vĩ mà nó được khuôn đúc trong xu hướng suy nguyên một số sự vật đặc biệt kỳ dị, chúng tồn tại dưới dạng “từ nguyên địa danh dân gian" mang màu sắc vạn vật hữu linh và đạo giáo và cộng với một thứ quan niệm phong thủy dân dã. Ở đấy cũng có trường hợp lịch sử địa phương hóa, nhưng đặc điểm này biểu hiện rõ nét hơn trong tập hợp các truyền thuyết/ sự tích lịch sử gắn với với công cuộc khai hoang và những sự kiện/ nhân vật của thời đại lịch sử sau này.


(1) Lương Văn Lựu: Biên Hòa sử lược toàn biên. Toàn biên. Tác giả xuất bản, 1972, quyển I, trang 197   -   208.

([1][1]) Theo lời kể của Ông Ba Miều (sinh năm 1904) ở ấp Lân Thạnh, Bình Trước, Tp Biên Hòa.

([2][2]) Theo Ông Ba Lãnh, Sáu Giai, Tư Thơm, Ban quí tế đình Tam Thiện, Phước Thái, Long Thành.

([3][3]) Huỳnh Ngọc Trảng: Truyện dân gian Khơme, Hội VH - NT Cửu Long xuất bản năm 1987, tập I, trang 60   -   66.

([4][4]) Xem Nguyễn Đổng Chi: Lược khảo thần thoại Việt Nam, Ban văn - sử - địa xuất bản năm 1956, trang 78- 80.

([5][5]) Xem Lương Văn Lựu, sđd, tập II, trang 32   -   34.

(3) Lương Văn Lựu, sđd, quyển I, trang 208. Quyển II, trang 74-75.

(4)) Lương Văn Lựu, sđd, quyển II, trang 74-75

Comments