c. Dòng tự sự lịch sử - xã hội với những thông điệp về đạo lý và những chuyện tình bi kịch thời phong kiến.

Từ buổi đầu khai hoang vùng đất từ các cửa biển trở lên "rừng rậm hàng nghìn dặm" đến giai đoạn, bắt đầu với cái mốc năm 1698 (Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập bộ máy hành chính cai trị ở đây) đến cuối thế kỷ XVIII, Đồng Nai đã trở thành vùng đất phát triển mạnh mẽ, nhất là sản xuất nông nghiệp "Nhất thóc nhì cau" nổi tiếng với câu tục ngữ: Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang và đồng thời với sự hoạt động thương mãi với trung tâm cảng quốc tế Cù Lao Phố thì cơ cấu xã hội đã thay đổi. Những người giàu có và thế lực như lái buôn Phước Kiến Lý Văn Quang; những chủ điền phú hội ở các địa phương đã nuôi mỗi nhà từ 50, 60 điền nô; trâu bò 300, 400 con; cày bừa cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12 thường xay giã thành gạo để bán lấy tiền ăn Tết (Phủ Biên tạp lục, viết năm 1776). Ở xã hội đã phân hóa ra kẻ giàu người nghèo, chủ nô và điền nô ấy đã vang lên những lời oán than bi phẫn:

Xay lúa giã gạo Đồng Nai

Gạo thóc về ngài, tấm cám về tôi.

Nhưng dường như mâu thuẫn giữa điền chủ và nông dân Đồng Nai vào thời buổi đất rộng người thưa ấy không dẫn đến những xung đột bi kịch dữ dội. Chính vì vậy, phần lớn truyện thuộc dòng tự sự thế sự ở đây đều phản ánh đến xung đột quan - dân, hay chính xác hơn là quan lại - điền chủ và dân chúng.

a) Đại Nam liệt truyện tiền biên chép việc Phó tướng dinh Trấn Biên Nguyễn Cửu Vân (giữ chức này từ năm 1707): "Thường bắt dân trong hạt phục dịch việc riêng, chuyện tới tai triều đình, Chúa (Hiến Tông) xuống chỉ quở trách:"Khanh là con nhà tướng, nắm quyền chế ngự một phương, lại không lấy chữ "vỗ về" làm đầu. Họ là lưu dân mới về, nếu cứ bắt phục dịch mỏi mệt thì làm sao chịu nổi?...". Từ đó phàm lưu dân trở về, Vân đều chia cấp ruộng đất, lập ra thôn phường, dân được yên (...) Vân buổi đầu ở Trấn Biên có dựng chùa ở phía nam sông Phước Long. Tại Tông hoàng đế nhớ công của Vân, đặt tên cho chùa ấy là chùa Hộ Quốc, đích thân viết biển ngạch ban cho, gọi là chùa Sắc Tứ." (1).

Dẫn sự kiện lịch sử được ghi trong thư tịch Hán Nôm trên đây, một mặt, để cho thấy thực trạng xã hội của xứ Biên Hòa (Trấn Biên dinh hồi đầu thế kỷ XVIII) và mặt khác, việc phục thiện của ông phó tướng dinh Trấn Biên là một khuôn mẫu hiện thực khá tương đồng với nội dung truyện kể dân gian nổi tiếng của xứ Đồng Nai là truyện Thủ Huồng hay còn gọi là Sự tích sông Nhà Bè:

Thủ Huồng, như tên gọi của nhân vật này, ông ta vốn là một người đứng đầu một cái "phần thủ" (đồn trạm canh gác kiểm soát đường sông; còn gọi là Thủ bả) hoặc đồn Thủ hay trại Thủ là nơi lập ra để coi giữ và kiểm soát trên bộ (1).  Đại thể Thủ Huồng coi việc bảo an cho khu vực hay lo việc thu thuế, giống như Thủ Đức, Thủ Thiêm (ở TP. Hồ Chí Minh) hay Thủ Thừa (Long An)... Đó là những chức vụ dễ trở thành nổi tiếng - Thậm chí thành địa danh lưu truyền mãi đến nay. Ở địa vị này, Thủ Huồng kiếm được không ít tiền và hắn ta trở thành kẻ cho vay lãi cắt cổ. Thế là hắn giàu có nhờ vào sự khắc bạc và tính keo kiệt.

Vợ mất không có con. Thủ Huồng nghĩ lại việc dành dụm tiền bạc không làm gì bèn đi chơi cho biết đó biết đây. Hắn ra Hưng Yên, đến chợ Mãnh Ma, nơi họp chợ của người ở cõi âm và cõi dương, thì bất ngờ gặp vợ. Vợ Thủ Huồng đưa chồng xuống âm phủ chơi cho biết. Ở đây Thủ Huồng thấy trong nhà ngục có sẵn một cái gông lớn dành để hành tội mình khi mình chết. Sợ hãi, Thủ Huồng trở về quê mạnh tay bố thí, xóa sạch nợ cho những con nợ của mình, ông xây cầu, lập chùa Chúc Đảo (Cù Lao Phố) và lập cái nhà bè ở ngã ba sông Nhà Bè để làm phước cho kẻ qua lại đường sông lỡ đường.

Nhờ công đức bố thí này, Thủ Huồng sau khi chết được tái sinh làm vua Đạo Quang bên Trung Quốc (2).

Truyện Thủ Huồng rõ ràng là chịu ảnh hưởng quan niệm nhân quả của đạo Phật. Ở đây, câu chuyện tái thế của Thủ Huồng được khuôn đúc từ môtip "du địa phủ" mà nguồn gốc của nó suy ra cho cùng là bắt nguồn từ Phật thoại kể về Mục Kiều Liên xuống địa phủ thăm mẹ mà cụ thể là truyện Mục Liên - Thanh Đề. Môtip "du địa phủ" là mẫu đề dân gian khá phổ biến trong các truyện thơ nôm bình dân và bác học: Phạm Công - Cúc Hoa, Hứa Sử truyện (của Toàn Nhật thiền sư) Dỏng Từ - Hà Mậu (của Nguyễn Đình Chiểu) hay trong đoạn kết của truyện thơ Mười Chức, sáng tác đầu thế kỷ XX, kể về vụ án đẫm máu ở đồng Nọc Nạn (Cà Mau) năm 1928. Nói cách khác, môtip "du địa phủ" trong truyện Thủ Huồng bắt nguồn trực tiếp từ các hình ảnh về sự xét xử dưới âm phủ qua các điều thuyết pháp về luật nhơn quả, về nguồn gốc và ý nghĩa lễ Vu Lan - thậm chí là trực tiếp từ các tranh thập điện khá phổ biến ở chùa chiền xứ này; và ngoài ra, cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp từ các truyện thơ nôm có trước đó. Ngay ở địa phận Trấn Biên thuở ấy, mẫu đề tái thế cũng tìm thấy khá đậm đặc. Đó là Sự tích chùa Hoàng Ân; Ngôi chùa sát nách chùa Thủ Huồng và Sự tích bà Hiếu ở chùa Huê Nghiêm (Thủ Đức, lúc ấy thuộc Trấn Biên/ Biên Hòa).

Sự tích bà Hiếu, người sáng lập ra chùa Huê Nghiêm có thể coi là một "dị bản" của truyện Thủ Huồng năm 1721 truyện kể rằng:

Thuở nọ, ở làng Linh Chiểu Đông - Thủ Đức, có một bà lão giàu có mà không có con cái. Vì không có người thừa kế, nên bà đã dâng cúng hết tiền bạc để xây dựng một ngôi chùa, tên là Huê Nghiêm tự và cúng một lô đất để làm nghĩa địa cho dân làng. Sau khi chết, bà đầu thai bên Trung Quốc. Người phụ nữ mới sinh này ngay trong lòng bàn tay đã có dòng chữ: "Bà Hiếu, ở làng Linh Chiểu Đông, Gia Định”. Vua Trung Quốc khi nghe biết việc này, gửi lễ vật dâng cúng cho chùa Huê Nghiêm và xin thỉnh bài vị của bà. Hương chức ở làng không đồng ý nên thuê thợ làm một bản sao để gởi cho vua Trung Quốc.  (1)

Có phần khác hơn truyện Thủ Huồng sự tích bà Hiếu, Sự tích chùa Hoàng Ân xu hướng phiếm chỉ hóa đã chiếm tỉ trọng lớn chi tiết chỉ định về ngôi chùa Hoàng Ân ở Cù Lao Phố (Hiệp Hòa, Biên Hòa) với cái địa điểm mà ngày nay được mọi người xác nhận là cái giếng, nơi hai vợ chồng vị hoàng tử cùi nhảy xuống để tự vẫn. Truyện kể rằng:

Xưa có hai vợ chồng cùng mắc bệnh phong phong hủi đến xin tá túc, sư trụ trì lập một lều nhỏ ở góc vườn để hai vợ chồng tá túc và ngày ngày đích thân đem cơm cho họ ăn. Một hôm bận đi hành hương xa, sư trụ trì - vốn là một người có tài tiên tri - dặn các sa di ở chùa chăm nom cho khách chu đáo. Thế nhưng khi chú tiểu bưng cơm cho hai vợ chồng người ấy, thấy họ bị bệnh lở lói lấy làm ghê tởm nên quay mặt nhổ một bãi nước bọt. Tủi thân, hai vợ chồng người khách nọ nhảy xuống giếng của chùa tự tử.

Khi vị sư trở về thì chuyện đã rồi, thấy trong lều chỉ còn lại một ngón chân và một ngón tay, sư trụ trì nhặt lấy, gói lại bỏ vào hũ đặt dưới bàn tổ và dặn các đệ tử rằng khi mình đã viên tịch, nếu ai đến chùa hỏi chuyện cũ thì trao lại cái hũ cho họ. Quả nhiên, hai mươi năm sau có hai vợ chồng người khách lạ đến chùa hỏi dò về chuyện cũ. Các môn đệ theo lời dặn của thầy, xin xem rõ tay chân thì quả nhiên người chồng thiếu mất một ngón tay và người vợ thiếu mất một ngón chân, bèn trả lại cái hũ cho họ. Hai vợ chồng đến trước Phật điện khấn nguyện rồi ráp ngón chân, ngón tay vào thì tự nhiên lành lại... Sau đó, nhà chùa nhận được sắc chỉ của vua. Đọc xong mới biết hai vợ chồng cùi ấy là Hoàng tử và nhà vua gởi chỉ là để tạ ơn nhà chùa. Từ đó, cái chùa lá mới cải đổi tên là chùa Hoàng Ân.

Nói chung, các câu chuyện được khuôn đúc từ quan niệm tái sinh này đều có tính chất khuyến thiện, lấy hiện thực cuộc sống làm chất liệu sáng tác và lấy thuyết nhân quả của nhà Phật làm biện pháp ảo hóa định hướng nội dung tư tưởng nhằm đưa ra những thông điệp đạo lý và đặc biệt lấy các di tích vật chất hữu tình ở địa phương để tích hợp vào nhằm tô đậm tính chất lịch sử của câu chuyện. Chính các yếu tố chỉ định của truyện, tồn tại như một truyền thuyết địa phương. Theo đó, mỗi tình tiết của truyện đều có bằng chứng vật chất tồn tại khắp từ Cù Lao Phố (chùa Thủ Huồng/ Chúc Đảo/ Chúc Thọ), Tân Vạn (Cầu Thủ Huồng, rạch Thủ Huồng) và cái nhà nổi đó trở thành địa danh: Nhà Bè. Nói cách khác, công đức của những con người biết phục thiện đã làm cho các di tích đây đó trở nên biểu tượng đạo đức và vùng đất chứa các di tích ấy nhờ đó trở thành thực tế sinh động có tính văn hóa.

b) Các yếu tố mang tính chỉ định trong truyện Thủ Huồng đã làm cho câu chuyện đậm tính chất huyền hoặc này được coi như một ký sự lịch sử, theo đó Thủ Huồng được nhìn nhận là một nhân vật có thật. Điều này cũng có cơ sở của nó, song vấn đề này là đối tượng của sử học. Ở đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng đây là kiểu thức sáng tạo truyện dân gian khá phổ biến ở Nam bộ, ở Đồng Nai nói riêng. Từ truyện Thác Vọng Phu (Trị An) Sự tích cặp sóng thần ở vàm Tham Mạng, Sự tích núi Thị Vãi/ Ông Trịnh - Bà Vãi, đến truyện cổ tích như truyện Chàng Út - Nàng Sen đều có yếu tố chỉ định. Tất nhiên trong các câu chuyện tình này sự chỉ định, hay tính lịch sử của truyện, có những mức độ khác nhau.

Là những sản phẩm tinh thần được sáng tác trong trên dưới 300 năm nay, trong lòng xã hội phong kiến đầy bất công và chiến tranh, nên sự xung đột giai cấp và số phận của người dân thấp cổ bé miệng là đối tượng phản ánh thường thấy trong truyện. Nếu truyện Thác Vọng Phu được sáng tác trên cơ sở của môtip dân gian Trung Bắc tích hợp với hình tượng của hàng đá Trị An mang màu sắc sơn cước thì Sự tích cặp sóng thần ở Vàm Tham Mạng là câu chuyện tình bi kịch của thời phong kiến Trấn Biên lại tích hợp vào hiện tượng tự nhiên ở cửa sông/ Vàm Tham Mạng: nước xoáy, tạo nên những đợt sóng bất thường mà con người cho đó là sóng thần để nói lên cái tình chồng nghĩa vợ thủy chung. Người chồng nghèo khổ bị kẻ xấu vu cáo dính vào âm mưu phản loạn, bị khép tội chết đó đã thương vợ phải cảnh côi cút nên đề nghị vợ bước thêm bước nữa; còn người vợ thì gieo mình xuống sông để giữ nghĩa với chồng. Người chồng được minh oan, về đến quê biết chuyện cũng nhảy xuống sông để chết cùng người vợ thủy chung. Vong linh của họ hóa thành cặp sóng thần hiện hình là đôi ngỗng trắng, thỉnh thoảng dấy lên để trừng phạt những kẻ bạc ác khi đi qua khúc sông này.

Đằng sau nỗi oan khiên của truyện là sự phê phán cái chế độ cai trị đương thời, kết thúc huyền hoặc. Rõ ràng sự ảo hóa này bắt nguồn từ quan niệm về vong hồn kẻ chết oan không được siêu thoát và luôn vất vưởng ở trần gian để thực hiện việc "ân đền oán trả". Mặt khác, sự tích hợp chi tiết huyền hoặc này vào hiện tượng sóng thần là sự giao phối với một tín lý khác. Ở Nam bộ hiện tượng sóng thần rất phổ biến ở nhiều nơi và hầu hết trường hợp, đều được giải thích là do đôi ngỗng trắng đập cánh gây nên sóng dữ. Đây là một quan niệm bắt nguồn từ tín lý về thần sóng (Pô Riyak) của người Chăm được đem từ Trung bộ vào phương Nam. Điều này đã chỉ ra sự phổ biến của môtip sóng thần ở trong các truyền thuyết Nam bộ (1). Ngay cả ở Đồng Nai cũng không phải đây là trường hợp cá biệt, trái lại là những mẫu đề được lưu truyền gắn với hiện tượng sông nước ở các hàng đá chắn giữa các sông rạch như Hàng Bà (ở sông Buông, Trảng Bom) là một trong những ví dụ. Điểm khác biệt riêng của Sự tích cặp sóng thần ở Vàm Tham Mạng là mẫu đề dân gian phổ biến này được tích hợp vào một chuyện tình bi thương mà trong chừng mực nào đó khá gần với Sự tích sông Đôi Ma ở Long An (2). Ở đây, một cách hiển nhiên, sự phê phán chế độ cai trị phong kiến của truyện, vẫn nằm trong khuôn khổ của hệ ý thức phong kiến. Điều này khiến cho truyện gần với những gương tiết phụ được các sử quan nhà Nguyễn chép trong Đại Nam nhất thống chí và xu hướng này cũng thể hiện trong sự tích núi Thị Vải:

Xưa, có một người con gái họ Lê, gia tư giàu có, nhưng bị lỡ thời. Sau khi cha mẹ mất rồi mới có chồng, nhưng không bao lâu chồng lại chết, bà thề không tái giá.

Kẻ cường hào có thế lực cậy mai mối thường đến quấy nhiễu bà. Bà bèn cạo đầu, lập một cái am ở đỉnh núi tự làm thầy cả, cùng bọn đồng bộc giữ lòng tu trì, sau được thành chánh quả nên nhân đó lấy tên đặt làm tên núi (1). Ngọn núi mà trong Gia Định Thành thông chí gọi là "Nữ Tăng Sơn" gắn với sự tích trên (và bản dịch đã dẫn là núi Bà Vãi) là ngọn núi "thuộc địa phận huyện Long Thành", đó là ngọn núi "cách trấn phía Đông 200 dặm", tức là núi Thị Vải gần núi Ông Trịnh thuộc vùng Bà Rịa (chứ không phải núi Bà Vải ở An Hòa, ngã ba Vũng Tàu).

Chính vì hai ngọn núi cùng nằm trong một địa phương nên đời sau, người ta có xu hướng kết hợp lại theo quan niệm "đủ vợ đủ chồng" bằng một sự tích để suy nguyên tên hai ngọn núi này: Sự tích núi Ông Trịnh và núi Thị Vải. Đây là câu chuyện tình kết thúc bi kịch của một đôi trai gái không môn đăng hộ đối: bên tớ, bên chủ; bên nghèo bên giàu. Họ là nạn nhân của chuẩn mực phong kiến đương thời, họ không bước qua được cái hàng rào ngăn cách đó nên tìm đến cái chết để thỏa lòng: mỗi người chết trên một ngọn núi và do vậy, núi mang tên họ. Nói chung truyện mang hơi hám của tiểu thuyết lãng mạn hơn là truyền thuyết; do vậy đây là câu chuyện suy nguyên về địa danh của người đời sau phủ lên sự tích cũ một câu chuyện mới, song vẫn còn khuôn vào kiểu mẫu truyền thuyết địa danh. Sự lý giải ở mỗi thời kỳ lịch sử bằng những "sự tích" khác nhau về một địa danh là một hiện tượng phổ biến và tất nhiên, các "sự tích" càng muộn màng yếu tố hư cấu càng nhiều, thậm chí là hoàn toàn hư cấu.

Ở truyện Chàng Út - Nàng Sen yếu tố chỉ định chỉ còn là địa điểm không xác định cụ thể mấy "làng gốm ven sông Đồng Nai" và bối cảnh lịch sử diễn ra câu chuyện cũng chỉ ác qua đó là thời "giặc dữ kéo đến tàn phá làng gốm" mà không xác định là trận chiến nào rõ rệt. Chính vì vậy, câu chuyện kết thúc bi kịch của đôi nghệ nhân gốm Biên Hòa đậm tính chất phiếm chỉ của cổ tích pha với sắc thái mờ nhạt của một truyền thuyết, một chuyện kể lịch sử.



(1) Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện tiền biên, bản dịch của Cao Tự Thanh, Nxb KHXH, 1995, trang 177; phụ chú: Nay là "Sắc tứ Hộ Quốc quan tự" còn tại Tân Vạn. Tấm biểu có dòng "Quốc chủ Vân Truyền đạo nhân ngự đề".

(1) Theo Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, Impnemerie Rey Curiol Cic,Sài Gòn, 1896, tập II, trang 415. Ở sách này, tác giả còn kê ra chức Thủ Ngữ hay Tấn Thủ: chức quan canh giữ cửa biển; đồn thu ở của biển.

(2) Truyện này có nhiều dị bản, ở đây theo bản của A. Laudes trong Contes et legendes Annamites, Paris, 1896. Trong các dị bản, truyện Thủ Huồng trong Monographie de la province de Gia Định (Sài gòn, 1902) kể là Thủ Huồng được một con nợ đưa đến chợ Nhơn Giang, (tức Chợ Quán, Tp HCM) thì gặp vợ và được vợ đưa xuống âm phủ... Truyện này trong Biên Hòa sử lược toàn biên, Lương Văn Lựu cũng kể khác: Tên Được đi buôn bị bão chết đuối ở Phan Rang và hồn Được xuống âm phủ thấy mọi chuyện và hiện hồn về báo lại cho Thủ Huồng. Huồng sợ hãi từ đó phục thiện.

(1) Theo A. Laudes, sđd, trang 96. Dị bản do chùa Huê Nghiêm cung cấp thì người phụ nữ lập chùa tên là Bà Hiên (chứ không phải bà Hiếu). Hoàng hậu nhà Thanh sinh công chúa trên lòng bàn tay có dòng chữ như trên. Vua nhà Thanh sai sứ đến Thủ Đức xin trùng tu chùa, xây mộ cho Bà Hiên và dâng cúng một pho tượng Quan Âm bằng đồng.

(1) Xem: Sự tích sông Xá Hương trong Tân xưa của Đào Văn Hội XB 1970, trang 92   -   94   -   Cặp ngỗng sóng thần (ở vàm cái Đôi) trong Truyện tích đồng quê của Lâm Thế Nhân, Sống Mới xb 1972, trang 5   -   14; vv...

(2) Trịnh Hoài Đức sđd, tập thượng, trang 16  -   17; xem thêm Đại Nam nhất thống chí, bản dịch đã dẫn trang 18 (Núi nữ tăng); trang 51 (Lê Ni Cô).

(1). Xem Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường: Nghìn năm bia miệng, Nxb TP HCM, 1992, tập I, trang 103   -   104.

Comments