d. Dòng tự sự lịch sử: Những nhân cách sáng ngời và những gương công đức vì dân vì nước

Như vậy, đất Đồng Nai từ núi đồi, sông rạch, chùa chiền, cái giếng nước, cửa vàm đâu đâu cũng ghi dấu một kì tích của công cuộc "phá sơn lâm đâm hà bá", của những số phận bi thương, của những công đức cao cả. Vì dòng tự sự lịch sử cũng ghi lại trên cửa miệng những tấm gương nghĩa khí, rất Lục Vân Tiên và cũng rất là Hớn Minh, Tử Trực.

a) Truyện kể về Ký lục Trấn Biên Đặng Đại Độ là một khúc tráng ca của thời Đồng Nai đang phát triển trong khuôn khổ của chế độ phong kiến nhà Nguyễn.

Đặng Đại Độ là người huyện Phong Đăng, tỉnh Quảng Bình. Cha là Đặng Đại Lược làm quan suốt đời mà vẫn trong sạch nghèo khó, nổi tiếng ngay thẳng, từ chối thẳng thừng tất cả mọi biếu xén dù là món quà đơn sơ.

Đại Độ nhờ tài học nên thi đậu Hương tiến, bổ làm văn chức, cùng cha làm quan đồng triều. Sau đó, ông được thăng làm ký lục dinh Bình Khang (1748) rồi ký lục dinh Quảng Nam (1761) và kế đó được điều làm ký lục dinh Trấn Biên.

Dạo ấy, có hai viên cai đội hầu cận được cử vào Trấn Biên bắt ca nhi, cậy thế khinh người làm lắm điều bậy bạ. Đại Độ sai căng ra đánh chết rồi treo ở cửa chợ để làm hiệu lệnh. Sau đó, Đại Độ tự ý mặc áo ngắn, đeo gông nhỏ đi bộ về kinh chịu tội, dắt một người cháu đi theo. Người cháu xin ông đừng đi bộ để giữ sức khỏe, Đại Độ bảo: "Lại có hạng tội nhân tính cách cho đỡ khổ à?" Ông cứ thế đi bộ hơn một tháng mới về đến kinh, vào bộ Hình dâng đơn xin tới nhà ngục chờ xét xử. Bộ Hình đem việc tâu lên, chúa cho triệu vào. Đại Độ một thân lên đường, không có triều phục, chúa sai cấp cho. Đại Độ vào gặp chúa xin chịu tội, chúa an ủi, dụ rằng: "Khanh có tội gì! Bọn ngươi lao khổ việc quan, đi tìm một hai ca nhi để hưởng thụ thì cũng chỉ là tiêu khiển. Chẳng ngờ bọn trẻ con mới ra đời cậy thế hiếp người, khanh giết đi là phải, lại có tội gì?” Chúa bèn tha tội, lập tức thăng làm Tuần phủ Gia Định, chuẩn cho đi tuần khắp 5 phủ (Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận), được quyền thăng giáng quan lại. (1).

Thế kỷ XVIII, như tác giả Phủ Biên tạp lục ghi nhận là mỗi nơi "nhà giàu chừng 40, 50 hoặc 20, 30 nhà", trong đó, các quan chức nhỏ như Thủ Huồng, lớn như Nguyễn Cửu Vân chiếm một phần. Nói cách khác, trên dưới 100 năm kể từ ngày chúa Nguyễn đặt chế độ hành chính cai trị ở đây thì những lưu dân tha phương ở vùng đất mới lại vẫn không thoát khỏi sự áp bức và bóc lột của địa chủ - quan lại như ở quê hương Thuận Quảng trước đó. Đàng sau sự phản tỉnh của Thủ Huồng, Nguyễn Cửu Vân đã chỉ ra thực trạng xã hội bất công đó.

Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, từ ký lục Đặng Đại Độ đến bà Thủ khoa Nghĩa Nguyễn Thị Tồn, dòng tự sự lịch sử đã để lại cho đời sau hình ảnh những con người cứng cỏi, chuẩn mực ứng xử thẳng ngay:

Trời sanh cây cứng lá dai

Gió day mc gió, chiu ai không chiu.

b) Tiểu sử của những con người như thế thường được truyền tụng và từ cửa miệng của thế nhân lại tích hợp thêm các tình tiết hư cấu và trở thành giai thoại, hoặc phụ trợ thêm các mẫu chuyện thần kì để tôn các nhân vật lịch sử lên tầm mức thiêng liêng.

Mùa xuân năm Đinh Mão (1747) có thương nhân Phước Kiến là Lý Văn Quang đến trú ngụ ở Cù Lao Phố, thấy cảnh trí thái bình, không dùng võ bị thì lén lút kết hợp bè đảng, tự xưng là Giản Phố đại vương mưu toan đánh úp Trấn Biên, nhưng chỉ sợ khâm sai Cai Đội Nguyễn Cư Cẩn(1) là người có võ nghệ cao cường, nên tính kế giết Cẩn trước. Thế rồi nhân ngày khánh Tết Nguyên đán, chúng bèn đặt trước phục binh ở trong phố, rồi sau đem 50 tên dũng cảm, sửa soạn y phục theo kiểu ngày xuân, đem lễ vật đến mừng tuổi tại dinh Nguyễn Cư Cẩn; rồi nhân lúc vô tình, chúng rút đoản đao trong tay áo chém Nguyễn Cư Cẩn bị thương. Nguyễn Cư Cẩn vọt chạy, lấy được ngọn đao trên giá, quay lại chém chết được năm sáu tên. Chúng rút lui, rồi lại ào vào trong trại quân đoạt được cây thương, quay lại hiệp chiến. Lúc ấy, Nguyễn Cư Cẩn đã bị thương đuối sức, kéo cây đao định bước giật lùi, không ngờ cán đao bị mắc cây rào khiến ông vấp ngã, liền bị quân giặc đâm chết.

Sau đó, thuộc binh của ông tiếp ứng, quân giặc chạy về bên kia cầu để chống cự. Lưu thủ Nguyễn Cường kéo quân đến bao vây rồi hiệp cùng quân của Cai Cơ Đại Thắng hầu Tống Phước Đại đánh dẹp, bắt sống bọn Lý Văn Quang và bọn cừ khôi 57 tên... Tin báo về, triều đình truy tặng Cẩn là Đại lý tự khanh, Thụy trung Nghị.

Trước đó, Cẩn có một con ngựa đực, gởi nuôi ở một nhà nọ. Đêm ấy, chủ nhà mơ thấy Cẩn hối hả đến lấy ngựa, sáng dậy ra nhìn vào chuồng thì thấy con ngựa đã chết gục. Người ấy lấy làm lạ, vội chạy tới báo cho Cẩn thì Cẩn đã chết lúc canh hai. Đến khi quan hỏi cung bọn giặc, chúng đều nói rằng lúc đêm thấy Cẩn múa đao chặn đường nên không biết đường nào mà chạy. Mọi người đều lấy làm kinh dị, lập tức lập đền thờ chỗ ấy để thờ (2).

Trong chừng mực nào đó, Nguyễn Cư Cẩn được triều đình coi là một trung thần: truy tặng Đại lý tự khanh, Thụy trung Nghị. Còn trong dân gian, qua lời tục truyền (về việc ông "hiện hồn đi lấy ngựa" và "múa đao chặn đường bọn giặc") thì Nguyễn Cư Cẩn đã thành thần. Quan niệm "sinh vi tướng tử vi thần" là một nếp nghĩ khá phổ biến mà ở đất Đồng Nai đã thấy xuất hiện với Nguyễn Hữu Cảnh và còn tiếp tục biểu hiện trong các truyện kể về những anh hùng đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX.

c) Quan niệm "sinh làm tướng chết làm thần" biểu hiện trước hết ở tập tục tín ngưỡng tôn phong các anh hùng đã hy sinh vì dân vì nước, đặc biệt là các lãnh tụ nghĩa quân trong phong trào kháng Pháp, làm thần bảo hộ của địa phương.

Nguyễn Hữu Cảnh sau khi bị bệnh mệnh một được nhà Nguyễn cho lập đền thờ và ban sắc phong thần. Về sau, đền lễ công thờ Nguyễn Hữu Cảnh được tích hợp vào đền Bình Kính. Và Nguyễn Hữu Cảnh được coi là thần "Thành Hoàng" của thôn Bình Kính. Trong tâm thức, tuy nhiên, uy linh của Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh bao trùm lên cả xứ Biên Hòa và sự linh thiêng được thăng hoa trong nếp nghĩ của thế nhân đã được tác giả Gia Định Thành thông chí ghi lại khi nói về cụm đá Cự Tích Thạch Than ở giữa sông Đồng Nai: Dưới (chỗ Thạch Than) có con cá chép đen, lớn sáu bảy thước, ánh mắt như điện, vảy sáng như sao, mỗi khi đêm vắng canh khuya, thường đến trước đền chưởng cơ Lễ Thành hầu, nhảy qua thác vượt qua sóng, bơi lên lặn xuống, hình như lạy và múa vậy" (tập thượng, trang 22).

Người dân Đồng Nai tôn vinh những cá nhân anh hùng có công đức và sự nghiệp to lớn và cao cả bằng cách riêng của mình như vậy đó. Họ đã mở rộng tầm hướng ra khỏi cõi thế tục để đưa những vị nhân thần của mình hòa vào cõi thiêng vĩnh hằng. Theo nếp tư duy đó, sau Nguyễn Hữu Cảnh là hàng loạt các anh hùng hy sinh trong cuộc kháng Pháp sau này: Nguyễn Lâm - Nguyễn Tri Phương (đình Mỹ Khánh, Bửu Hòa), Lê Hữu Dõng (đình Phú Thạnh, Đại Phước, Nhơn Trạch) (2), Nguyễn Đức Ứng (Long Phước, Long Thành) (3) Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh tử trận (Long Bình, phường Tam Hòa) (1), các nghĩa sĩ Lâm Trung Trại của phong trào Thiên địa hội (chùa Cô Hồn/ Bửu Hưng tự, TP Biên Hòa)... (2)

Như vậy, chuyện kể lịch sử Đồng Nai đã dành nhiều vinh dự cho những người hy sinh vì nước dù họ đứng dưới ngọn cờ Cần Vương hay dưới giáo thuyết huyền hoặc của thời kỳ bế tắc và đầy bi phẫn của những năm đầu thế kỷ này.

Đặc điểm của tập hợp truyện kể lịch sử này là các yếu tố chỉ định như lai lịch, sự kiện chính yếu của những người anh hùng luôn luôn giữ được tính xác thực trong chừng mực cơ bản nhất và đây đó, lại tích hợp với những điều kỳ ảo: hoặc là sự linh ứng của các vị thần dân phong này hay sự hiển hách của hương hào Hầu - một hương chức làng Tân Trạch đã bỏ chức để gia nhập Lâm Trung Trại - nổi tiếng là người khí phách can trường, trước khi chết đã bình thản hỏi vợ con mình có mặt ở chỗ pháp trường ấy không và dõng dạc nói lớn: Ta sanh làm tướng chết làm thần. Chào bà con ở lại mạnh giỏi. Tất cả các tình tiết vừa thực vừa hư ấy đã tạo nên viền hào quang rực rỡ trên cõi thiêng liêng và không bao giờ tắt trong tâm trí của thế nhân hậu đại.

Nói chung, dòng tự sự dân gian Đồng Nai nảy nở và phát triển sát hợp đời sống lịch sử của địa phương, phản ánh được quá trình đấu tranh để làm chủ lịch sử xứ sở và vận mệnh của dân tộc đề xuất định hướng đạo lý và hun đúc truyền thống yêu nước và bất khuất vì đại nghĩa. Với một bản lĩnh như vậy, dòng tự sự lịch sử truyền khẩu dường như vẫn tiếp tục nhiệm vụ của nó mãi về sau này, khi văn học viết cách mạng đã phát triển. Do vậy mà những con người và hành trạng của các cán bộ và chiến sĩ cách mạng đã trở thành truyện kể, giai thoại lưu truyền qua cửa miệng từ chiến khu, bưng biền rừng Sác đến tận các thôn làng và thành thị. Những truyện kể và giai thoại về chín Quỳ, Huỳnh Văn Nghệ... là những ví dụ tiêu biểu cho kho tàng nguồn truyện kháng chiến phong phú sau này.



(1) Đại Nam liệt truyện tiền biên.   -   bản dịch đã dẫn, trang 230   -   231.

(1) Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên (sđd, trang 208   -   209) thì người này tên là Nguyễn Đăng Cẩn (con của Nguyễn Đăng Đệ, anh của Nguyễn Cư Trinh). Năm 1744, Cẩn được khôi phục làm Văn chức, kế đổi ra làm Cai bạ,  giữ quyền lý lục dinh Trấn Biên.

(2). Theo Gia Định Thành thông chí sđd, tập thượng, trang 20 - 21 và Đại Nam Thực lục tiền biên, sđd, trang 208   -   209.

(2)  Tên của vị lãnh tụ nghĩa quân không xác định rõ: có bô lão gọi là Lê Hữu Dõng, có bô lão gọi là Lê Hữu Tài. Tuy nhiên, các nguồn truyền khẩu đều xác định ông là lãnh tụ nghĩa quân thuộc lực lượng kháng Pháp của Trương Định vùng Nhà Bè   -   Lý Nhơn. Ông hy sinh ở Nhà Bè và thi hài được đem về Phú Thạnh an táng, hiện nay mộ vẫn còn trên gò đất cao, phía sau miễu Chòm Dầu.

(3) Bia mộ đề rằng: Nguyễn Đức Ứng, lãnh binh đời Tự Đức, mất năm 1861. Tục truyền, đây là ngôi mộ an táng Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa quân (theo Đỗ Nguyên: Nguyễn Đức Ứng (?   -   1861) trong Người Đồng Nai   -   Nxb Đồng Nai, 1995, trang 76   -   79.

(1) Theo Tuyết Hồng: Mộ và đền Đoàn Văn Cự trong Đồng Nai di tích văn hóa Nxb Đồng Nai, 1993, trang 107   -   112.

(2) Theo Lương Văn Lựu, Sđd  tập II, trang 190-203 từ khoảng 1914, phong trào Thiên Địa Hội phát triển mạnh ở Biên Hòa. Một số người giỏi võ nghệ, có lòng yêu nước chống Pháp tập hợp nhau lại, đặt căn cứ ở vùng núi Gò Moi Thiện Tân, trong ngọn Rạch Đông lấy tên là Lâm Trung Trại. Họ vận động thành lập lực lượng, qui tụ các trai tráng và những người lớn tuổi nhiều nơi đứng ra ủng hộ. Đứng đầu gôm mười người: Năm Hi (Tân Trạch), Ba Thứ (Tân Lương) Ba Nghi (Tân Khánh), Tư Hổ (Tân Trạch), Bảy Đen (Tân Trạch), Ba Hầu (Tân Trạch), Sáu Huyền (Tân Trạch), Năm Khang (Tân Lương), Năm Rùa (Tân Khánh), Mười Lợi (Lò Gạch). Chuẩn bị mọi thứ xong, họ quyết định hành động vào 12 tháng giêng năm Bính Thân (1916): Chiếm nhà ngục ở các làng, phá khám Biên Hòa. Nhiệt huyết có thừa, nhưng người ít vũ khí lại quá thiếu nên  cuộc nổi dậy bị dập tắt. Thực dân kết án Tư Hổ và Ba Vạn 20 năm khổ sai, đày đi Côn Nôn và xử tử hình người chôn ở Dốc Sỏi, chôn chung một hầm chỗ bãi cây Gỗ Cụt. Sau dân chúng lập miếu thờ, gọi là miếu Cô Hồn; rồi miếu dời qua chỗ khác và lập chùa Bửu Hưng tự - gọi là chùa Cô Hồn.

- Theo lịch sử chùa Long Ẩn (ấp 4, Bình Lợi, Vĩnh Cửu). Bản đánh máy do Thích Chánh thành biên soạn, theo lời kể của các bô lão địa phương: xưa ngôi chùa ở làng này có tên là chùa Long An dựng  trên Gò Cầy mà nay dấu tích là một giếng nước xưa. Đến khoảng giữa thế kỷ XIX, nhà sư Kỳ Sơn - Nhựt Tảo, không rõ quê quán từ đâu, đến tu ở chùa Long An. Nhà sư chuyên tu Mật Tông và luyện được phép tàn hình, độn thủy, độn thổ và sai khiến được âm binh âm tướng. Thời ấy, trên cây đa đầu làng, có một con tinh hung dữ thường hay hại người, nhà sư đã diệt trừ được nó. Chuyện này lan truyền rộng ra khiến quan quân cho là nhà sư là một gian đạo sĩ và ra lệnh truy bắt sư Nhựt Tảo do vậy, đã bỏ chùa trốn lên Gò Mọi lập am tu hành, chung sống với các dân tộc thiểu số ở đó; và sau vì bị truy nã gắt gao, nhà sư đã trốn lên núi Gia Rây, tịch ở đó… theo Lương Văn Lựu (sđd) thì Tư Hổ là học trò của võ sư Chung và  Chung là đệ tử của nhà sư Nhựt Tảo (tục gọi là sư Rau). Hai tài liệu trên khiến đề rằng sư Nhựt Tảo là có quan hệ với nhóm Thiên Địa Hội này và do đó, Gò Mọi được chọn làm căn cứ Lâm Trung Trại.

Comments