a. Ca dao - dân ca Đồng Nai nhìn từ Thuận Quảng

Sử chép: Năm 1698, đời vua Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế sai thống suất Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại lập phủ Gia Định: "Đất đai mở rộng nghìn dặm, dân chúng hơn 40.000 hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chánh trở vô Nam, đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người chiếm ruộng đất, chuẩn đinh thuế đinh, thuế điền và lập bộ tịch đinh điền" (1). Lưu dân từ châu Bố Chánh trở vô Nam hay nói cụ thể như tác giả Phủ Biên tạp lục là "chiêu mộ những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Qui Nhơn cho dời tới đây, phát chặt, mở mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất đai màu mỡ, cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa" (2). Các dữ liệu cho thấy rằng, văn hóa Thuận Quảng trong hành trang của các nhóm lưu dân là hạt giống văn hóa Việt đầu tiên được cấy trồng trên thổ ngơi vùng đất mới để rồi từ đó, văn hóa dân tộc, có cội nguồn từ Trung Bắc, lại phát triển ở một tọa độ lịch sử - địa lý Đồng Nai.

a) Chính vì vậy, mà trong các đợt điều tra sưu tầm vào những năm 80, 90 của thế kỷ này, vẫn còn bắt gặp nhiều sáng tác dân gian Thuận Quảng - đặc biệt trong đồng dao, vè kể vật - kể việc (vè trái cây, vè cá, vè bông...) - thậm chí các bài vè thế sự (vè Bài tới, vè Con gái đồng trinh, vè Con cút...) và nhất là trong hát ru - một thể loại dân ca có tính chất "gia truyền" mà không đòi hỏi sự ứng tác có tính chất ngẫu hứng như hò, hát đối đáp:

 - Mẹ già ở túp liều tranh

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

 - Gió đưa gió đẩy bông trang

Bông búp về nàng bông nở về anh

 - Mưa lâm dẩm ướt dẫm lá hẹ

Em thương người có mẹ, hỏng có cha

 - Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai.

 - Ghe lui khỏi bến còn dầm

Người thương dầu vắng chổ nằm còn đây.

                                (....) trích.

Có thể dẫn ra vô vàn các câu ca dao Trung bộ như vậy trong sưu tập ca dao Đồng Nai. Mặt khác, giống như ở các địa phương khác ở Nam bộ, ca dao Đồng Nai cũng có những dị bản của ca dao Trung bộ mà sự cải đổi ít nhiều đó là những địa danh, hay từ địa danh chỉ định thành phiếm chỉ:

 - Chiều chiều quạ nói với diều

Gò Chay, xóm Xiết có nhiều gà con

(Quảng Ngãi)

 - Bao phen quạ nói với diều

Ngã ba Rạch Cát có nhiều cá tôm

(Cù Lao Phố, Hiệp Hòa)

 - Tai nghe quạ nói với diều

Chỗ nào có trấu, thì nhiều gà con

Hoặc những cải biên phong phú nhưng vẫn chưa làm mất đi cái căn cội Thuận Quảng:

 - Chiều chiều Ông Lữ đi câu

Cá ăn đứt nhợ vinh râu ngồi bờ.

 - Biểu về nhắn với ông câu,

Cá ăn không giựt để lâu hết mồi.

(Nhơn Trạch)

Trong kho tàng ca dao Đồng Nai sưu tầm được trong những năm qua rất dễ nhận ra những môtip quen thuộc trong ca dao Trung bộ với các từ mở đầu: "Chiều chiều...","Ai đi...","Áo vắt vai...","Chim bay...", "Chim quyên...", "Gió đưa...", "Một mai...", "Ngó lên...", "Ngồi buồn...", "Trách ai...". dẫn vài ví dụ:

 - Áo vắt vai vợ ai không biết,

Áo vá quàng chí quyết vợ anh.

Áo vá quàng còn đàng chỉ lược

Anh thương nàng sao được mà thương.

Áo vá quàng xiên xiên mũi mác,

Con gái đất này ở bạc khó ve.

 - Áo vắt vai anh đi dạo ruộng

Anh có vợ rồi chẳng chuộng bậu đâu.

 - Áo vắt vai đi đâu hăm hở,

Em có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu.

 - Chim bay mỏi cánh chim ngơi

Đố ai bắt đặng chim trời mới ngoan

 - Chim bay về núi tối rồi

Không cây nó đậu, không mồi nó ăn.

 - Chim bay về núi ăn chi,

Mến cây, mến rễ mà đi sao đành.

 - Chim quyên ăn trái bo bo,

Để cho con cú đỗ đầu cành mai.

 - Chim quyên ăn trái ổi Tàu,

Thương nhau bất luận khó giàu làm chi.

 - Chim quyên hút mật bông quỳ,

Vợ anh còn, con anh sẵn, thương thì cám ơn.

 - Chim quyên láo luyến đường cày

Tình thâm ngỡi trượng mấy ngày lại xa.

 - Một mai bóng xế cội tùng,

Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.

 - Một mai bóng xế trăng lài,

Không ai gìn giữ trong ngoài cho em.

 - Một mai trống giục quán dời

Tiếc câu đoan thệ uổng lời giao ngôn.

 - Một mai trống lủng khó hàn

Dây giùn khó dứt, bạn loan khó tầm.

 - Ngó lên am tự chùa vàng,

Tu thì đặng đó bỏ nàng ai nuôi.

 - Ngó lên đám cấy ba mươi,

Chọn đặng một người có mẹ không cha.

 - Ngó lên đầu tóc em boa,

Chéo khăn em bịt, dạ nào chẳng thương.

 - Ngó lên hai ngã ngọn nguồn,

Thấy lời bạn thốt lụy tuôn hai hàng

 - Ngó lên nhang tắt đèn lờ,

Cha mẹ đâu vắng, giường thờ quạnh hiu.

 - Ngồi buồn giả chước đi câu,

Cá ăn không giựt mảng sầu căn duyên.

 - Ngồi buồn tơ lưởng tưởng tơ,

Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không.

 - Ngồi buồn phút thấy nhện sa,

Người thương trở dạ, nhện đà đem tin.

 - Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

Miệng nhai cơm búng, lười lừa cá xương.

                                                                 (...)

Có thể dẫn ra vô vàn ví dụ như trên và việc tỉ trọng ca dao Trung bộ chiếm số lượng đáng kể trong ca dao Đồng Nai đã chỉ ra dấu ấn cội nguồn Thuận Quảng của câu hát, lời hò Đồng Nai buổi đầu khai hoang và ngay cả khi Nông Nại Đại Phố đã phát đạt, tức khi Đồng Nai đã trở thành xứ sở thạnh mậu nổi tiếng là xứ sở sản xuất lúa gạo dồi dào: "Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang". Và thu hút các luồng dân cư và giao thương trong và ngoài nước:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.

Trong Phủ Biên tạp lục, Lê Quí Đôn hồi cuối thế kỷ XVIII, đã cho biết "hàng năm, đến tháng 11 tháng 12 (ở Đồng Nai) thường xay giã thóc thành gạo để bán ra lấy tiền ăn Tết (...) Bình thời chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc: lụa, lãnh, trù đoạn; áo quần tốt đẹp, ít có vải bô. Đất ấy nhiều sông rạch, đường nước như mắc cửi không tiện đi bộ. Người buôn chở thuyền lớn tất có đèo theo xuồng nhỏ để thông đi các rạch. Từ cửa biển (Cần Giờ) đến đầu nguồn đi sáu bảy ngày" (1).

Theo đoạn trích dẫn trên rất dễ nhận thấy rằng mức độ giao thương Đồng Nai - Phú Xuân khá sôi nổi. Các chú lái từ xứ kinh kỳ đã đến Đồng Nai, dùng xuồng len qua các sông rạch đi thu mua lúa gạo tận các thôn làng. Điều đó giải thích sự xuất hiện một số câu ca dao nói về các cuộc tình duyên xa xứ, với những lời thề nguyện da diết:

 - Rồng chầu ngoài Huế

Ngựa tế Đồng Nai.

Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,

Thương người đáo (xa) xứ lạc loài tới đây.

 - Bao giờ cạn lạch Đồng Nai

Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền (2)

 - Anh về ngoài Huế lâu vô

Họa bức tranh đồ để lại cho em.

Những câu ca dao trích dẫn trên hiển hiện ra hình bóng của những buổi hò hát đối đáp của các cô gái Đồng Nai và các chàng trai Thuận Hóa - Những kẻ "đáo xứ lạc loài" ấy vẫn còn vương vấn hình bóng ngôi chùa cổ, xứ sở nên thơ nơi họ vừa mới từ đó ra đi để rồi dựa vào đó mà cất lên lời giao duyên, tỏ bày tình cảm với người yêu mới ràng buộc nợ duyên nơi con thuyền viễn xứ vừa bỏ neo cắm sào. Điều này cũng giải thích cái hơi hám của ca dao Thuận Hóa trong một số ca dao Đồng Nai thời dinh Trấn Biên:

 - Đố anh con rít mấy chưn

Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người? (1).

 - Mẹ đi chợ Quán, chợ Cầu

Mua cau Đông Phố, mua trầu chợ Dinh

Chợ Dinh bán áo con trai

Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán tơ (2).



(1) Trịnh Hoài Đức: Gia Định Thành thông chí, bản dịch đã dẫn, tập Trung, trang 12. Lưu ý: đây là cái mốc lịch sử chính thức thiết lập bộ máy hành chính   -   cai trị ở đây. Còn việc người Việt đến khai phá vùng đất này có trước đó. Sử liệu có ghi một cái mốc trước đó là 1658, khâm mạng Trấn Biên dinh (hiểu là Phú Yên) cùng các tướng dẫn quân đánh vào Mỗi Xuy vì Nặc Ông Chân phạm biên cảnh. Khi ấy, theo Gia Định Thành thông chí (tập Trung, trang 7), "địa đầu Gia Định là Mỗi Xuy (hay Mô Xoài) và Đồng Nai (tức nay là đất Biên Hòa) đã có lưu dân cả nước đến ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất".

(2) Lê Quí Đôn: Phủ Biên tạp lục, bản dịch đã dẫn, trang 381

(1) Lê Quí Đôn: Phủ Biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội, 1964, trang 380   -   381.

(2) Một bản khác đã "cải biên": Bao giời cạn nước Đồng Nai Nghiêng chùa Châu Thới mới sai tấc lòng. (Nguyễn Quảng Tuân: Những ngôi chùa danh tiếng. Nxb Trẻ, 1990, trang 230)

(1) Theo Lương Văn Lựu (Biên Hòa sử lược toàn biên, quyển II, trang 92) thì câu hát trên là "do danh từ dinh Trấn Biên - xưa gọi là chợ Bàng Lân hay chợ Lộc Dã". Còn theo ông Bảy Yến (Phòng Văn hóa - Thông tin, huyện Châu Thành -  nay thuộc Bà Rịa -Vũng Tàu) trong cuộc tọa đàm năm 1982 thì chợ Dinh là chợ Bà Rịa - nơi đây có sông Dinh và núi Dinh là cái địa danh còn tồn tại đến nay. Tư liệu lịch sử: trước 1698, đồn dinh đóng ở Mỗi Xuy; sau đó, theo đà tiến của công cuộc khẩn hoang đã tiến dần về trung lưu sông Đồng Nai nên dinh Trấn Biên mới đặt ở Biên Hòa.

(2) Trần Hoàng và các tác giả: Văn học dân gian Bình Trị Thiên/ Ca dao - dân ca. Nxb Thuận Hóa, Huế, 1988, trang 25:

Ru em , em théc cho muồi,

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,

Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh

Chợ Dinh bán áo con trai,

Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.

Comments