b. Tình yêu, đạo lý và thế thái nhân tình trong ca dao - dân ca Đồng Nai

Cuối thế kỷ XVIII, Nông Nại Đại Phố suy tàn, nhất là sau biến cố triệt hạ Cù Lao Phố năm 1776. Bến Nghé - Sài Gòn phát triển, giành mất vị trí phát đạt vốn có của xứ đô hội Trấn Biên. Thuyền buôn tứ xứ tụ tập về trung tâm đô thị thương mại mới!

Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ, giọng con đò, giọng con rối;

Trên tàu voi ca khủng khỉnh, tiếng thằng mục, tiếng thằng nài.

Trọ trẹ dưới sông, quân Huế kéo neo hò hố hụi;

Xi xô inh đường cái, khách già rao kẹo ối chao ôi.

Luồng giao thương Phú Xuân/ Huế như vậy không còn mạnh mẽ như trước và từ đây, tiến trình đô thị hóa của Đồng Nai bị đứt gãy. Văn hóa dân gian, sinh hoạt hò hát ở Đồng Nai lại phát triển trong môi trường thôn làng nông thôn - nông nghiệp, trong khuôn khổ của xã hội phong kiến càng ngày càng ràng buộc chặt chẽ hơn. Ở đó, trọng tâm của thơ ca trữ tình là thân phận của người nông dân nghèo bị điền chủ bóc lột, bị quan lại hà hiếp, bắt đi phu, đi lính, phục dịch đủ thứ.

a) Trong lịch sử thực tế của vùng đất mới Đồng Nai, xã hội đã nhanh chóng phân hóa sâu sắc. Quá trình tự do phân chiếm đất đai của buổi đầu khai hoang kéo dài không lâu và đến thế kỷ XVIII đã có người giàu kẻ nghèo, người giàu đã nuôi hàng chục điền nô, cày cấy xay giã thóc gạo không lúc nào ngơi. Do vậy câu ca dao sau đây hẳn là sáng tác của thời kỳ gạo lúa Đồng Nai đã thành hàng hóa:

Xay lúa giã gạo Đồng Nai

Gạo thóc về ngài, tấm cám về tôi.

Và trong bối cảnh chung của vùng đất mới được khai phá, những người có "vật lực" đứng ra chiêu mộ dân xiêu tán vào Đồng Nai lập nghiệp trở nên giàu có, khác với những mảnh đời truân chuyên lưu lạc:

Cây khô tưới nước cũng khô

Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo.

Cái "vận nghèo" như một định mệnh được viện dẫn để tự giải đáp cho chuỗi đời tưởng chừng như không có thể bước qua được bến bờ no ấm và hạnh phúc; và từ đó, cũng xuất hiện những câu hỏi chứa đựng cái âm điệu bi phẫn:

 - Ai làm cho đó bỏ đăng,

Cho con áo trắng bỏ thằng áo đen.?

 - Ai làm con cá bống đi tu,

Con cá thu nó khóc,

Con cá lóc nó rầu...?

Phải chi ngoài biển có cầu,

Em ra vớt cái đoạn sầu cho anh.

 - Ai làm nên nỗi nước nầy,

Vợ ở đàng nầy, chồng lại đàng kia?

Những lời than vãn như vậy biểu hiện sự bế tắc của thời kỳ mà những năm tháng binh lửa của cuộc nội chiến kéo dài cũng đã làm gia đình ly tán: "Vợ ở đàng nầy, chồng ở đàng kia" như câu ca dao trên, hay cụ thể hơn ở câu ca dao dưới đây:

 - Anh đi dao bảy giắt lưng
                   Nón chiên anh đội, băng chừng Đồng Nai (1).

 - Đồng Nai xa lắm ai ơi

Gởi thư thư mất, gởi lời lời quên.

(Văn nghệ dân gian Nam bộ, trang 122)

b) Luân lý Nho giáo, phụ quyền phong kiến là một lực cản của tự do lứa đôi, phá hoại hôn nhân chân chính. Việc cha mẹ định đoạt việc vợ chồng của con cái đã dẫn đến những nỗi niềm xót xa:

 - Nơi thương cha mẹ biểu vong

Nơi chẳng đành lòng cha mẹ biểu ưng.

 - Cha mẹ biểu ưng, em đừng mới phải,

Em nỡ lòng nào bạc ngãi với anh.

 - Tại cha mẹ dứt tình tơ nguyệt,

Khuyên em đừng trực tiết uổng công.

Hệ quả của chuẩn mực "môn đăng hộ đối" mà cụ thể là tiền tài, danh lợi đã biến hôn nhân thành cuộc đổi chác mà không thấy điều quí nhất là tình nghĩa, thủy chung chân thực:

 - Phú quí đa nhơn hội,

Bần cùng thân thích ly.

Bởi anh nghèo nên chịu chữ ngu si,

Phải chi có của hiếm gì nơi thương.

 - Cha mẹ nàng muốn ăn cá thu,

Bắt anh đánh lưới mù mù tăm tăm.

Cha mẹ nàng đòi lễ một trăm,

Anh lo chín chục, mười lăm quan ngoài.

Cha mẹ nàng đòi đôi bông tai,

Anh ra thợ bạc làm hai đôi liền.

 - Trăm quan hỏi thử mấy tiền?

Nghìn xưa ai có mua duyên bằng tiền?

Ai làm cho bến xa thuyền

Cho trăng xa cuội, bạn hiền xa nhau.

Cha mẹ sao chẳng nghĩ sâu

 Để thương để nhớ để sầu cho hai ta.

c) Cho đến đầu thế kỷ XIX, khi Nho học và thiết chế văn hóa - giáo dục của nhà Nguyễn đã xác lập được chỗ đứng trên vùng đất mới thì, theo tài liệu thư tịch Hán - Nôm việc quan hôn tang tế vẫn còn pha tạp giữa tập tục dân gian và những chuẩn tắc của gia lễ Nho giáo. Điều đó đã chỉ ra rằng, các chuẩn mực luân lý Nho giáo chưa thực sự chiếm được địa vị thống trị. Do vậy, sự cởi mở trong quan hệ lứa đôi, tinh thần giản dị trong tình yêu trai gái biểu hiện khá rõ trong thơ ca trữ tình Đồng Nai:

 - Trên trời sao giăng tứ phía,

Thể nào nhơn nghĩa lại phai.

Anh mà lòng một dạ hai,

Thì là một ngọn dao phai (phay) xử hình.

 - Mấy lâu thổn thức ưu tư,

Gần nhau một bữa hơn tu mười đời

 - Sống mà loan phụng lẻ đôi,

Thà anh tự ải cho rồi còn hơn.

 - Bạc tiền như phấn thổ

Nhơn ngãi tợ thiên kim

Bao giờ đá nổi rong chìm,

Thì anh rụng cải xa kim với nàng.

 - Chèo khuấy nước khi khoan khi nhặt,

Ngó lên trời vằng vặc ánh trăng

Hôm nay vầy nghĩa xích thằng

Chữ tình luyến ái bởi căn duyên trời.

 - Ba năm thương bóng nhớ hình

Bậu ơi! Nắm tay cho thỏa tấm tình bấy lâu.

 - Thấy anh lớn tuổi mà khờ

Lưng em không dựa, dựa bờ cỏ may

Có thể dẫn ra nhiều câu hò, câu hát đối đáp mà sự cởi mở đến mức phóng túng; song điều đó phải được hiểu là chúng bắt nguồn từ sự hứng khởi của hoạt động đối đáp nên có phần cường điệu, ba lơn đến mức táo bạo là cốt làm cho cuộc hò hát vui vẻ. Nói cách khác đó là những câu hát "bất thường", không chỉ báo những chuẩn mực đạo đức - thẩm mỹ chung nhất của đời thường ở thôn xã. Trong quan hệ lứa đôi ca dao Đồng Nai thường lưu tâm đến chuẩn mực thủy chung và tình nghĩa keo sơn gắn bó bền chặt đối lập với sự hưởng thụ ích kỷ, tiền bạc và giàu sang:

 - Bán buôn nuôi bạn trọn niềm

Bao giờ trăng khuyết lưỡi liềm sẽ hay.

 - Cùng nhau hẹn biển thề non

Ở sao cho đặng vuông tròn ái ân.

 - Bao giờ cho mõ xa đình

Hạc xa hương án, chung tình mới xa.

Một cách tổng quát, người Biên Hòa - Đồng Nai, như tác giả Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Biên Hòa) đã nhận xét: "dân gian phong tục thuần hậu, tánh khí đơn giản, kẻ sĩ chuộng thi thơ, nhân dân siêng việc cày ruộng dệt cửi và nghề thợ, nghề buôn tùy theo địa thế phát triển làm ăn; ưa múa hát, sùng thượng đạo Phật.". Bức tranh chung đó đã chỉ ra những đặc tính cơ bản của tập thể tác giả ca dao - dân ca Đồng Nai. Đó là cái chất thuần hậu trong cuộc sống và tính khí đơn giản không cơ cầu chuyện phức tạp, gian xảo. Đây là phẩm chất rất căn bản được hình thành từ thực tiễn của công cuộc khẩn hoang và trải qua nhiều biến cố đổi đời to lớn.

Ví dầu cây cứng rễ bền,

Gió day chi chuyển, sấm rền nào rung.

Ý chí đó trong những biến cố lịch sử dữ dội sau này đã định hướng cho cách thế ứng xử của người Đồng Nai - đặc biệt trong những năm cuối thế kỷ XIX - Nó là cơ sở để hình thành tính cách hào hùng của nhiều người yêu nước; thành khí phách của các hệ sau này, chiến đấu với ngọn cờ đội tiền phong của giai cấp công nhân.



(1) Gốc: Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (xb 1895, tập I, trang 25). Cũng theo sách này, Huỳnh Tịnh Của giải thích:

  -   Dao bảy "dao quân lính phải cột theo lưng để mà đốn cây đốn củi". 

 -   Nón chiên: "nón lính đội vừa cái đầu. Nón có ngù lông chiên"

Comments