c. Giặc Tây đã tới Cần Giờ - khúc bi ca của thời tủi nhục đầy vinh quang...

Tháng 2 năm 1859, giặc Pháp đánh vào Sài gòn, các đồn, bảo tiền tiêu bảo vệ thành Gia Định liên tiếp thất thủ: pháo đài Phước Thắng, bảo Lương Thiện (Biên Hòa) rồi đồn Phước Vĩnh. Đồn Danh Nghĩa (Gia Định) cửa biển Cần Giờ, do Đề đốc Gia Định Trần Trí chia quân đánh giữ cũng lọt vào tay giặc. Quân giặc theo đường sông đánh thành Gia Định... tháng 2 năm 1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ và tháng chạp 1861 giặc chiếm Biên Hòa...

Thơ ca trữ tình tiếp tục phát triển theo phương cách truyền thống của nó, nhưng giờ đây, nó có thêm một nội dung mới, phản ánh những đề tài quốc sự nóng bỏng hòa với dòng tự sự lịch sử, với văn học yêu nước chống Pháp:

Giặc Tây đã tới Cần Giờ

Bậu đừng thương nhớ, đợi chờ uổng công.

Đánh Tây cứu nước là nhiệm vụ của mọi người, thậm chí ngay cả khi triều đình đã hòa nghị, cắt đất cho giặc thì phong trào yêu nước vẫn bồng bột dấy lên khắp lục tỉnh. Những chàng trai gát lại sau lưng cuộc sống đời thường, hò hẹn lứa đôi ra đi cứu nước:

Rạng đông súng nổ, kiểng đổ, trống thủng

Lòng qua thương bậu không cùng bạn ơi.

Câu ca dao được Huỳnh Tịnh Của ghi lại trong sưu tập Câu hát góp/ Recreil de chansons populaires (xuất bản 1897) này dường như ra đời trong bối cảnh lịch sử những năm 1859 - 1861 mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đề cập trong bài Chạy Tây:

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

Hỡi trang dẹp loạn này đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này?

 Đánh Tây cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu, thôi thúc đêm ngày đối với người "dân ấp, dân lân". Hiện thực sôi động đó hẳn đã là đối tượng phản ánh của thơ ca dân gian. Tuy nhiên, việc sưu tầm ca dao, dân ca ở Đồng Nai mới được tiến hành vài thập kỷ gần đây nên những sáng tác từ cuối thế kỷ XIX mười phần chỉ có thể còn lưu truyền lại một.

Tình trạng của ca dao dân ca về đề tài thời sự - lịch sử đầu khế kỷ XX - khi chủ trương khai thác thuộc địa đã được tiến hành, chính quyền thuộc địa đã được xác lập, đất đai bị chiếm đã thành đồn điền cao su, cũng đã mai một phần lớn. Ngày nay chỉ còn lại vài câu:

 - Cao su đi dễ khó về

Khi đi trai tráng, khi về bủng beo.

Hoặc:

 - Nhà hát bóng chào rào, chộn rộn,

Sở chụp hình: ngồi đứng chỉnh tề.

Thăm em một chút anh về,

Chơi khuya lính bắt khó bề phân qua.

 - Bước lên xe lửa Biên Hòa,

Tánh Linh anh tới đó, chắc là xa em.

 - Xứ độc địa ít người đi lại,

Chốn hiểm nguy có vãng không lai

Anh đành phụ rẫy, trước (trúc) mai

Bỏ em than vắn thở dài nhớ thương.

 - Chỉ tơ đứt mối thình lình,

Vì nghèo nên phải xa mình sanh phương.

 - Nhìn anh nước mắt rưng rưng,

Xúp lê xa chạy, ngó chừng theo xe (1).

Việc số lượng ca dao lịch sử quá ít ỏi, là do bị mai một theo thời gian và mặt khác, tự thân thơ ca trữ tình vốn không sở trường về độ nhạy bén với những vấn đề thời sự như vè - một thể loại văn học dân gian vốn được coi là "báo miệng" luôn thông tin một cách kịp thời những biến cố xảy ra trong xã hội. Nói cách khác, đề tài lịch sử - thời sự là sở trường của vè.



(1) Trích Đinh Thế Sơn: Câu hát huê tình [Góp nhặt những câu hát hoặc kim hoặc cổ...]. Nxb Thuận Hòa, Chợ Lớn, 1966.

Comments