a. Tổng quát về cội nguồn, thể loại tự sự văn vần Đồng Nai

Kết quả điều tra thực tế ở các thôn làng Đồng Nai trong những năm qua cho thấy rằng ở đây tồn tại lại lớp vè, cũ mới khác nhau.

Lớp vè cũ là những bài vè kể vật kể việc: vè trái, vè rau, vè hoa, vè cầm thú, vè mười hai con giáp, vè cá, vè chim... Đây là tập hợp vè mà về cơ bản là các bài vè phổ biến trên phạm vi khá rộng từ Nam Trung bộ đến Nam bộ. Tính chất khác biệt của các bài loại này sưu tầm được ở Đồng Nai là không đáng kể, không đủ để được coi là dị bản.

Bên cạnh đó, các bài vè cổ như bài vè nói ngược, vè nói dóc, vè con cút... phổ biến với nhiều dị bản đáng chú ý. Lấy bài Vè con cút làm ví dụ.

Dị bản ở Cù Lao Phố: Nghe vẻ nghe ve nghe vè con cút/ Trâu ăn mấy chút/ Bắt mẹ ta đền/ Nắm chóp tôi lên/ Đau đầu cha chả/ Chạy mời Trùm Xã, lại có Trưởng Đông/ Trâu ăn ngoài đồng/ Bắt vô mà cột/ Mâm trầu cho tốt/ Hũ rượu cho ngon/ phải trâu của con/ Thì con bắt lấy/ Bớ bà bán giấy/ Mua lấy một tờ/ Làm một cái thơ/ Gởi về bên ấy/ Ban ngày đi cấy/ Tối lại cửi canh/ Lòng em thương anh/ Cùng nhau thuở trước/ Bởi anh chậm bước/ Em mới lấy chồng/ Trách ông tơ hồng: Ông xe dây vào, Bà tháo dây ra. (Bà Nguyễn Thị Mạnh 96 tuổi kể 1995).

 - Dị bản ở Tân An (Vĩnh Cửu):... Bớ bà bán giấy, Mua lấy một tờ/ Làm một câu thơ, gởi về bên ấy/ Ai nấy lấy đọc mà coi/ Nhiều nổi khúc nôi/ Nhiều lời cay đắng/ Đêm mưa ngày nắng/ Cực khổ đủ điều/ Anh thương em thì em thương cả/ Cây cao bóng ngã/ (nhắm về) phía người có con/ Hình tích vuông tròn/ Tư niên thọ chánh/ Mầy giỏi mày đánh/ Thì mày đánh đi/ Tao là con đĩ/ Tại quán Giang Hà/ Chồng mày đi ngang, Thấy tao mà muốn/ Đem tao về có làng có nước/ Có trước có sau/ Có một quầy cau/ Có hai hũ rượu/ Chiều chiều mây phủ Đá Bia, Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng/ Ai mà mặc áo không bâu, Dưới lưng quần bố/ Trên đầu mỏ neo. (Bà Tư Nết, 80 tuổi kể năm 1996).

Dị bản ở Long Tân (Nhơn Trạch): Nghe vẻ nghe ve nghe vè con cút/(...) Bớ bà bán giấy, Cho mua một tờ/ Bà trồng sen, ai bẻ trái, Bà trồng nái, ai bẻ hoa/ Có một cây cà, hai cây bí/ Con nhà Lý, bận áo tía tô/ Con nhà Ngô bận áo cổ kiềng/ Trời thì có Phật có tiên, có ông Huệ Thường. Có chùa tụng kinh. (Võ Thị Tâm, 73 tuổi, kể 1996).

Qua ba trong những dị bản của bài Vè con cút dẫn trên nhận thấy rằng: 1) Tính chất biến đổi đa dạng của nội dung một bài vè cổ trong thôn làng Đồng Nai; nói cách khác cái phần mở đầu như là một "câu thủ" có tính chất đề dẫn và nội dung chính ở phần tiếp theo là sự tích hợp các đề tài - nội dung khác nhau. 2) Ở dị bản Tân An (Vĩnh Cửu) có câu "chiều chiều mây phủ Đá Bia, Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng" đã chỉ ra nguồn gốc Trung bộ của nó (1)  tương tự câu: "Con nhà Lý bận áo tía tô, con nhà Ngô bận áo cổ kiềng" cũng có nguồn gốc từ xứ Quảng.

Ngoài loại vè kể vật kể việc và những bài mang tính chất đồng dao, có nội dung "trung tính", qua điều tra, ở Đồng Nai cũng còn bảo lưu loại vè thế sự gốc Trung bộ: vè Bài tới, vè Con gái lấy thợ câu cua... Nói chung, các bài vè mà nội dung không có những yếu tố chỉ định về tên người, tên đất cụ thể - tức không tường thuật các sự kiện địa phương có một không gian phổ biến khá rộng và thời gian tồn tại của nó lâu dài hơn. Tất nhiên, khi nó lưu truyền đến vùng đất mới nội dung của chúng được cải đổi cho "hợp cảnh hợp tình" và hiếm khi nó tồn tại nguyên dạng. Trường hợp vè Bài tới là ví dụ về sự cải tổ đó:

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè bài tới.

Cơm chưa kịp bới,

 Trầu chưa kịp têm.

Đi đánh một đêm

Thua ba tiền rưỡi.

Chồng đánh chồng chửi,

Giả đò đau máu

Ăn sáu bát cơm,

Chồng đơm không lập.

Ăn cặp bồ câu,

Ăn đầu cá nhám.

Ăn đám khoai lang,

Ăn ba thúng đậu.

Ăn chậu xương xa

Ăn đường Đồng Nai

Ăn ba trăm bưởi

Ăn bảy trăm dừa

Chồng đã biểu chừa

Còn đòi ăn nữa.

Ăn lòi tấm ruột

Ăn tuột về nhà. (1)

(Bà Võ Thị Tâm (Long Tân) Nhơn Trạch kể)

Và bài vè Con gái lấy thợ câu cua là ví dụ cho sự bảo lưu nguyên dạng của vè Trung bộ ở Đồng Nai:

Một thương em nhỏ móng tay

Hai thương em bậu khéo may yếm đào

Ba thương cám cảnh cù lao,

Bốn thương em bậu miệng chào có duyên.

Năm thương má lúm đồng tiền,

 Sáu thương em bậu như tiên chăng là.

Bảy thương em có nguyệt hoa,

Tám thương em bậu làm qua phải lòng

Chín thương nước mắt ròng ròng

Mười thương em bậu phải lòng qua chăng?

Mười một em hãy còn son,

Mười hai vú dậy đã tròn như vung.

Mười ba em đã có chồng

Bước qua mười bốn trong lòng thọ thai.

Mười lăm sanh đặng con trai,

Sang năm mười sáu đặng hai đời chồng

Mười bảy em hãy còn không

Đến năm mười tám lấy chồng căn duyên

Mười chín lấy thợ đóng thuyền,

Hai mươi lấy lính quan quyền thờ vua.

Hăm mươi mốt lấy thợ câu cua

Hăm hai lên chùa mê mệt thầy tu

Hăm ba lấy thợ đóng dù

Bước qua hăm bốn lấy phu đi đàng.

Hăm lăm duyên phận ngỡ ngàng

Trở về hăm sáu lấy dân làng cho xong

(Bà Lê Thị Vĩnh, sanh năm 1928 ở Thiện Tân kể) (1).

Qua một số bài vè rút ra từ kết quả sưu tầm văn học dân gian Đồng Nai trong năm 1996 trên đây, chúng tôi thấy rằng trong kho tàng vè ở Đồng Nai là một tập hợp mà ở đó, vè Trung bộ đã chiếm một tỉ lệ nhất định. Hiện tượng này đã chỉ ra nguồn gốc Thuận Quảng của vè Đồng Nai, ở đó có khá đầy đủ loại thể từ loại vè vãn (vãn 4, vãn 5...) và cả thơ (tức - vè 6 - 8), bao gồm các bài đồng dao, các loại vè kể vật kể việc và vè thế sự, phê phán các tệ nạn (đánh bạc, lẳng lơ...) hay ta thán sự bất công trong xã hội (vè Con cút, vè Ở đợ...).


(1) Theo Đào Văn A – Cao Văn Chư: Văn học dân gian Nghĩa Bình, Sở VHTT Nghĩa Bình, 1986, trang 123:

Chiều chiều mây phủ Đá Bia

Đá Bia mây phủ chi kia mất chồng

Mất chồng như nậu mất trâu

Chạy lên chạy xuống cái đầu chơm bơm

Mất chồng đàng chẳng có lo

Sợ anh mất vợ nằm co một mình

(1) Dị bản Trung bộ (Dân ca miền Nam Trung bộ. Tập II, Hà Nội Nxb văn học, 1963, trang 182   -   183) (...) tiền rưỡi. Về nhà chồng chửi,thằng móc thằng quản Đánh sao không ăn, Mà thua lắm bấy? Tôi lấy tiền cấy, Cho đủ mười ngày. Bảy thưa bảy dày. Cùng là ngặt kéo. Chị em khéo léo, Dễ mượn dễ vay. Thân tôi ngày rày, Dầm mưa dãi nắng/ Chị em có mắng. Tôi cũng ngồi đây. Nó là tuồng dày, Nó cũng  a dua. Ăn thì tôi dùa. Thua thì tôi chạy.”

(1) Tên bài vè, chúng tôi ghi theo tên gọi của bà Lê Thị Vĩnh: Trong dân ca miền Nam Trung bộ của Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, Hoàng Chương, Nxb văn hóa, 1963, tập I, trang 160   -   161, bài vè này có tên là Vè con gái đồng trinh.

Comments