b. Thơ thế sự lịch và lịch sử Đồng Nai từ cận đại đến hiện đại.

Với vốn liếng khởi đầu như vậy, vè Đồng Nai như tính chất tự thân của thể loại tự sự được coi là "báo miệng" này thì các bài vè thế sự - lịch sử kể về các sự việc ở thôn làng vùng đất mới hẳn đã xuất hiện khá sớm. Tuy nhiên, cũng do tính thời sự của vè nên những sáng tác kể về người thật việc thật ấy cũng nhanh chóng lỗi thời và không tồn tại lâu dài vì sớm nhất là đến thế kỷ XIX vè Nam bộ mới có người ghi chép lại bằng văn tự. Bài vè các đường lục tỉnh được Trương Vĩnh Ký ghi lại, được lưu trong tập thủ bút của ông là một sáng tác cũ quí hiếm còn sót lại:

...Đến đây buôn bán một khi

Khúc đã chợ Búng, sang đồng Lái Thiêu

Rạch Tra nhà ở cheo leo,

Hóc Môn là xứ vườn trầu nghinh ngang.

Dầu Một, chợ Thủ, Ba Càng

Quanh co Đồng Phú, nhộn nhàng Võ Sa.

Bến Cá xóm ở đông nhà,

Xưa kia Đồng Ván trời đã cao xây

Chợ Đồn đá dợn nước trào,

Hoặc khi ngó thấy Cù Lao Ăn Mày

Hòn núi Châu thới cao thay,

Kiểng Dương qua khỏi xuống ngay Nhà Bè

Tiếng đồn các lái Đồng Nai

Tháng giêng cưa ván, tháng hai đóng thuyền

Tháng ba chở gạo mà chuyên,

Tháng tư hành thuyền rải rác mọi nơi

Kể từ Rạch Cát, Rạch Dơi,

Sài Gòn, Bến Nghé tựu nơi Nhà Bè

Rủ nhau lãnh thẻ chiêu đề,

Ghe nào bạn ấy ta hè kéo neo.

Bài vè lục bát này phản ánh hoạt động của các thương lái Đồng Nai vào thế kỷ XVIII, khi Nhà Bè đã được Thủ Huồng xây dựng và nơi đó đã hội tụ thành một khu chợ nổi trên sông - một khu vực buôn bán tấp nập bị Tây Sơn phá hủy vào khoảng cuối thế kỷ XVIII (1). Một điều có thể nhận ra là, bài vè trên với các câu khai mào: "kể từ Lò Gốm đi ra" hay "kể từ Chợ Lớn trở vô" và kiểu cách tường thuật của nó là giống hệt các bài thủy trình của giới thương lái Trung bộ phổ biến trong sinh hoạt hò đò dọc trên sông Thu Bồn và sông Vu Gia của nậu buôn nguồn Quảng Nam (2).

Nói cách khác, cho đến lúc Đồng Nai - Gia Định đã phát triển, bước khỏi thời kỳ khai hoang, dấu ấn của vè Trung bộ vẫn còn tồn tại sâu đậm trong tư duy sáng tạo vè vãn ở vùng đất này. Chuyển biến có tính chất quá độ này trong sáng tác chắc hẳn đã tạo nên nhiều tác phẩm, nhưng hầu như mai một hết. Thậm chí, những bài vè kể về các biến cố của lịch sử dữ dội của công cuộc kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ngày nay, tìm kiếm cũng không có kết quả. Nói cách khác, vè thế sự lịch sử địa phương mà ngày nay mà còn sưu tầm được là những bài vè thời cận đại; Đó là thời kỳ mà người dân Đồng Nai sống dưới chế độ thuộc địa: một mặt các tệ nạn xã hội thời đó và mặt khác là làng tổng, địa chủ o ép, bóc lột. Đây là bối cảnh chung nằm trong phạm vi phản ánh của vè thế sự.

 - Vè Ở đợ:

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè Thiện Tân.

Mầu mộng muôn phần,

Cơm khuya không có.

Đi thời tó hó,

Về lại tăng hăng.

Chờ đặng bữa ăn,

Ngã lăn thần tướng

Thân tôi ở mướn

Nó cực vô hồi

Bởi chú nói rồi,

Nên tôi mới mắc

Chú làm thắt ngặt

Tôi thối lúa lại cho

Cơm ăn không no,

Việc mần không nổi

Việc mần thì nặng

Cuốc đất đắp bờ

Mới nghỉ một giờ

Thiện Tân lại hối.

(Bà Võ Thị Tâm kể)

 - Vè Bối:

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè đi bối

Trông cho trời tối

Nương lối bóng bần

Thuyền ghe nào gần.

Nhảy sang quơ chuối

Ghe nào ngủ

Áp qua lấy đồ

Ghe nào hô,

Xô ra mà chạy

Cầm dầm mà nạy

Trở lái ra ngoài

Đi bối lâu dài

Mần ăn không dễ

 Nói um dưới bể

Làng tổng họ hay

Bắt ba ngày này

Giải luôn Phú Mỹ

Ông cò hổng nghĩ.

Ổng bắt ổng giam

Nhớ thời nhớ mẹ nhớ cha

Nhớ luôn việc nhà, con thơ vợ yếu

 - Vè Bài cào:

Đêm nằm ngơ ngẩn, ngẩn ngơ,

Ngồi buồn tôi đặt cái thơ bài cào.

Anh em quí vị đồng bào,

Già trẻ, lớn nhỏ, nghèo giàu đều hay

Cờ bạc nhiều nỗi khổ gay,

Kề vai, cọ vế: anh Hai, anh Mười...

Tới đây chẳng thiếu chi người,

Thuở giò chọn lựa, chần chừ chờ anh

Dòm lên mấy cái trách trên giàn,

Té nghiêng, té ngửa thấy càng éo le

Ngó vô buồng mền chiếu rách

Cũng vì ba lá bài cào

Cơ, rô, chuồn, bích nó quào sạch trơn

Tức mình tôi giận, mặt nổi đơn

Còn tiền anh Bảy, anh Ba,

Hết tiền xin lỗi anh ra ngồi ngoài.

(Bà Võ Thị Tâm kể)

 - Vè Rượu:

Vốn thuốc điên ai kêu là rượu

Hồi khi tề tựu lại có lễ nghi

Gặp rượu li bì hổng kiêng lớn nhỏ

Ỷ mình có võ muốn nói cho hung

Nói chuyện thật lung: tới củ chì, roi sắt

Thằng út Hoạt nó bắt: đóng một trăm đồng

Ăn uống no lòng để hại con cùng vợ

Không tiền: ở đợ lấy bọc mà đăng

Làm tướng hung hăng: tầm vông nó quất.

Chân bước tam chiêu

Cái mặt buồn hiu

Không đáng đồng hoẻn

(Ông Chín Lát/ Long Tân, Nhơn Trạch kể)

 - Vè Xã Những mất vợ:

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè Xã Những

Đôi ba tấc vườn

Còn ham làm ruộng

Trông trời mưa xuống

Sắm sửa đồ vô

Bắt trâu mà cày

Trồng dưa, trồng đậu

Vợ chê chồng xấu

Mần ruộng nám đen

Bóng sắc hư hèn

Mùi da cứng khiểng

Ăn no sanh chuyện

Rước hát bội về nhà

Vắng vẻ người ta

Ăn chơi mỹ vị

 Hát bội nó quỉ

 Nó nói thâm trầm

Chị Những mới lầm

May cho quần áo

Sáng ra đi dạo

Mua sợi dây lưng

Nó tốt quá chừng

Nhuộm màu lục soạn

Ở nhà: bán lúa bán heo

Không sợ chồng nghèo

Bao nhiêu bán hết

Làm chi cho mệt

 Sẵn của ăn chơi

 Ăn rồi nghỉ ngơi

Theo thằng hát bội

Ở lâu thêm rối

Sắm sửa đồ đi

Vô ở cố lì

Vợ Những chuyên chi

Những không có rõ

Vợ con kia nọ

Những chẳng có hay

Những sai trai cày

Về nhà gánh gạo

Về nhà lộn xạo

 - Gánh gạo về bao giờ!

 - Gánh nó hôm qua?

Tưởng chị thiệt thà

Ai ngờ điên đảo

Chạy vô phi báo

Với Xã Những hay:

 - Vợ chú hết thương,

Bỏ đi đâu mất,

Những bèn lật đật,

Chạy khóc cùng đàng

Nó tức lắm gan,

Đi đâu làm vậy.

Chạy về sở cậy

Ít đứa dân làng

Chạy về Hương Sang

Cậy thêm ít đứa

Xứng đôi lỡ lứa

Tìm kiếm đem về

Thiên hạ cười chê

Chẳng bằng hổng có

Chạy lên tới đó

Hỏi dọ người ta.

Chạy thẳng Đồng Nai

Biệt vô tin tức

Những bèn ấm ức

Chẳng ngủ than dài:

 - Vợ tôi có tài,

Lại thêm có tật

Nó đi đâu mất,

Nó bỏ hai con

Con khóc nỉ non,

Không ai cho bú.

(Ông Võ Văn Đác ở Long Phước, Long Thành kể)

 - Vè Hương Thân Cẩn:

Long Tân tại ấp xóm Vườn

Có ông Thân Cẩn dị thường hơn ai.

Già rồi sanh sự gái trai

Tuồng như Đổng Trác thấy ai cũng thèm

Mới đây sự xấu chèm nhèm

Sao không bỏ tật còn thèm nổi chi

Làm người chẳng phải ngu si

Mê say dâm dục còn gì thanh danh

Xưa kia còn tại sử xanh,

Tửu sắc tài khí có anh nào tài,

Dẫu ai lên đảnh xuống đài.

Mê say điều đó có ngày hư thân.

Từ quan cho chí bực dân

Mê say điều đó bất phân công bình

Nãy giờ nói chuyện trào đình,

Bây giờ nói chuyện thình lình ông Hương Thân.

Nửa đêm thiên hạ la rân,

Tội nghiệp Hương Thân Cẩn: bị dân nắm đầu.

Thân Cẩn thôi mới thảm sầu:

"Lao lạy thằng Năm mày ngàn lạy buông cái đầu tao ra"

Từ rày, tao kiếng mày bằng ông bằng cha hàng ngày..."

Bảy Y giữ cửa đứng ngoài,

Bước vô cho một rựa nằm dài ngã lăn

Tội nghiệp Thân Cẩn: há miệng, nhăn răng

Cũng vì tham dục lăng nhăng báo đời.

Vợ con chắt lưỡi kêu trời,

Thấy chồng bị đánh rụng rời tay chân

Tội Thân Cẩn nửa oan, nửa ưng

Phải chi đã được, chặt chưn cũng đành

Tại người đàn bà không có mưu tính với chồng

Nó quyết nó hại cái dòng cường dâm.

Tội nghiệp cho Lý Thị Châm,

Chịu một tiếng xấu để sửa trăm ngàn người.

Nhằm ngày mùng chín tháng mười,

Nhằm năm giáp tuất người người đều hay.

Chuyện này ai cũng sót sai.

Hương Thân ve gái cho hai tán đường

Năm nay tiền bạc thất thường.

Xin em dùng đỡ hai tán đường cùng qua.

(Bà Sáu Nhâm (Phú Hội, Nhơn Trạch kể))

Nói chung, từ những bài về truyền thống gốc Trung bộ, đến đầu thế kỷ XX, vè Đồng Nai đã phát triển mạnh mẽ. Nếu thơ ca trữ tình gắn bó với sinh hoạt hò hát thì vè cũng cung cấp các sáng tác mới cho hình thức diễn xướng tự sự - gọi chung là nói vè, nói thơ. Thể loại văn học dân gian được gọi là "thơ" ở Đồng Nai nói riêng, ở Nam bộ nói chung, bao gồm cả vè lục bát và các truyện thơ (nôm và quốc ngữ) - thường được gọi chung là vè vãn.

Ở bài vè Bài cào, viết theo thể lục bát dẫn trên được gọi là thơ:

Đêm nằm ngơ ngẩn, ngẩn ngơ,

Ngồi buồn tôi đặt cái thơ bài cào.

Hoặc bài vè ta thán việc người dân bị bắt đi lính sang Pháp hồi 1914 - 1918 cũng được gọi là thơ đi Tây.

Giúp dần trời khiến hư hao

Cảm thương (mấy chú) lính tập (mà) gian nan thảm sầu

Ra đi vợ mới mang bầu,

Con thơ lịu địu thảm sầu xiết chi.

Vợ chồng mới đành biệt li,

Chàng đi thiếp ở vậy thì sao an?

Vợ chồng, chồng vợ thở than,

Xúp lê tàu chạy, hai hàng lụy rơi

Vái trời an giặc Lang Sa,

Đặng trở về nhà: trả lễ một heo.

(Ông Ba Đấu ở Phước An, Nhơn Trạch, kể)

Trong tập hợp thể loại được gọi là thơ này, ngoài loại bài vè lục bát là những sáng tác địa phương, còn hầu hết các truyện thơ, bao gồm các truyện thơ cổ tích (Con Tấm - con Cám, Thạch Sanh - Lý Thông, Trần Minh khố chuối...), các truyện thơ bình dân (Thoại Khanh - Châu Tuấn, Lâm Sanh - Xuân Nương, Chàng Nhái kiểng tiên), các truyện thơ diễn ca tuồng tích, truyện Tàu (Quan Công phục Huê Dung đạo, Tống Tửu Đơn Hùng Tín, Tiết Cương khởi nghĩa...) hay các truyện thơ lịch sử xã hội (thơ Sáu Trọng - Hai Đẩu, Thầy Thông Chánh, Năm Tỵ, Sáu Nhỏ) hoặc loại thơ tuồng (Văn Doan chàng Lía, Ông Trương Tiên Bửu...) đều có mặt ở thôn làng Đồng Nai theo sự phổ biến của các ấn phẩm chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tuy không là sáng tác của địa phương, song các truyện thơ "bổn cũ dọn lại" đã cung cấp cho sinh hoạt nói thơ một số lượng văn bản khá phong phú và qua phong trào nói thơ, các bản thơ này cũng được phổ biến rộng rãi trong dân cư từ thôn làng đến các khu vực thị tứ. Và ảnh hưởng đến nội dung của sinh hoạt hò hát cũng như xác lập những giá trị thẩm mỹ - văn học nhất là khi các sáng tác văn học viết và báo chí quốc ngữ La Tinh chưa thực sự được phổ biến rộng rãi.



(1) Trịnh Hoài Đức: Gia Định Thành thông chí, tập thượng, trang 38.

(2) Xem Địa Chí Đại Lộc, Nxb Đà Nẵng và Văn nghệ dân gian Quảng Nam Đà Nẵng, Sở VHTT Quảng Nam   -   Đà Nẵng, 1985, trang 145   -   150.

Comments