2.1. Văn học viết Đồng Nai từ buổi đầu đến năm 1861

Những tiền đề cho sự hình thành và phát triển văn học

1. Văn học thành văn là sáng tác mang tính cá nhân của những người có năng khiếu và trình độ văn hóa nhất định. Trước khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phước Châu phái vào kinh lược xứ Đồng Nai thì Nam bộ vẫn còn là vùng đất hoang vu, dân cư thưa thớt. Những ông quan - văn sĩ như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào... khi đem quân tiến về phía Nam, vượt qua nhiều vùng đất mới đã để lại những sáng tác văn học có giá trị nhưng chưa thấy sắc thái Biên Hòa - Đồng Nai.

2. Những năm bảy mươi, tám mươi của thế kỷ XVIII đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử - xã hội vùng Đồng Nai - Gia Định bằng một loạt những biến cố dồn dập. Ngay sau khi chiếm lại Trấn Biên và Phiên Trấn (năm 1788), việc đầu tiên Nguyễn Ánh thực hiện là miễn binh dịch và dao dịch cho học trò. Cũng trong năm này, Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825), Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định (1767 - 1813), các tác gia văn học lớn sau này, đi thi và được bổ chức Hàn lâm viện chế cáo. Những người được xem là thực tài này đã thăng tiến khá nhanh, dù họ đều là quan văn chứ không phải là những vị tướng cầm quân.

Thời kỳ này, kinh tế - xã hội vùng Đồng Nai - Gia Định có nhiều biến đổi nhanh chóng. Dân cư liên tục được bổ sung từ Thuận Quảng. Trong số đó, có không ít nho sĩ. Họ đem đến đây không chỉ có gia đình, kinh nghiệm sống; mà cả nền nếp nho phong, chuyện học hành, sinh hoạt thi ca. Từ đó, nhiều trường tư được mở ra trong các thôn làng. Việc này được chính quyền phong kiến hết sức ủng hộ. Toàn vùng cũng đã xuất hiện những trường học của các nhà nho xuất chúng như Võ Trường Toản được xem là "Thái Sơn Bắc đẩu", hay Đặng Đức Thuật với danh hiệu là "Đặng gia sử phái"... Chính một nền giáo dục tính tự phát mạnh hơn tự giác, tư phong phú hơn công, lại phát triển rất mau lẹ, gấp rút đã làm cho toàn vùng, chẳng mấy chốc nho sĩ đã "học qua Ngũ kinh, Tứ thư, Thông giám, tinh hiểu nghĩa lý" như Trịnh Hoài Đức đã chép trong Gia Định Thành thông chí (1).

Trong sự hình thành đội ngũ trí thức Đồng Nai - Gia Định còn phải kể đến vai trò của Phật giáo. Với triết lý nhân bản, gần gũi với tâm thức dân gian, đạo Phật nhanh chóng tìm được chỗ đứng của mình trong số đông quần chúng kể từ lúc các tăng ni theo chân những người dân Ngũ Quảng vào Đồng Nai ở thế kỷ trước. Đến đầu thế kỷ XVIII, nhiều cơ sở Phật giáo đã được thiết lập và mau chóng trở thành các trung tâm Phật giáo Đàng Trong. Nhiều nhà sư đồng thời là thầy học của không ít bậc tài danh sau này. Việc học của học trò không thật bài bản, trái lại mang tính "thực dụng" hơn. Cả Trịnh Hoài Đức, lẫn Ngô Nhơn Tịnh hơn 10 tuổi mới được đi học vì phải lưu lạc nhiều nơi. Đến lúc đi học, Hễ gặp sách nào cùng ưng thì cùng đọc cho hết, chẳng ngại bị cười chê là đọc tạp nham (2). Vì thế, hơn mười tuổi nhưng các ông đã đọc rộng cả sách Kinh, Sử, Tử, Tập, Tam giáo, Cửu lưu. Sau này, khi đã là Chánh sứ nước Nam sang Trung Hoa, Trịnh Hoài Đức đã viết không ít bài thơ nhân viếng cảnh chùa, tặng các sư nổi tiếng với lời lẽ trang trọng:

Đa thừa thiên tuệ khai mê lộ

Biến lễ Như Lai chứng đạo tâm

Du Hải Chàng tự tặng

Tuệ chân thượng nhân

(Nhận nhiều ánh sáng trí tuệ của Phật khai thông được con đường mê muội; Hành lễ rộng khắp, Phật Như Lai sẽ chứng giám chỗ sâu xa trong lòng người).

Hơn thế nữa, nhiều nho sĩ Đồng Nai thuở hàn vi đã nương nhờ, học hành nơi cửa Phật; lớn lên không chỉ thông thạo kinh Dịch mà còn thông thạo kinh Phật:

Ức tích thái bình thì

Lộc Động phương thịnh mỹ

Thích Ca giáo hưng sùng

Lâm ngoại tổ phú quý

Ngã vi thiêu hương đồng

Sư tác trì giới sĩ

Tuy ngoại phân thanh hoàng

Nhược mặc khế tâm chí

(Nhớ thuở thái bình xưa/ Đồng Nai vừa thịnh mỹ/ Đạo Thích được tôn sùng/ Nhà ngoại còn phú quý/ Ta làm trẻ dâng hương/ Sư là người giữ giới/ Áo tuy chia xanh vàng/ Lòng vẫn chung ý khí ) ([1][7]).

Tuy thiết chế văn hóa - tư tưởng thời ấy là kiểu "Nho - Thích song hành" ([2][8]) nhưng Nho giáo vẫn chiếm ưu thế vì phát triển theo con đường chính thống. Tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn buổi ban đầu, khi mới chiếm vùng đất Đồng Nai, đã luôn tìm cách khuyếch trương và khẳng định Nho giáo và Nho học. Một sự kiện tiêu biểu cho tư tưởng này là việc chúa Nguyễn Phước Châu, từ năm Ất Mùi (1715) đã sai Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký lục dinh Trấn Biên Phạm Khánh Đức xây dựng nên văn miếu đầu tiên ở Nam bộ tại thôn Tân Lại, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên. Việc này nhằm khẳng định thế đứng về chính trị lẫn văn hóa của một tập đoàn phong kiến ở vùng đất mới. Chính vì thế, lúc nắm quyền được ở phía Nam, Nguyễn Ánh đã rất có chủ ý khi hằng năm đích thân đến hành lễ ở Văn miếu Trấn Biên. Và, trước khi đưa quân ra đánh Quy Nhơn (1794), Nguyễn Ánh cũng đã sai Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô đến trùng tu lại Văn miếu Trấn Biên.

3. Tuy ra đời muộn, nhưng văn học viết Đồng Nai được thừa hưởng nhiều thành quả tinh thần quý giá. Đó là kho tàng văn hóa dân gian khá phong phú, hình thành từ khi có những người Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất hoang vu cùng với cư dân bản địa. Vốn văn hóa này ngày càng phong phú và đa dạng khi các đoàn lưu dân liên tục đổ về. Thành ra, nền văn hóa ấy vừa được bổ sung bằng những câu ca, hò vè, truyện cổ của vùng Ngũ Quảng, vừa phát tích ngay tại bản địa.

 Mặt khác, sĩ phu Đồng Nai, tác giả chính của văn học thành văn, do những điều kiện lịch sử, kinh tế của quê hương đã có một kiểu sinh hoạt văn hóa đặc sắc. Trong lời tựa Cấn Trai thi tập, Trịnh Hoài Đức kể rất rõ về cách học của ông và các bạn cùng thời. Đó là đọc sách đủ loại để bổ sung kiến thức, học hỏi các bậc thầy và kết giao bạn hữu để cùng trao đổi và sáng tác: Chúng tôi còn ham thơ Đường; thích phong cách vần điệu, nên thường hỏi các bậc thầy đương thời. Không ngại Gia Định là đất mới, văn chương mới sơ khai, dòng thơ còn hạn hẹp, muốn tìm về nguồn gốc mà chưa có lối ra. Bèn tìm mua sách về phép làm thơ của ba thời kỳ nhà Đường và sách của chư gia, để cùng nhau dùi mài, nghiền ngẫm những cái sâu xa, uyên áo về khí cách và thể tài. Khi ngủ, khi ăn đều nghiền ngẫm, dịch chú hay đề tài, từng bước học theo. Lâu dần về sau, đã thành thục, gặp cảnh sinh tình, đặt bút thành thơ mà không trái với thể thức khuôn phép (...) Từ đó, các bậc nổi danh trong làng văn thơ đương thời vui mến kết giao, cho là bạn "vong niên", các cuộc bình luận văn thơ đều cho tham dự (...) Vì thế cái tên An Tĩnh (tức Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhơn Tịnh) được truyền rộng qua miệng các văn nhân... Cũng từ đây, Trịnh Hoài Đức đã lập ra thi xã lấy tên "Gia Định sơn hội", quy tụ Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, Hoàng Ngọc Uẩn, Diệp Minh Phụng..., những ông quan tài năng và nức tiếng về văn thơ sau này. Cũng nên lưu ý là tao đàn này được lập ra khi các "văn sĩ" này chỉ mới trên, dưới 15 tuổi! (Trịnh Hoài Đức kể sau khi lập Gia Định sơn hội không lâu, gặp năm mất mùa đói kém, ông cùng Ngô Nhơn Tịnh đều phải bắt chước Tử Cống (học trò Khổng Tử) đi buôn kiếm sống cho khỏi rơi vào cảnh cùng quẫn để tiếp tục đèn sách, rồi tới năm Canh Tý (1780), họ Trịnh vào ở rễ nhà họ Lê, có được nơi nương tựa).

Chính cách "tự đào tạo" này đã khiến nhiều nhà văn Đồng Nai - Gia Định không phải mất hàng mười năm dùi mài kinh sử mà vẫn tinh thông bác cổ và đến khi đi sứ, nhiều quan lại và học trò Trung Hoa đón đường để xin thơ và tranh họa của các ông.

Như vậy, tác động của đời sống chính trị, tư tưởng, văn hóa với nhiều biến thiên lịch sử, nhất là chiến tranh, đã khiến nhân dân đói khổ, nhưng mặt khác, lại có tác dụng hối thúc hình thành đội ngũ trí thức - tác giả của văn học thành văn và khơi nguồn mạch cảm hứng cho văn chương. Hay nói như Lê Quý Đôn, trong Phủ biên tạp lục, từ đây, văn mạch một phương, dằng dặc không dứt ([3][9]).

4. Khi văn học viết Nam bộ hình thành cũng là lúc thành Gia Định đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả vùng. Đây là một tất yếu lịch sử sau nhiều biến cố về chính trị, kinh tế, xã hội. Vùng đất Biên Hòa, mà hạt nhân là Cù Lao Phố, đã phát triển nhanh chóng, đóng vị trí như một "tiền đồn" ở phương Nam, đến giữa thế kỷ XVIII liên tiếp chịu nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt: Từ ấy, chỗ này biến thành gò hoang, sau khi trung hưng, người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định Thành thông chí). Phần lớn cư dân, nhất là thương nhân, đã về vùng Bến Nghé - Gia Định và đến lượt vùng này trở thành trung tâm chính trị, kinh tế của cả xứ Đồng Nai. Nhiều tác giả văn học xuất thân từ nhiều vùng khác nhau, kể cả Biên Hòa, đã tụ về đây (để học hành, thi cử, làm quan, sinh hoạt văn nghệ...). Trịnh Hoài Đức kể, sau biến cố năm 1776 (nghĩa quân Tây Sơn do Đông Định vương Nguyễn Lữ đánh chiếm cả ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ rồi rút đại quân về Quy Nhơn), chính ông cũng đã bỏ quê cũ là xã Thanh Hà (Trấn Biên) về ngụ tại huyện Tân Long, Phiên An. Tại đây, ông đã gặp và kết bạn với Ngô Nhơn Tịnh rồi sau đó không lâu, hai người đã lập nên nhóm Gia Định sơn hội. Sau những biến cố này, Gia Định cũng đóng luôn vai trò là trung tâm văn hóa của cả Nam bộ. Quê hương Biên Hòa đã góp vào trung tâm ấy một người xuất chúng: Trịnh Hoài Đức. Cũng từ đây cho đến hết thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức là nhà văn hóa lớn nhất miền Nam. Bộ Gia Định tam gia thi gồm 3 tập thơ của Trịnh Hoài Đức (Cấn Trai thi tập), Lê Quang Định (Hoa nguyên thi thảo) và Ngô Nhơn Tịnh (Thập anh thi tập) ví như một tập đại thành về bộ phận văn học tiêu biểu nhất của Đồng Nai - Gia Định ở cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Riêng Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức có 5 phần:

 - Tựa và bạt của Trịnh Hoài Đức và ba nho sĩ đồng triều là Ngô Địch Cát, Ngô Thời Vị và Cao Huy Được;

 - Thối thực truy biên tập gồm 127 bài thơ, được Trịnh Hoài Đức sáng tác vào thời kỳ phiêu bạt nhiều nơi (1782 - 1801), bộc lộ rõ nhất tình cảm của ông đối với quê hương Việt Nam.

 - Quan quang tập, gồm 152 bài thơ viết trong thời gian tác giả đi sứ Trung Quốc (1802 - 1803). Phần này còn có tên là Bắc sứ thi tập mà lâu nay nhiều người cứ nghĩ đây là một tập thơ riêng của ông bên cạnh Cấn Trai thi tập.

 - Khả dĩ tập, gồm 48 bài thơ và văn xuôi, Trịnh Hoài Đức viết từ 1804 - 1818. Thời gian này, họ Trịnh lúc ở Nam bộ làm Hiệp Tổng trấn Gia Định, lúc ở kinh đô làm Thượng thư bộ Lễ và bộ Lại, trở thành một trong tứ trụ của triều đình.

 - Tự truyện, gồm những ghi chép của nhà thơ về gia đình, bước hoạn lộ, đi sứ, tự bạch về sáng tác... Phần này được viết vào năm 1819 và có lẽ đây cũng chính là thời điểm kết thúc của tập thơ. Sáu năm sau, nhà thơ mất, không rõ những sáng tác trong thời kỳ này được tập hợp ở đâu?.

Kể chi tiết về quá trình sáng tác của một nhà thơ Đồng Nai để lại thấy rằng văn học nơi đây là thành tố trong một chỉnh thể phức hợp. Người sáng tác có tầm cỡ thì con đường lại càng không đơn giản, phạm vi hoạt động và ảnh hưởng càng rộng. Nếu chỉ bó hẹp ở những gì viết "ở Biên Hòa" và viết "về Biên Hòa" thì sẽ rất khó hiểu hết quá trình hình thành và phát triển của văn học ở một vùng đất mới mẻ và sôi động!.

5. Năm 1802, triều Nguyễn được thiết lập, dinh Trấn Biên (năm 1808 được đổi thành trấn Biên Hòa), do có một thời gian dài trên 10 năm không bị chiến tranh, dân cư đã trở nên đông đúc, kinh tế được hồi phục và phát triển. Trong thời kỳ này, điểm đáng lưu ý nữa là sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục và khoa cử. Như bất cứ một vương triều nào mới được xác lập, nhu cầu về quan chức của triều Nguyễn khá lớn. Vì vậy, vừa mới lên ngôi, Gia Long đã quyết tâm chấn hưng giáo dục và khoa cử bằng một loạt các chủ trương và biện pháp cụ thể. Thời đó, ở Biên Hòa, cũng như cả nước, mỗi làng được cử ra một người cho miễn dao dịch để dạy học. Bên cạnh các trường tư của các nhà nho trong dân gian, xuất hiện các trường tỉnh, trường phủ, trường huyện có các quan đốc học, huấn đạo trông coi. Đây là nguyên nhân trực tiếp đã khiến giáo dục Biên Hòa phát triển có tính nhảy vọt. Chẳng bao lâu sau, vùng đất mới này này đã có những ông cử đầu tiên và đó cũng là những ông quan lập thân bằng con đường khoa cử. Theo Quốc triều hương khoa lục ([4][10]), trong 19 kỳ thi Hương dưới triều Nguyễn (từ khoa thi Quý Dậu, 1813 đến khoa Giáp Tý, 1864), đất Biên Hòa có 22 người đỗ cử nhân. Có người đỗ thủ khoa (Bùi Hữu Nghĩa, giải nguyên khoa Ất Mùi; Phạm Văn Trưng, giải nguyên khoa Quý Mão); có người như cử nhân Đào Trí Phú sau này làm chủ khoa trường thi Thừa Thiên - trường thi lớn nhất nước thời đó... Đây là những ông cử, rồi những ông quan và cũng là các tác giả văn học, vì thời xưa không có ông quan nào xuất thân khoa cử lại không biết làm thơ. Sau này, Trịnh Hoài Đức, đại thần triều Nguyễn quê Trấn Biên, đã nhận xét về vai trò giáo dục đối với sự phát triển văn hóa, văn học của quê hương ông: Lúc đầu trung hưng (triều Nguyễn) đặt chức đốc học, ban bố học quy, mở khoa thi, lối học cử nghiệp phát khởi, từ đấy lý học cùng văn chương đều thịnh hành tốt đẹp, mà văn phong mới trỗi dậy ([5][11]).

Diện mạo và đặc trưng chủ yếu:

1. Loại hình tác giả.

Đến nay, không riêng gì Đồng Nai, rất khó khăn trong việc xác định đội ngũ sáng tác văn học thời kỳ này. Thứ nhất, đây là giai đoạn lịch sử nhiều biến động, chiến tranh liên miên, ranh giới hành chính không ổn định. Võ Tánh, người Phước An, dinh Trấn Biên, lớn lên theo Nguyễn Ánh đi chinh chiến khắp Đàng Trong. Trịnh Hoài Đức sinh ra và ở Biên Hòa đến năm trên 10 tuổi lại chuyển về thành Phiên An, nhưng khi mất lại được đưa về quê, làng Bình Trước. Hoặc Ngô Tòng Châu lại vốn ở trấn Bình Định, sau vào xứ Đồng Nai, khi Trịnh Hoài Đức làm Ký lục Trấn Định, họ Ngô làm Ký lục Trấn Biên. Một tác giả xuất hiện muộn hơn, Bùi Hữu Nghĩa (1807 - 1872), người thôn Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh. Sinh ra trong một gia đình nghèo, hiếu học, nên để phát triển tài năng, người cha đã cho Bùi Hữu Nghĩa lên trọ nhà ông Nguyễn Văn Nghĩa, ở làng Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, tỉnh Biên Hòa, để theo học thầy Đỗ Hoành. Từ đây, ông đi thi Hương, đỗ Giải nguyên trường Gia Định. Sau một thời gian tập sự ở bộ Lễ, Bùi Hữu Nghĩa được cử làm tri huyện phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa... Nhiều nhà nho Biên Hòa sau khi đỗ đạt đã được triều Nguyễn bổ nhậm làm quan rất xa quê hương. Chẳng hạn, ông Huỳnh Văn Tú, người huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, làm Bố chánh tỉnh Cao Bằng; Đào Trí Phú, người huyện Long Thành, làm Tham tri bộ Hộ, rồi Tổng đốc Nam Ngãi; Phạm Văn Trưng, người huyện Ngãi An, làm Đốc học tỉnh An Giang v.v..Lý do thứ hai là danh xưng Đồng Nai vốn ban đầu là cả vùng Nam bộ, có khi dùng để chỉ ba tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường). Song, điều quan trọng hơn, không chỉ là danh xưng, cả vùng đất rộng lớn vốn gắn bó mật thiết với nhau, sự phân chia chỉ mang tính chất hành chính: Nhắc tới Đồng Nai là nhắc tới cái xứ Đàng Trong, một vùng đất mới khai phá ([6][12]). Nhìn sang văn học dân gian, nhất là ca dao, dân ca, điều này càng rõ hơn:

 - Đồng Nai gạo trắng như cò

Bỏ cha, bỏ mẹ, xuống đò theo anh.

 - Tiếng đồn con gái Phú Yên,

Đồng Nai đi cưới một thiên cá mòi...

Một lý do nữa khiến việc tìm hiểu và xác định đội ngũ sáng tác văn chương giai đoạn này khó khăn là sự mất mát sau khi vùng đất này trải qua quá nhiều biến động. Ngay cả những tác giả nổi tiếng, công tác văn bản cho đến nay cũng không dễ dàng gì. Đặc biệt, sau sự kiện 1858, nhiều tác giả văn học Đồng Nai đã là những sĩ phu kháng Pháp, sáng tác của họ chủ yếu lại được lưu truyền trong dân gian. Vì thế, khó có thể đòi hỏi sự phân định rạch ròi với những tiêu chí có sẵn của các vùng, miền văn học khác đối văn học Đồng Nai - Gia Định.

2. Những khuynh hướng đan xen:

Hình thành và phát triển trong khoảng thời gian trên, dưới 100 năm, kể từ nhóm Gia Định sơn hội xuất hiện, đánh dấu bước trưởng thành của đội ngũ trí thức ở vùng đất mới, văn học thành văn Đồng Nai có một số khuynh hướng chủ yếu, đậm nhạt theo từng thời gian khác nhau: Ca tụng vương triều nhà Nguyễn (trước và sau năm 1802); khắc họa hình ảnh quê hương, đất nước, cuộc sống đời thường; khát vọng hòa bình, thịnh trị... Dĩ nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối và cần phải được đặt trong những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể.

2.1. Phân vân trong ca tụng:

Như đã nói, hầu hết các tác gia văn học thời kỳ này đồng thời là những “ông quan” triều Nguyễn. Có người là đại thần, nắm giữ hai bộ, hàm nhất phẩm như Trịnh Hoài Đức; có người chức quan nhỏ, nhưng chí ít cũng là tri phủ, tri huyện như Bùi Hữu Nghĩa. Vì thế, sự ca tụng chế độ cùng thời đại họ đang sống là điều tất nhiên. Huống chi, vương triều ấy, buổi ban đầu, đối với họ có ý nghĩa như cuộc tao ngộ để thỏa chí nam nhi và được bộc lộ tài năng, sức lực giúp đời. Năm 1794, khi gặp một nhà nho Bắc Hà là Đặng Trần Thường tìm cách vào Nam với Nguyễn Ánh, Trịnh Hoài Đức đã khuyên:

Tương phùng mạc tụ kinh luân thủ

Tự cổ anh hùng quý đắc quân

(Tương phùng chớ dấu kinh luân

Anh hùng quý được minh quân mà thờ)

Họa Bắc Hà Đặng Trần  Thường

 đầu Nam tự tự nguyên vận ([7][13])

Hoặc lúc “Ở binh trường được tin con trai trưởng là Thiên Tích chết” (Binh trường đắc trưởng tử Thiên Tích vong tín), Trịnh Hoài Đức dù nước mắt ròng ròng (lệ hàng hàng), nhưng thờ vua, bận chốn sa trường, chỉ thương mệnh con là ngắn ngủi (Sự quân ngã thượng trại sa trường... Diên Quảng đồ tăng mệnh đoản thương).

Phù Nguyễn đối với các nhà thơ Đồng Nai - Gia Định không chỉ là tư tưởng mà còn là tình cảm và nhiệt huyết. Vì thế, Trịnh Hoài Đức ca tụng hành động của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở thành Quy Nhơn, xem đây là những người có công với nước nhà, đáng được thờ tự:

Tam tải thân khinh bách chiến trung

Thành cô lương tuyệt khốn anh hùng.

Đột vi bất nhẫn nhân vi tịch,

Báo quốc duy tri ngã phỉ cung.

Bát giác hỏa đồng tâm cộng xích,

Thiên thu danh dữ nhật tranh hồng.

Tha niên nghĩ phỏng vân đài họa,

Tưởng tướng ưng suy đệ nhất công.

(Trăm trận ba năm ở giữa vòng

Thành cô, lương hết, khốn anh hùng.

Phá vây chẳng nỡ đem người thí,

Báo quốc riêng bền giữ dạ trung.

Bát giác lòng son cùng lửa đỏ,

Thiên thu danh rạng sáng trời hồng.

Đài mây những nghĩ sau này họa,

Văn võ nên tôn đệ nhất công) ([8][14])

Còn Lê Quang Định khi nghĩ về Võ Tánh và Ngô Tòng Châu đã xem đây là những tấm gương trung liệt:

Phấn cốt phong viêm Tây tái bạch

Đan tâm nhật diệm Việt thiên hồng.

Võ hậu quân hỏa

 (Gió tung tro nghĩa, non Tây trắng

Lửa rực lòng trung, đất Việt hồng)

Sẽ rất buồn cười nếu chê trách các nhà thơ xứ Đồng Nai chỉ vì các vần thơ này. Có điều, khi viết như vậy, các nhà thơ không chỉ nghĩ đến triều Nguyễn hay những người đứng đầu tập đoàn phong kiến này. Khi qua đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Lâm Tấn, một nhà thơ chống Tây Sơn, đã phần nào thấy được công tích của tiền nhân và ý chí của lớp hậu sinh:

Bạch thảo thê thê cổ tái trần

Hoang thành bỉ kiến dã hoa tân.

Thiên tương sự nghiệp qui tiền đại,

Địa dĩ sơn hà chúc hậu nhân

Phong vũ di khôi chinh chiến cốt

Tử tôn trường thác loạn ly thân

Bình sinh nhất trích, tầm thường lệ

Bất khấp trung thần, khấp loạn thần.

         Đề Lễ công từ

(Bụi trắng niêm phong cỏ bạc màu

Thành hoang hoa nở, cảnh buồn sao!

Trời đem sự nghiệp hoàn đời trước,

Đất giữ non sông gán kẻ sau.

Mưa gió chưa tiêu xương chiến sĩ,

Cháu con đã vướng nạn binh đao.

Bình sinh chẳng khóc tôi trung nghĩa,

Chỉ khóc loạn thần quấy rối nhau) ([9][15])

Sau đó không lâu, đi qua lũy Hoa Phong ([10][16]) (còn gọi là lũy Tân Hoa, ở huyện Phước Chánh, phủ Phước Long), Trịnh Hoài Đức thấy đó là công nghiệp giữ nước của ông cha:

Lâm ngoại Hoa Phong thủy ngoại thôn,

Tướng quân tiên khứ lũy do tồn.

Vân vi đoản điệp khai trù ốc,

Vũ tẩy không hào xuất hoạch đôn.

Liệp tử chí kim côi giảo thỏ,

Hồ nhi tự tích quẩy hàng phôn.

Thánh triều thùy củng tu văn trị,

Thiên lý quan hà bất bế môn.

Hoa Phong cổ lũy

Dịch nghĩa:

Lũy ở ngoài rừng, ngoài cả sông,

Tướng quân đã mất nhưng lũy vẫn còn.

Mây vòng bờ ngắn mở ra các doanh trướng,

Mưa rửa sạch bờ hào như bức vẽ.

Người đi săn tới nay còn sợ thỏ khôn,

Giặc dữ từ xưa đã phải treo cờ hàng.

Triều vua thánh rủ áo để sửa sang văn trị,

Ngàn dặm non sông mở rộng cửa.

Sự hăng hái lập thân của các nhà thơ xứ Đồng Nai được đẩy lên phạm vi rộng hơn việc phù trợ nhà này, triều kia. Đó là việc báo đền cho đất nước, sáng tỏ chí trượng phu. Khi cùng hai bạn Trần Tuấn và Hà Bình trên sông Xích Hạ (Đồng Trần Tuấn, Hà Bình Xích Hạ chu trung tạp vịnh), người bạn thân thiết nhất của Trịnh Hoài Đức, Nhữ Sơn Ngô Nhơn Tịnh đã thổ lộ:

Tráng sĩ tự năng thù quốc trái

Trượng phu thùy khẳng vị thân mưu.

(Tráng sĩ bền gan cần phải đền bồi nợ nước,

Trượng phu lập chí nào nghĩ đến việc riêng mình)

Còn Trịnh Hoài Đức, nhân vịnh về cây mai nước Nam (Nam mai), đã nói mọi người đừng nghĩ rằng nước Nam không có những vị tướng giỏi như Tống Địch Thanh của Trung Hoa (Mạc vị Nam triều vô Tống tướng). Với các nhà văn, nhà thơ, bao giờ tư tưởng cũng phức tạp, phong phú hơn và nhất là không đồng nhất với lập trường chính trị của họ.

2.2. Hình bóng quê hương:

Các nhà thơ chủ chốt của Bình Dương thi xã mặc dù nghiền ngẫm Đường thi, Kinh thi từ hồi còn trẻ và hầu hết đều có thời gian dài đi sứ Trung Quốc nhưng khi làm thơ thì hình ảnh đầu tiên lại chính là quê hương, đất nước của mình. Trịnh Hoài Đức là người viết rất nhiều thơ nói về quê hương ông, từ bến đò Tân Triều (Tân Triều đãi độ), Cù lao Rùa (Qui Dữ vãn hà), núi Châu Thới (Chiêu Thái tình yên), làng Bến Cá (Ngư Tân sơn thị), đến Tân Kinh (Tân Kinh thần mục), Thùy Vân (Thùy Vân quất phố)... Sau này, nhiều vùng đất đi qua, Trịnh Hoài Đức đều có thơ, như: Trấn Định (Trấn Định xuân canh), Bến Nghé (Ngưu Tân ngư địch), Long Hồ (Long Hồ ấn nguyệt), Tân Châu (Tân Châu dạ cổ)... Trong thơ tác giả Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định), hay Thập anh đường thi tập (Ngô Nhơn Tịnh) cũng không thiếu những cảnh sắc quê hương nước Việt. Cũng nên nhắc, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh vốn là người Minh Hương, nhưng từ lâu đất Việt đã là quê hương ruột thịt của các ông. Khi phải lánh nạn sang Campuchia hay đi sứ Trung Quốc, các nhà thơ đều giãi bày nỗi “hoài hương”: Cố quốc âm thư vạn lý tình (Nước cũ âm tin mấy dặm trình - Khách Cao Miên quốc hoài Diệp Minh Phụng, Trịnh Hoài Đức) và luôn xem mình là khách từ nước Việt: Thừa mao ngã thị Nam lai sứ (Cầm cờ mao ta là sứ từ nước Nam tới - Tặng Hổ môn Tả dực tổng binh Hoàng Tiêu, Trịnh Hoài Đức).

Quê hương Biên Hòa trong buổi đầu của văn học viết, trước hết, đó là một miền quê giàu có, sung túc, người dân hiền lành chất phác:

Trấn Biên chu thổ hải chi tưu,

Phá hiểu sừ vân mục tử trù.

Xích huyện hôn mai lê đãi tận,

Hắc lô vu uế tịch tương chu.

Vũ nhiêu sơn giản thần khai yển,

Thảo dụ xuân dê vãn phóng ngưu.

Vạn khoảnh yên hà thu thập túc,

Qui lai sơ nguyệt hạ kiên đầu.

Trịnh Hoài Đức - Chu thổ sừ vân

(Trời hôm vừa lóe rạng đông

Từng đàn lũ lượt ra công dựng làng.

Gần đô thị cây hoang phá rạp,

Đất đen sì vỡ nát dưới tay.

Nhờ mưa khe núi nước đầy,

Sáng đi tháo đập nuôi cây tốt vườn...

Trăng non vừa gác mái tây,

Nông phu vác cuốc khoan thai đi về) ([11][17]).

Hay cảnh một Phiên chợ núi Bến Cá (Trịnh Hoài Đức, Ngư tân sơn thị):

Điền cầm liệp thú sung Tùng tứ,

Tì hiện trung ngư mãn Trúc phường.

(Săn bắn chợ Tùng nhiều giống thú,

Đó đăng, phố Trúc lắm cá sông) ([12][18]).

Đặc biệt, con người Biên Hòa, Nam bộ hiện lên rõ nét, không chỉ là những thiếu nữ đài các hay các chàng sĩ tử thâm nho như ở đất Bắc Hà mà dung dị, siêng năng, cần mẫn:

Quất xã nhân giai sự chức nhâm,

Tào ty phụ nữ các gia tâm.

(Làng Quít người người chuyên dệt lụa,

Ươm tơ, phụ nữ những quên mình).

Trịnh Hoài Đức, Quất xã táo ti

Học đồng sương lý hồng kiều khứ

Điểu tẩu yên lăng thủy hử ca.

Thôn lạc sinh nhai cần thiếu phụ,

Thiềm tiền yêu nguyệt giản miên hoa.

Trịnh Hoài Đức - Long Tịch thôn cư tạp vịnh

Cầu vòng, trò nhỏ trong sương sớm,

Ông lão buông cần cất tiếng ca.

Lặn lội thân cò người thiếu phụ,

Ngồi trông cửa trước nhặt cành hoa

Trong tác phẩm của Lê Quang Định, một nhà thơ của nhóm Bình Dương thi xã, người nổi tiếng làm thơ nhanh, vẽ khéo, viết chữ đẹp, khi đi sứ Trung Quốc rất được khen phục, cảnh sắc thôn dã ngang tầm với những bức tranh đã thành cổ điển trong văn học cổ:

Hiểu khán bồng song ngoại

Giang thiên cảnh sắc u.

Thôn cô trang địa diện,

Dã tẩu thế sơn đầu.

Diểu diểu bạch vân quyển

Thao thao bích thủy lưu...

Dịch nghĩa:

Sáng sớm nhìn ra ngoài cửa thuyền,

Cảnh sắc trời sông có vẻ lờ mờ ảm đạm.

Cô gái làng trang điểm cho mặt đất,

Ông lão nhà quê cạo cái đầu núi.

Làn mây trắng bay vèo vèo,

Dòng nước biếc chảy cuồn cuộn...

Triêu họa hứng

Rõ ràng, các nhà thơ của đất phương Nam, tuy xuất thân Nho học, nhưng quan niệm thẩm mĩ không có vẻ gì của lối là tầm chương trích cú, lấy những điển tích, điển cố trong văn học Trung Hoa làm khuôn vàng thước ngọc như các nhà thơ đương ở các vùng đất khác. Họ sống gần gũi với nhân dân, kể cả lúc đã là quan to, nên khi tập hợp nhau thành một thi xã thì những bài thơ xướng vịnh với nhau lại lấy đề tài gần gũi trong cuộc sống hằng ngày. Đôi mắt quan sát của các nhà thơ Đồng Nai - Gia Định là đôi mắt của người trong cuộc và dường như không có khoảng cách nào giữa họ, những ông quan đầu triều, với người tiều phu, nông phu hay những phụ nữ ươm tơ dệt vải mà Lộc Động tiều ca ([13][19])(Trịnh Hoài Đức) có thể xem là một bài thơ rất tiêu biểu:

Phong phi tiều phát bạch ba ba,

Lộc Động sơn trung xuất tính ca.

Dã điệu thanh tòng trác thụ chấn,

Thôn xoang vận dữ lưu truyền hòa.

Vân phi hữu ý lưu liên cửu,

Hạc thị tri âm quyến luyến da.

Nhật mộ qui lai lão phụ vấn,

Vi ngôn tằng kiến tấn đồng đà.

Dịch nghĩa:

Gió lùa mái tóc người tiều phu trắng pho pho,

Trong núi Động Nai vẳng tiếng hát.

Điệu quê mùa vang theo tiếng chặt cây,

Vần thôn đã hòa với tiếng suối reo.

Mây không phải vô cớ có mà ngừng lâu,

Hạc đã là tri âm nên quyến luyến nhiều.

Chiều xuống về nhà bà vợ hỏi

Nói rằng đã từng thấy bạn đồng đà.

2.3. Hé mở một hiện thực:

Không dừng lại ở chỗ khắc họa vẻ đẹp quê hương, sinh hoạt đời thường của người dân, tuy chưa nhiều, nhưng phần nào các tác giả văn học Đồng Nai - Gia Định đã hé mở một hiện thực khác trong lòng xã hội Đàng Trong. Đó là nỗi thống khổ của dân lành vì loạn lạc, chiến tranh liên miên, vì đói kém. Ở đây một lần nữa lại chứng minh rằng, cảm quan hiện thực và tấm lòng nhân đạo của các nhà thơ đã lấn át quan điểm chính thống của các ông quan.

Ông quan đầu triều Trịnh Hoài Đức lại chính là người nói nhiều và xúc động nhất về nỗi khổ đau do chiến tranh:

Tam ngũ đông lân tẩu

Hành khiêu thái đạo lương

Loạn hậu quy

(Năm ba ông lão xóm đông

Hái rau thay gạo đỡ lòng sớm hôm)

Khi phải lánh nạn sang đất khách (Nguyên nhật khách Cao Miên quốc), bản thân cũng chịu cảnh cơ hàn không kém gì dân thường (Cao thử Tân Châu tài á tuế - Ăn trọ cháo rau ở Tân Châu đã gần một năm) và nếu không có tiếng nhạc, nhà thơ cũng không biết Tết đã đến (Phầu già Chân Lạp hốt nguyên triêu). Cảnh loạn lạc mất mát như một nỗi ám ảnh nhà thơ. Tiễn Ngô Nhơn Tịnh đi sứ Trung Quốc (Tống Ngô Nhữ Sơn chi Quảng Đông), Trịnh Hoài Đức nói lưu luyến mà rượu biếng rót (tương thù tửu mạn châm), thơ không ngâm thành câu (thi cú bất thành ngâm). Ông còn kể nhà mình nghèo, mẹ lại bệnh; nước loạn lạc, bạn phải bỏ quê và không biết đến bao giờ mới có ngày thái bình? (Thái bình khánh hội tri hà nhật?). Cùng một nỗi lòng như vậy nên đang ở đất Trung Hoa, Hữu tham tri bộ Binh Ngô Nhơn Tịnh xiết nỗi mừng vui khi nhận tin quê nhà đã hết cơn binh lửa:

Khách địa u hoài tùy lạp khứ

Cố hương hỉ tín cộng xuân lai.

Nguyên nhật ngẫu thành

(Đất khách sầu đi theo tháng chạp

Quê xưa vui đến với tin xuân ).

Bài Thương loạn (Cảm thương cảnh loạn lạc) của Trịnh Hoài Đức có lẽ xứng đáng là bức tranh khái quát và đầy xúc động nhất về các cuộc chiến tranh tàn khốc cuối thế kỷ XIX:     

Hồi thủ kinh hoa lệ ám thùy

Sinh dân đồ độc thị triều di.

Liễu doanh vũ cấp, tướng tinh trụy,

Hoa huyện xuân hoang chiến mã trì.

Bão thực nha nha giao tháo hỉ,

Vô y lân quỷ dạ đề bi.

Giang lưu bán thị anh hùng huyết,

Chân tể minh minh tri bất tri ?

(Kinh sư nhòa lệ ngoảnh đầu trông,

Triều chợ, sinh linh cảnh hãi hùng.

Doanh Liễu mưa mau, sao tướng rụng,

Huyện Hoa xuân vắng, chiến công giong.

No nê đàn quạ kêu mừng rỡ,

Vất vưởng ma trơi lúc não nùng.

Pha máu anh hùng sông một nửa,

Trời cao mờ mịt biết hay không ?)

Sau năm 1802, vùng đất Nam bộ thêm một lần chịu cảnh binh đao. Đó là cuộc binh biến của Lê Văn Khôi. Tuy chỉ kéo dài có 2 năm (1833 - 1834), nhưng sự kiện này lại tác động nhiều mặt đến đời sống tinh thần của toàn vùng. Trước hết là nhân dân, sau vài thập niên mới sống trong cảnh thanh bình lại lâm vào đói khổ. Sáu năm sau cuộc binh biến này, Đoàn Uẩn, vị quan từ đất Bắc Hà, khâm sai sang Trấn Tây (Campuchia) còn sững sờ trước cảnh hoang tàn của vùng Đồng Nai - Gia Định:

Ngư diêm như thổ đạo miêu phì,

Phong vật nhân dân ký nẵng thì.

Khả tích tự tòng khai hấn họa,

Chí kim do vị khởi sang di...

Quá Gia Định tỉnh thành hữu cảm ([14][20])

Dịch nghĩa:

Cá muối nhiều như đất, lúa mạ tốt mượt,

Nhớ lại cảnh vật và nhân dân lúc trước.

Khá tiếc từ sau khi có vạ chiến tranh,

Đến nay vẫn còn chưa hàn gắn hết vết thương...

Sự kiện này, đối với triều Nguyễn, chứng tỏ Nam kỳ lục tỉnh đã không còn chỗ dựa vững chắc, vùng đất từng nuôi dưỡng tập đoàn phong kiến này như trước. Còn đối với tầng lớp nho sĩ Nam bộ, nó như một thứ ánh sáng mới rọi vào lớp sương mờ đang giăng trong tâm tưởng họ về triều Nguyễn. Để rồi, sau đó không lâu, một Bùi Hữu Nghĩa vì thanh liêm, cương trực đã bị giáng chức từ tri huyện phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa xuống làm Tri huyện Trà Vang. Từ đó, nhà thơ thấm thía hơn sự vô dụng vì đi theo con đường hoạn lộ ở buổi xế chiều của một vương triều:

Tu mi tự đắc bá phu trưởng!

Tái thượng ta đà niên hựu niên...

Trấn đồn Vĩnh Thông

(Nam nhi được đứng đầu trăm gã !

Trên ải thờ ơ, tuế nguyệt trôi...)

Hoặc, Nguyễn Đình Chiểu sau những lần “đã từng lê gót phong trần(2) qua đất Đồng Nai, đã vẽ nên cảnh hết sức thảm sầu:

Vân Tiên chi xiết nỗi sầu

Tiểu đồng dìu dắt qua cầu Lá Buôn.

Lục Vân Tiên

Thậm chí, sau khi dõi theo cuộc đời tài hoa nhưng đầy tai ương, bất trắc của Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu, qua miệng của Sở vương, đã thay đổi cả bộ máy triều chính:

Sở vương phán trước triều ca

Thái sư cách chức về nhà làm dân...

Còn Bùi Hữu Nghĩa không chỉ hành động trong thơ văn mà nỗi căm giận bọn tham quan ô lại được ông thể hiện bằng hành động thực tiễn để đến nỗi phải suýt chết nếu không có người vợ khôn ngoan, hiền thảo và hết mực yêu chồng.

Như vậy, từ ước muốn “giành ngọn gió nam tốt lành giải nỗi hận cho dân” (Tranh nghĩ Nam huân giải uẩn dân) và  “khuyên người chớ nên tránh nơi nóng bức vì vốn có lòng cứu vớt dân đen” (Khuyến cừ mạc tịch viêm viêm thế/ Khang tế thương sinh hữu tố tâm - Triết Giang giám sinh Lục Phương Ngô cái đề trúc bạch phiến tam chi kiêm sách tặng) của Trịnh Hoài Đức, các nhà thơ Đồng Nai - Gia Định đã tiến một bước gần hơn về phía nhân dân trước ngày họa ngoại xâm kéo đến. Đặt trong bối cảnh chung của cả nền văn học dân tộc, chúng ta thấy, đó là sự chuyển mình của hầu hết các tác giả giai đoạn này: Trừ các nhà vua, hầu hết người cầm bút đều có những trang tố cáo hiện thực trong tác phẩm của mình (...) Cao Bá Quát là kẻ chống đối triều đình, con mắt thế tất phải nhìn thấy thực tế xấu xa của giai cấp thống trị đã đành, những kẻ khác như Nguyễn Hàm Ninh, Hà Tôn Quyền, Nguyễn Văn Siêu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định... cũng đều một cách nhìn đối với hiện thực cuộc đời làm quan dưới triều Nguyễn (1).

2.4. Những lệch chuẩn khác thường.

Một trong những điểm khác lạ văn học Đồng Nai giai đoạn này là có sự lệnh chuẩn khá lớn so với văn học trung đại trước đó và cả văn học Bắc Hà cùng thời. Cảm quan hiện thực và tinh thần nhân đạo đã khiến các tác giả nêu lên bức tranh hiện thực nhiều lúc không mấy tươi sáng. Hơn thế nữa, cũng vẫn tinh thần và cảm quan ấy, nhiều người vượt qua những định kiến thông thường của giáo điều Nho gia, thậm chí có lúc quên mình đương là các đại quan của triều đình. Trịnh Hoài Đức trước khi đi sứ Trung Quốc đã viết cả 18 bài thơ Nôm, thứ chữ mà đương thời được vua Quang Trung khuyến khích còn triều Nguyễn lại không mấy mặn mà. Song, điều đáng nói hơn chưa phải là văn tự mà Trịnh Hoài Đức dùng. Trong bài Từ giã mẹ đi sứ, ông khẳng định: Trọn đạo con là trọn đạo tôi, điều nghe rất lạ trong khẩu khí của một người đọc sách thánh hiền, huống chi đây lại là ông quan Chánh sứ, Thượng thư bộ Hộ. Lúc này, con đường hoạn lộ của Trịnh Hoài Đức đang thênh thang, nhưng trong lúc  “trăng lòa ải Bắc nhàn chinh bóng”, tác giả lại than vãn:

Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt,

Công danh nghĩ lại ướt mồ hôi

Lúc trai trẻ,  “tam gia” đất Nam Hà quyết chí lập công nhưng rồi lại xem nhẹ lợi danh, nhiều lúc muốn trở về với cuộc sống an nhàn nơi thôn dã:

...Xuân tứ vô nhai tùy xứ lạc,

Nhân sinh thích ý kỷ thời phùng.

Giải lan vị vấn anh trần khách:

Ngũ đẩu như hà tửu nhất chung ?

Trịnh Hoài Đức - Tửu điếm xuân du

(...Xuân tứ mênh mông tùy chốn hưởng

Nhân sinh mấy thuở thỏa lòng mong.

Lợi danh hỏi khách khi tàn cuộc:

Năm đấu bằng chăng một rượu chung?)

Trong loạt bài Thuyết tình ái (Nói về những điều ưa thích), Ngô Nhơn Tịnh bộc lộ một phong cách ngất ngưỡng hết sức lạ lùng:

Xuân ái thảo đường giác thụy thiên,

Tĩnh quan vạn lý cẩm sơn xuyên.

Mạc từ tôn tửu hoa tiền khuyến,

Chỉ khủng oanh đề hựu nhất niên.

(Xuân thích nhà tranh tỉnh giấc êm,

Non sông như gấm lặng nhìn xem.

Trước hoa chuốc chén anh đừng ngại,

Chỉ sợ oanh kêu báo tuổi thêm) ([15][23])

Ước nguyện mùa hè đối với nhà thơ là bắt chước đám trẻ, làm ra vẻ người Hy Hoàng ([16][24]) thượng cổ nằm khểnh trước cửa sông cao (Cao ngọa Hy Hoàng học thiếu niên); mùa thu, thích ở sân quế ngắm trăng và chớ phụ những đêm sáng sủa (Thu ái quế đình ngoạn nguyệt thiên... Mạc phụ thanh quang bất dạ niên)...

Thành ra, ngay lúc phụng mệnh vua đi lo việc đại sự quốc gia (các nhà thơ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định đều nhiều lần đi sứ Trung Hoa) hễ có dịp là các nhà thơ xứ Đồng Nai để mắt đến cuộc sống của những người dân thường, đánh bạn, nâng ly ca hát cùng họ và nghĩ đến quê hương, nhất là hiền nội của mình. Vì thế, thơ đã trở nên tự nhiên và thành thực hơn.

Đào Trí Phú là một gương mặt đặc biệt của nho sĩ và văn học Đồng Nai. Đào Trí Phú người thôn Phước Kiển, tổng Thành Tuy, huyện Long Thành, phủ Phước Long. Sinh ra trong một gia đình nền nếp Nho phong, ông nội là Thị giảng Học sĩ Đoan Kinh. Năm Minh Mạng thứ 19 (Mậu Tuất, 1838), cha ông được ban chức Trung nghị đại phu Thái bộc tự khanh. Người mẹ, dù đã mất năm ông còn khá trẻ, vẫn được sắc phong Tam phẩm thục nhân. Anh em ông buổi đầu đều theo con đường khoa cử. Đào Trí Phú đã đỗ cử nhân khoa Ất Dậu (1825) ở trường thi Gia Định, cùng với các bậc tài danh như: Phan Thanh Giản, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Đăng Giai... Họ Đào làm quan trải các triều: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, từng giữ các chức Thị lang bộ Hộ, Tham tri bộ Binh. Năm 1858, trước nguy cơ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, vua Tự Đức đã cử Đào Trí Phú làm Tổng đốc Nam Ngãi. Tại đây, ông cùng Nguyễn Duy (em ruột Nguyễn Tri Phương) đánh bật quân Pháp khi chúng định tiến vào Đà Nẵng theo dọc sông Hàn. Sau thất bại này, thực dân Pháp đổi hướng, tấn công vào Gia Định. Còn trước đó, Đào Trí Phú từng được cử làm trưởng phái đoàn của triều đình đi tiếp phái bộ Mỹ (1836); Chủ khảo trường thi Thừa Thiên (1842); dẫn đầu đoàn các quan lại triều Nguyễn, trong đó có Cao Bá Quát, Trần Tú Dĩnh, Hà Tôn Quyền, đi nhiều nước Đông Nam Á (1843)... Tuy nhiên, sau năm 1864, Tự Đức tận diệt nhóm Hồng Bảo (con trai cả của Thiệu Trị), trong đó có Đào Trí Phú. Ông đã từ bỏ kinh thành, cải trang, trốn về Nam, nhưng triều đình đã cho người theo dõi và giết tại Diên Khánh. Nghe tin này, con cái họ Đào ở Biên Hòa đã cải thành họ khác. Những gì liên quan đến một ông quan hay chữ như Đào Trí Phú cũng dần mai một theo thời loạn.

Tác phẩm duy nhất của Đào Trí Phú còn lại cho đến ngày nay là hai bài văn bia ông khắc trên mộ mẹ và cha của ông vào tháng mười năm Tân Sửu (1841) ([17][25]). Trong các bài văn bia này, Đào Trí Phú kể rất rõ về gia đình của mình, với nhiều chi tiết khá cụ thể. Ví như, mẹ ông lấy chồng khá trẻ, nhưng tình cầm sắt rất mặn nồng (Diệu tuế vu quy, cầm sắt thậm giai). Mẹ của Đào Trí Phú còn đặc biệt hơn khi chồng tòng quân, nhà có ba con trẻ, mọi việc bà đều tự làm cả, cần khổ thảy đều nếm đủ lại còn dành giụm được nên khi chồng về nhà đã thành khá giả... Chính vì tình nghĩa sâu nặng này mà mẹ Đào Trí Phú mất năm 45 tuổi, quan Trung nghị đại phu đã không đành cưới vợ lẽ, còn nhà thơ mỗi khi nghe cha kể về bà mẹ “lòng không khỏi đứt từng đoạn ruột”(mỗi linh tiên đại phu đạo chi, tâm trường dục tuyệt). Người cha cũng được Đào Trí Phú khắc họa cụ thể như thế. Điều lạ lùng là, trong các bài văn bia này, Đào Trí Phú đã thể hiện quan niệm của mình về đạo vua tôi có phần giống với Trịnh Hoài Đức trước đó, nhưng sáng rõ và mạnh mẽ hơn. Ở bài văn trên mộ mẹ, Đào Trí Phú viết: “nay nhờ cậy ở mẹ hiền mà tôi được ơn vua đoái tưởng tới”. Việc mẹ ông được vua sắc phong, ông giải thích là “nhờ tài lực và đạo đức của cha tôi đã đem đến điều đó”. Ông khẳng định luân thường, đạo lý theo quan niệm của mình:

Hễ rể ăn sâu thì cành xum xuê. Sức tích chứa đầy thì dòng chảy rạng rỡ. Có trung với vua thì mới có hiếu với mẹ cha. Có hình thành được gia thế thì mới tạo phong hóa cho làng xóm được.

Ôi, đức của cha tôi ban đầu im ẩn mà rồi sau đó tất phát lộ ra. Đó là người tốt thì trời giúp cho, người chứa điều lành thì việc hay đẹp dư thừa vậy.

 Với tình cảm yêu thương mẹ hết mực, Đào Trí Phú viết bài minh thật thống thiết:

 - Chòi quê lạnh lẽo, lều nhỏ trống trơn không cửa nẻo. Đám chăn trâu huyên náo, bầy con nhỏ khóc rang. Cây dung vừa lớn thì lối hoang đã thành đường mòn. Giữ gìn nghiêm cẩn đạo vợ hiền để chồng theo chí lớn. Ôi con đường chồng ta chinh chiến khẩn cấp mà dài lâu, nên cam phận con chim thi cưu kêu trong đám dâu. Nuôi dạy ba trai, đức mẹ hiền sâu thẳm. Nghi dung mờ nhạt, nghi dung mờ nhạt rồi, gương mẹ như vàng ròng!

Khi khắc họa hình ảnh người mẹ hiền, trong lời văn Đào Trí Phú dường như có cả lời oán than về những cuộc chiến chinh dài lâu trước đó.

2.5. Sự bức phá về thi pháp:

Từ những chuyển biến về nội dung, thơ văn Đồng Nai cho đến trước năm 1861 đã liên tục có những bức phá về thi pháp. Tuy xuất thân Nho học nhưng quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ xứ Đồng Nai không có vẻ gì của lối tầm chương trích cú, lấy những điển tích, điển cố trong văn học Trung Hoa làm khuôn vàng thước ngọc như nhiều nhà thơ đương thời ở các vùng đất khác.

Đầu tiên là sự thay thế những bài ngâm vịnh phong, hoa, tuyết, nguyệt mà văn học trung đại đã có đầy dẫy bằng những cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống con người của quê hương, đất nước. Những điển tích, điển cố Trung Hoa văn học xưa hay dùng nay cũng dần ít đi, thay vào đó là các địa danh của xứ sở như: Vân sạn phản kê tiên/ Cảo cầm lai lộc hữu (Trịnh Hoài Đức - Trở lại nhà khách ở Hà Tiên/ Đến Đồng Nai hòa đàn cùng bạn); Long Tịch (tệ xá thôn danh) sai chì phi yến vũ (Trịnh Hoài Đức - Long Tịch (tên thôn, nhà tôi) cánh yến liệng bờ ao)... Ngay cả hình ảnh, cũng ít đi tính ước lệ, mà mang vẻ đẹp sinh động của cuộc sống: Giải điệu nhục điền tàng phẫu xấu/ Bạng thổ thai châu vọng nguyệt phì (Cua thịt náu vào hang gầy xơ xác/ Trai nhả ngọc dưới trăng trông béo ngậy)...

Đặc trưng thi pháp cơ bản của văn học trung đại Việt Nam là  “tinh thần vô ngã và quy phạm” ([18][26]). Nhưng rõ ràng thi pháp ấy đã bị chính các nhà thơ xứ Đồng Nai là những người phá vỡ. Con - người - cá - nhân trong văn chương ngày một lộ dần. Hình ảnh một người uống rượu nằm ngủ dưới khóm hoa, quên cởi áo tơi (Túy ngọc hoa tùng bất thoát thôi), hoặc người kiếm củi vào quán mua rượu uống (Mặc tửu tiều quy cô điếm tịch) không mấy xa lạ trong thơ của nhóm Bình Dương thi xã. Sự bức phá này đến Bùi Hữu Nghĩa (1807 - 1872) đã thêm một bước mới. Hình ảnh người phụ nữ, vợ ông - bà Nguyễn Thị Tồn, đã đi vào văn chương với cả hình hài, dáng vẻ:

...Nơi kinh quốc mấy hồi trống gióng, biện bạch này, oan ức nọ, đấng hiền lương mắt thảy thảy đau lòng.

Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh, lời nghiêm, lũ bàng đảng tai nghe lời mất vía...

Văn tế vợ

Nỗi đau mất vợ của một ông quan được diễn tả bằng những ngôn từ mà có lẽ đời sau còn ngơ ngác:

Anh để nàng chẳng bằng tiền bằng của, mà bằng cái tư hương;

Anh giết nàng chẳng bằng gươm bằng dao, mà bằng cái khổ lụy...

Phụng lìa đôi chếch mác, đừng nói sửa sang giềng môi, khi túng thiếu manh quần tấm áo, biết lấy ai mà cậy nhờ;

Gà mất mẹ chít chiu, đừng nói nhắc biểu học hành, khi lạt thèm miếng bánh đồng hàng, biết theo ai mà thỏ thẻ.

Bùi Hữu Nghĩa còn viết cả câu đối đọc trước mộ vợ:

Đất chẳng phải chồng, bao nỡ thịt xương gửi đó;

Trời mà mất vợ, thử xem gan ruột mần răng.

Nỗi đau mất vợ đã sánh ngang tầm trời đất. Ba năm sau ngày bà Nguyễn Thị Tồn mất, Bùi Hữu Nghĩa, từ đồn Vĩnh Thông (Châu Đốc) trở về làm Bài thơ đề trên nhà mồ vợ ở Biên Hòa:

Có linh chín suối đừng xao lãng

Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm.

Sau này, khi mất tiếp người con gái, Bùi Hữu Nghĩa lại viết bài văn tế cũng rất thống thiết:

Nhớ tới tiếng con cười, lời con thốt, càng thêm chua thêm xót đòi cơn;

Nhớ đến cách con đứng, dáng con ngồi, luống để nhớ để thương từ chặng.

Đường ra ngõ vào còn đó, con đi đâu cho rêu cỏ mọc xanh;

Thúng may rổ vá còn đây, con đi đâu cho mốc meo đóng trắng...

Hơn nửa thế kỷ sau, Thơ Mới xuất hiện trình làng cái tôi cá nhân - cá thể với nhiều cung bậc tinh tế nhưng sự thành thật khó có sự so sánh. Phải chăng, đây chính là những tiền đề sẽ tạo ra bước đột phá của dòng thơ hiện thực, giàu tính chiến đấu và chan chứa tình yêu nước của văn học Đồng Nai - Gia Định sau này ?



(1) Trịnh Hoài Đức; Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo; Nha Văn hóa, Phủ quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản; Sài Gòn; 1972; tập hạ; tr.4 (Tất cả các trích dẫn được dùng ở đây đều dùng bản này).

 

(2) Trịnh Hoài Đức; Lời tựa ( Tứ tự ) Cấn Trai thi tập; Bản dịch Đỗ Thị Hảo.

([1][7]) Dẫn theo Cao Tự Thanh; Nho giáo ở Gia Định; Nxb. TP. Hồ Chí Minh; 1996; tr.61   -   62.

([2][8]) Cao Tự Thanh; Sđd; tr. 45.

([3][9]) Lê Quý Đôn; Sđd; tr.243.

([4][10]) Cao Xuân Dục; Quốc triều hương khoa lục; Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; 1993.

([5][11]) Cao Xuân Dục; Quốc triều hương khoa lục; Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; 1993.

([6][12]) Lý Văn Sâm: Nguyễn Đình Chiểu với Đồng Nai; Kỷ yếu hội nghị khoa học về Nguyễn Đình Chiểu...; Sở VHTT Bến Tre xuất bản; 1983; tr. 196.

([7][13]) Bản dịch các bài: Họa Bắc Hà Đặng Trần Thường..., Võ Hậu quân hỏa; Trấn đồn Vĩnh Thông, Nguyên nhật ngẫu thành  của Cao Tự Thanh.

([8][14]) Bản dịch bài này và các bài: Thương loạn, Tửu điếm du xuân  của Nguyễn Khuê.

([9][15]) Theo Gia Định Thành thông chí; Bản dịch thơ trong Đại Nam nhất thống chí.

([10][16]) Lũy Hoa Phong do Hữu quân phó tiết chế Nguyễn Cửu Đàm của chúa Nguyễn Phúc Thuần dựng nên. Đại Nam liệt truyện (Quốc sử quán triều Nguyễn; Nxb. Thuận Hóa; 1993; tập 1) chép: Nhâm Thìn (1772), mùa xuân, quân Xiêm xâm lấn Hà Tiên, Nam Vang, thư ngoài biên báo cấp. Chúa cho Đàm khâm sai chánh thống suất đốc chiến, cùng tham tướng Trần Phúc Thành lĩnh một vạn thủy bộ hai doanh Bình Khang, Bình Thuận và 30 chiến thuyền vào Gia Định điều khiển. Mùa hạ năm ấy, Đàm từ đường sông Tiền Giang tiến đánh quân Xiêm ở Nam Vang, phá tan được. Quân Xiêm chạy sang Hà Tiên rồi xin hòa. Việc nước Chân Lạp bèn được yên; Đàm dẫn quân về, đắp lũy Tân Hoa, dài 15 dặm, hình như bán nguyệt, bao quanh doanh trại chặn ngang đường bộ để phòng bất trắc .

([11][17]) Bản dịch các bài: Chu thổ sừ vân; Long Tịch thôn cư tạp vịnh của Nguyễn Văn Sâm (Văn học Nam Hà; Lửa Thiêng xb; Sài Gòn; 1972).

([12][18]) Bản dịch bài Ngư tân sơn thị của Huỳnh Minh Đức.

([13][19]) Phần phiên âm và dịch nghĩa Cấn Trai thi tập không có chú thích là của Đỗ Thị Hảo. Chúng tôi có đối chiếu với những văn bản khác, phổ biến và sửa đổi một số trường hợp. Riêng tên bài thơ này, gần đây có nhiều người dịch là  “Bài hát của người tiều phu Hố Nai”. Theo chúng tôi, “Lộc Động” là một địa danh, nếu dịch là  “Động Nai” (sic) chỉ là căn cứ trên văn bản, theo lối chiết tự. Ngược lại, dịch là  “Hố Nai ”, một địa danh có thật ở Biên Hòa ngày nay e suy diễn và cũng khó phù hợp thực tế vì xưa nay vùng này không phải là núi như tác giả đã tả trong bài thơ. Đại Nam nhất thống chí (Sđd, tập 5; tr.69) đã viết về chợ Lộc Dã của tỉnh Biên Hòa như sau: Chợ Lộc Dã ở phía Nam hạ lưu sông Phước Long, huyện Phước Chính, vì trước kia là đồng nội lắm hươu nai, nên gọi tên thế, hoặc gọi là Lộc Động, tục gọi chợ Đồng Nai. Xét: 6 tỉnh Gia Định mà gọi chung là Đồng Nai, là vì lúc mới khai thác, bắt đầu từ Đồng Nai, nên lấy chỗ gốc mà bao trùm. Lâu nay, trong nhiều tài liệu, do không nắm rõ địa danh Nam bộ xưa nên nhiều tác giả đã chiết tự địa danh, ví như: Chu Thổ (đất son), Thùy Vân (mây trùm), Lộc Động (Động Nai), Châu Thới (Tây Thới) v.v... (BQH chú).

([14][20]) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam; tập 3 (Thế kỷ XVIII   -   nửa đầu thế kỷ XIX); Nxb. Văn học; 1978; tr. 696.

(2) Theo Lý Văn Sâm; Sđd; tr. 198. Trong Gia Định Thành thông chí, Trịnh Hoài Đức chép: đường cái quan từ Huế vào Gia Định có đi qua cái rạch Lá Buôn và cầu Lá Buôn (nay thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai).

(1) Lê Trí Viễn; Lịch sử văn học Việt Nam; tập 3; Nxb. Giáo dục; 1976; tr. 271.

([15][23]) Bản dịch Phạm Hữu Chính.

([16][24]) Hy Hoàng: vua Phục Hy, đời thái cổ Trung Quốc. Đào Tiềm: Tiết tháng sáu nằm khểnh ở trước cửa sổ phía Bắc, trong lòng thỏa thích, tưởng tượng như người đời Hy Hoàng về trước .

([17][25]) Tài liệu điền dã do Huỳnh Văn Tới sưu tầm năm 1998 tại xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch. Bản phiên âm và dịch nghĩa của Lý Việt Dũng.

([18][26]) Lê Trí Viễn; Phác qua văn chương triều Nguyễn; trong Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn; Nxb. Giáo dục; 1997; tr. 171.  

Comments