2.2. Văn học viết Đồng Nai từ năm 1861 – 1930

Văn học trong bối cảnh mới của lịch sử:

1. Sau năm 1788 (năm cuối cùng Nguyễn Ánh chiếm lại Nam bộ), nhất là từ sau năm 1802, triều Nguyễn được chính thức xác lập, Đồng Nai cũng như cả Nam bộ bước vào thời kỳ tương đối ổn định, kinh tế có bước phát triển, giáo dục và khoa cử phong kiến đi vào nề nếp. Mặc dù sau khi lên nắm quyền thống trị đất nước tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn thi hành những chính sách hà khắc ngày càng gây nhiều nỗi bất bình trong nhân dân nhưng do các điều kiện lịch sử, xã hội mang tính đặc thù vùng đất Nam bộ có nhiều ưu thế để phát triển hơn các vùng đất khác. Tiếc rằng, thời gian hòa bình ấy không được kéo dài hơn. Sau khi tấn công vào Đà Nẵng ngày 1- 9 - 1858 thất bại, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã thay đổi chiến lược bằng cách tấn công vào thành Gia Định ngày 17 - 2 - 1859. Đến ngày 15 - 2 - 1861, đại đồn Chí Hòa thất thủ, quân triều đình phải rút về Biên Hòa. Nhưng rồi tỉnh thành Biên Hòa cũng bị chúng chiếm mất vào ngày 18 - 12 - 1861. Những sự kiện dồn dập này đánh dấu thời kỳ mới của đất nước "khổ nhục nhưng vĩ đại" (Phạm Văn Đồng). Đồng Nai - Gia Định trở thành vùng đất đầu tiên của Tổ quốc chứng kiến sự thất thế và sau đó là tan rã của một hệ tư tưởng "không có lực lượng làm hậu thuẫn" (Đặng Thai Mai). Song, đây cũng là nơi đã sớm có câu trả lời trước những thách đố về súng đạn, kỹ thuật, kinh tế và cả về văn hóa của thực dân phương Tây. Câu trả lời ấy thuộc về nhân dân, bất khuất, dũng cảm và chưa bao giờ bỏ cuộc dù thất bại.

Bắt đầu từ đây, vùng đất thiêng liêng này trở thành vùng kháng chiến của nhân dân rồi sau đó, khi thực dân Pháp chiếm trọn lục tỉnh, lại là nơi chịu chế độ trực trị của ngoại bang. Sự biến đổi về kinh tế, xã hội là điều đương nhiên. Nhưng sự biến đổi về văn hóa, văn học cũng không tránh khỏi. Có điều, sự biến đổi trên lĩnh vực này không đơn giản mà đan xen giữa chủ trương của thực dân Pháp với ý thức chống lại của nhân dân và sức sống tiềm tàng của chính văn hóa, văn học dân tộc. Hành động triệt phá Văn miếu Trấn Biên ngay từ buổi ban đầu đặt chân lên đất Biên Hòa chứng tỏ thực dân Pháp muốn thay thế một nền văn hóa đã và đang hiện hữu bằng một thứ văn hóa nô dịch. Sự phản ứng lại của nhân dân Biên Hòa khi không còn giữ được Văn miếu là tìm cách đem giấu đôi câu liễn của quan Bố chánh Ngô Văn Địch. Khi thực dân Pháp gấp rút đào tạo  “những người ngoại quốc trong xứ sở của họ”(lời của Paul Beau, Toàn quyền Đông Dương từ năm 1902 - 1908) bằng cách mở hàng loạt trường học, bắt buộc sử dụng chữ Pháp, thưởng cho thầy đồ dạy chữ quốc ngữ... thì người Biên Hòa, cũng như Lục tỉnh, đã bỏ trốn khỏi vùng giặc chiếm đóng. Chính những sĩ quan quân đội Pháp đã cay đắng nhận xét: Những người An Nam có học, tầng lớp trí thức trung thành với luật pháp xứ sở họ, chỉ có thể xem chúng ta như kẻ thù; tầng lớp có khả năng cai trị thì vắng mặt hay ác cảm... Theo lệnh triều đình Huế, các nhà nho và quan lại đã biến đi, vì thế đồng loạt không hợp tác ([1][27]). Tình hình này dẫn đến nhiều hệ quả: giáo dục có bước thụt lùi ghê gớm (sách Đất Nam kỳ thuộc Pháp, xuất bản năm 1878, chép:  ...Ở Biên Hòa có trường học, 33 học sinh ngoại trú); trường học dạy chữ Nho bị đóng cửa hàng loạt; những người cầm bút hầu hết tham gia kháng chiến vì thế sáng tác chủ yếu được truyền miệng và rất khó lưu hành; tầng lớp trí thức mới được đào tạo ít ỏi, phần lớn nằm trong bộ máy cai trị của thực dân.

2. Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, thực dân Pháp có những thay đổi cơ bản về chính sách cai trị ở Nam kỳ, đặc biệt là văn hóa, giáo dục. Sau một thời gian định thủ tiêu văn hóa Hán - Nôm và Nho giáo nhưng bất thành vì làm thế chẳng khác gì phế bỏ sông Hồng vì nó cũng bắt nguồn từ Trung Quốc, thực dân Pháp đã - tóm lấy nó, thu thập nó để có lợi (Lời của Doumer, Toàn quyền Đông Dương từ 1896 - 1902). Song, kế sách ấy cũng không ổn, chúng tiến hành bãi bỏ hoàn toàn nền giáo dục cũ, phát triển giáo dục theo chiều nằm chứ không phải theo chiều đứng (Lời của Merlin, Toàn quyền Đông Dương từ 1923 - 1925). Kèm theo đó là chính sách khai thác thuộc địa một cách triệt kể đã khiến đại bộ phận nhân dân nghèo nàn và mù chữ. Bác Hồ, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản tại Paris năm 1925, bằng tiếng Pháp, đã viết: Lúc ấy, cứ 1.000 làng thì có đến 1.500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số 1.000 làng đó, lại chỉ vỏn vẹn 10 trường học ([2][28]). Toàn tỉnh Biên Hòa, đầu thế kỷ XX, chỉ có 378 học sinh trường công. 24 năm sau, toàn tỉnh cũng chỉ hơn 3000 học sinh, đa số là sơ học, chỉ có 14% học sinh tiểu học. Một vùng đất rộng như Long Thành, Nhơn Trạch mà đến trước năm 1945 cũng chỉ mới có duy nhất (2) thanh niên đỗ tú tài! Giáo dục phát triển theo kiểu nhỏ giọt tất đội ngũ trí thức, những người có thể sáng tác văn học thành văn, sẽ ít như đếm trên đầu ngón tay.

Có thể nói, văn học viết Đồng Nai đến giai đoạn này đã phát triển trong hoàn cảnh đầy khó khăn. Tuy vậy, dòng văn học viết được khơi nguồn và ở trong nguồn mạch dân tộc đã mang đậm tính chiến đấu và tính nhân dân sâu sắc.

Sự trỗi dậy của ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước:

1. Hai tiếng Đồng Nai:

Như một phản ứng tự nhiên, khi thực dân Pháp càng mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược vào Nam kỳ thì những tiếng Đồng Nai, Bến Nghé càng trở nên thân thuộc và đã vang lên một cách tự hào. Lý do đơn giản, vì đó là tấc đất, ngọn rau, mảnh vườn, thửa ruộng quen thuộc hằng ngày, là những giá trị truyền thống hàng mấy trăm năm của cả Nam bộ. Bởi vậy, trong thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888), hai tiếng Đồng Nai ngay từ buổi đầu đã vang lên hết sức xót xa:

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Chạy Tây

Cũng từ thực tế đau xót trước mắt, sau này, có nhà thơ khi ca ngợi Biên Hòa đã có ý nhắc nhở về "hồn thiêng sông núi" không dễ gì phai nhạt:

Trên hòn Long Ẩn dưới ruông voi,

Phong cảnh Đồng Nai thú mặn mòi.

Đá đập hình nghê nằm ngoái cổ,

Hàng giăng sông rắn chảy theo còi.

Lòng danh trung hậu còn danh tạc,

Đất nước anh linh dấu hãy roi.

Đồ sộ trời Nam xây cõi thọ,

Non sông một thước đáng ngàn thoi.

Bùi Thoại Tường - Biên Hòa phong cảnh

Lời khẳng định này ví như việc làm đầy ý nghĩa của người dân Biên Hòa năm 1861 đối với Văn miếu Trấn Biên.

2. Hiện thực và chân thật:

Dòng văn học mang tính hiện thực từ các tác giả Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định ở giai đoạn trước có dịp phát huy sâu rộng hơn khi đối diện với cuộc sống kháng chiến của nhân dân. Quê hương Biên Hòa đã đi vào văn chương rõ nét, toàn diện và cũng vì thế mà chân thực hơn. Đó là cảnh nước sôi lửa bỏng lúc nước mất nhà tan:

Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Nguyễn Đình Chiểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Cảnh tiêu điều hoang vắng lúc nghĩa quân thất trận:

Trời Gia Định ngày chiều rạng ráng, âm hồn theo cơn bóng ác dật dờ; đất Biên Hòa đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn thần hiu hắt.

Nguyễn Đình Chiểu

Văn tế lục tỉnh nghĩa sĩ trận vong

Vẻ hoang vắng này còn kéo dài mãi về sau, bởi sự tàn bạo của quân xâm lược, nhưng một phần là do thái độ bất hợp tác của nhân dân. Đại Nam thực lục chép, khi quân Pháp đến, vùng Biên Hòa vốn trù phú, đông đúc thế mà như chỗ không người vì hơn bảy mươi làng dân đã bỏ đi nơi khác. Những nơi khác cũng lâm vào cảnh tương tự. Nhà thơ Nguyễn Thông (1827 - 1884), người khi mất ba tỉnh miền Đông đã vận động sĩ phu yêu nước "tị địa" ra Bình Thuận tiếp tục kháng Pháp, đi từ Long Thành đi Phước Tuy đã tả:

Ngâm thiền bất tri xứ,

Bạc mộ thanh cánh bi.

Hành khách quyển dục tức,

Thâm lâm nhân tích hy.

Cơ hổ giáp lộ đề,

Linh lộ triêm ngã y.

Sở tư diếu thiên mạt,

Bồi hồi tương an quy.

(Long Thành phước Tuy, đồ trung hữu cảm)

Dịch nghĩa:

Không biết ve sầu ở chốn nào,

Buổi chiều tối, tiếng kêu càng thêm bi thương.

Khách đi đường mỏi đã muốn nghỉ,

Rừng sâu ít có dấu chân người đi.

Hổ đói kêu ầm hai bên đường,

Sương sa ướt đầm áo.

Người mà mình tưởng nhớ còn xa tít phương trời,

Băn khoăn biết về đâu bây giờ.

(Từ Long Thành đi Phước Tuy,

dọc đường ngâm thơ tả nỗi lòng)

3. Chiều kích của lòng yêu nước:

Nhưng trước kẻ thù, nhân dân Biên Hòa không chỉ đau thương, căm giận mà đã đáp trả với tinh thần bất khuất, vì nghĩa lớn của non sông, đất nước. Ngay lúc triều đình giảng hòa, dâng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, ra lệnh cho tướng Trương Định rút quân, nhân dân có cách giải quyết của riêng mình: Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền... (Nguyễn Đình Chiểu - Văn tế Trương Định). Chính hành động này đã khiến Lãnh binh Trương Định theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại, cùng ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa. Còn các sĩ phu, lòng cũng sục sôi ý chí kháng chiến:

Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây

Đâu để giang sơn đến nước này

Bùi Hữu Nghĩa

Họa thơ Tôn Thọ Tường

Như vậy, nhân dân, rồi sĩ phu yêu nước đã vì nghĩa lớn bất chấp "phận thần tử", và văn học cũng đã thực sự rũ bỏ tư tưởng quân thần vốn đã thất bại trước các biến cố của lịch sử để trở về với tư tưởng nhân dân rộng lớn. Quan điểm tư tưởng này đã từng bước chi phối và thay đổi hẳn quan niệm thẩm mĩ của văn chương. Giờ đây, nhân vật trung tâm của văn học chính là nghĩa quân mới hôm qua còn côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, hôm nay ngoài cật có một manh áo vải, đã coi giặc như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Đó cũng là những sĩ phu, nhưng gắn bó với nhân dân và nhất là cùng dân đánh giặc. Năm 1861, Tán lý Định Biên (Gia Định, Biên Hòa) Nguyễn Duy giữ đồn Phú Thọ bị tử trận, xác không còn nhận rõ được nữa, may có người biết được dấu áo của ông bèn lượm xác về táng ở thành Biên Hòa. Nhà thơ Nguyễn Thông trong bài thơ điếu Nguyễn Duy, đã viết:

Tây phong phiêu đại thụ

Nhất tịch ế viên môn.

Mãn địa mai hùng lược,

Tam quan khấp cựu ân.

Đồ tích không y táng,

Na tri hạo khí tồn.

Niên niên hư trủng thượng,

Di lão loại phương tôn.

Vãn Nguyễn Duy, Định Biên tán lý

Cây đại thụ gặp gió tây,

Một đêm ngã xuống nằm ngay cửa đồn.

Oai hùng nắm đất vùi chôn,

Ba quân nức nở nhớ ơn những ngày.

Thi hài nhìn áo mới hay,

Biết đâu hạo khí đến nay vẫn còn.

Hàng năm trên chỗ đất chôn,

Bạn già rót rượu viếng hồn người xưa.

(Lê Thước và Phạm Khắc Hoan dịch thơ)

Tầm vóc của người anh hùng ở đây được đo bởi những kích thước hoàn toàn mới mẻ, bằng nỗi nức nở của ba quân, bằng "hạo khí đến nay vẫn còn", có nghĩa là sự bất tử của người anh hùng trong lòng dân chứ không phải tượng đồng bia đá, càng không phải theo kiểu "trung quân" mà Nho gia đã dày công gây dựng!

4. Thể tài cũ, hồn vía mới:

Nhìn từ quan niệm thẩm mĩ, văn học viết Đồng Nai giai đoạn kháng Pháp đã thổi vào chiếc áo của những thể tài cũ hồn vía mới. Đó là chất tráng ca, bi hùng ca trong văn tế, trong các thể thơ luật Đường vốn chặt chẽ và chật chội. Chẳng hạn, không chỉ văn tế của Nguyễn Đình Chiểu mới có sự thống thiết khi viết về người nông dân phất cao cờ nghĩa, về Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định..., mà bàng bạc ở nhiều bài văn tế, bài điếu của những nhà thơ cùng thời ở đất Lục tỉnh. Tiếng hát trữ tình ấy rõ ràng là sự tiếp tục phá cách của một nền văn học vốn muộn màng, nhưng không bao giờ chịu dừng lại ở những giá trị cũ, dù đó là "khuôn vàng thước ngọc" đi nữa.

Buổi đầu văn học quốc ngữ.

Từ năm 1861, thực dân Pháp lần lượt chiếm các tỉnh miền Đông Nam bộ và bắt đầu tiến trình “khai hóa” xứ Nam kỳ. Trong tiến trình đó, giáo dục trở thành công cụ quan trọng bậc nhất của thực dân nhằm đào tạo những người bản xứ phục vụ cho bộ máy cai trị, truyền bá tư tưởng nô dịch hòng đồng hóa nhân dân Việt Nam. Đấy là xét trên phương diện thuần túy chính trị. Còn thực tế, đời sống văn hóa, xã hội lại không diễn ra đúng như  “kịch bản” của thực dân. Với bản lĩnh và truyền thống vốn có của mình, người Việt Nam đã đi từ phản kháng đến chủ động chọn lọc và tiếp thu văn hóa phương Tây. Ở Đồng Nai nói riêng, Nam kỳ nói chung, do đặc điểm lịch sử riêng, quá trình này diễn ra sớm và mạnh mẽ hơn Trung kỳ và Bắc kỳ. Đó là việc hình thành đội ngũ trí thức vừa rành rẽ văn hóa Đông phương, vừa hiểu biết văn hóa Tây phương. Đặc biệt, bằng chữ quốc ngữ, kho tàng văn hóa Hán - Nôm, từ Đại học, Trung dung, Minh tâm bửu giám đến Kim Vân Kiều, Nhị độ mai, Lục Vân Tiên, Đại Nam quốc sử diễn ca... đã được phổ biến tương đối rộng rãi. Ngoài ra, còn phải kể đến sự ra đời và phát triển nhanh chóng của báo chí quốc ngữ ở Nam kỳ, bắt đầu từ Gia Định báo (1865), rồi Thông loại khóa trình (1888), Phan Yên báo (1897), Nông cổ mím đàn (1901) ([3][29]) Điểm đáng lưu ý là hầu hết các tờ báo này đều đăng tải những sáng tác văn học, dịch thuật và sưu tầm văn nghệ và có tờ đã sớm bị thực dân Pháp cấm (Phan Yên báo) vì “đã đăng một loạt bài liên quan đến tình hình chính trị ở trong nước có ý chống lại sự hiện diện của người Pháp ở Việt Nam”([4][30])... Nói cách khác, từ cuối thế kỷ XIX, xứ Đồng Nai - Gia Định, chữ quốc ngữ đã và đang trở thành một công cụ văn hóa, một công cụ khai trí, khác và trái với ý định ban đầu của chủ Pháp ([5][31]).

Trên nền tảng lịch sử, văn hóa này, văn học chữ quốc ngữ Việt Nam đã “khai mạc” ngay tại vùng đất mới có tên trên bản đồ Đại Việt chừng 200 năm với Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898), Huỳnh Tịnh Của (1834 - 1908), Nguyễn Trọng Quản (1865 - 1911), Trần Chánh Chiếu (1867 - 1919), Nguyễn Chánh Sắt (1869 - 1947), Lê Hằng Mưu (1879 - 1941), Trương Duy Toản (1885 - 1957), Hồ Biểu Chánh (1885 - 1958)... Bộ phận văn học này không chỉ mới về hình thức thể hiện (chữ viết), thể loại (tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn) mà còn đa dạng về nội dung, đưa đến cho công chúng lối viết hấp dẫn, khác trước từ những chuyện không phải ở đâu xa mà gần gũi trong cuộc sống đời thường. Trong khuôn khổ hạn hẹp của địa chí, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược về hai tác giả Đồng Nai đã đóng vai trò quan trọng trong buổi đầu văn học quốc ngữ.

Huỳnh Tịnh Của, cùng với Trương Vĩnh Ký, được xem là “một trong hai ông tổ của văn học quốc ngữ”. Tên ông được viết dưới nhiều dạng: Hùinh Tịnh Của, Pauls Của, Hùinh Tịnh Paulus Của, Hoàng Tịnh Paulus Của, Hùinh Tịnh Trai Paulus Của, Paulus Của Hùinh Tịnh, P. Của... Ông sinh năm 1830, mất ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Mùi, tức ngày 26-1-1908. Người làng Phước Thọ, tổng Phước Hưng hạ, huyện Phước An, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa ([6][32]). Huỳnh Tịnh Của là người tinh thông Hán học và Pháp văn. Sau khi tốt nghiệp trường đạo ở Pulo - Pénang (Mã Lai), ông về làm việc tại Sài Gòn. Năm 1864, làm Đốc phủ sứ, Giám đốc ty phiên dịch văn án ở Soái phủ Sài Gòn. Năm 1869, làm chủ bút tờ Gia Định báo (Trương Vĩnh Ký làm Giám đốc). Tuy là trí thức Tây học, tích cực truyền bá học thuật Tây phương, nhưng Huỳnh Tịnh Của lại dành nhiều tâm sức chăm lo cho ngôn ngữ và văn hóa, văn học dân tộc. Ông từng gửi điều trần lên vua Tự Đức, khuyến nghị triều Nguyễn cho xuất bản báo chí bằng quốc ngữ. Riêng phần mình, Huỳnh Tịnh Của chuyên viết bài về chuyện cổ tích Việt Nam đăng trên báo. Trong gần 20 năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ông đã cho xuất bản hàng chục tác phẩm sưu tầm, biên soạn về văn học, văn hóa, phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ nhiều tác phẩm của các tác gia Việt Nam đời trước như: Chuyện giải buồn (2 quyển, 1880, 1885); Gia lễ (1886); Sách quan chế (1888); Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (1897); Câu hát góp (1904); Trần Sanh diễn ca (1905); Văn Doãn diễn ca; Chiêu Quân cống Hồ; Thoại Khanh Châu Tuấn, Bạch Viên Tôn Các truyện; Quan âm diễn ca; Chinh phụ ngâm (1906); Ca trù cách thể; Thơ mẹ dạy con; Tống Tử Vưu truyện (1907); Đại Nam quấc âm tự vị ( 2 tập, 1895, 1896)...

Với công trình đồ sộ Đại nam quấc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của là người Việt Nam đầu tiên làm từ điển tường giải tiếng Việt và đây cũng là quyển từ điển tường giải đầu tiên về tiếng Việt ([7][33]). Với những trước tác về văn hóa, văn chương dân tộc, Huỳnh Tịnh Của là người đầu tiên nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, ca trù, ngâm khúc, truyện thơ Việt Nam. Vì mãi đến năm 1928, Nguyễn Văn Ngọc mới có cuốn Tục ngữ phong dao, 1929 mới có cuốn Để mua vui tức Truyện cổ nước Nam, 1932 mới có cuốn Đào nương ca. Còn Chinh phụ ngâm thì mãi đến năm 1930 mới được Nguyễn Quang Oánh đưa vào cuốn Ngâm khúc ([8][34]). Ngay cả ở những sách được kể lại truyện dân gian như Chuyện giải buồn, Huỳnh Tịnh Của cũng có cách riêng của mình: chọn lọc truyện có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, ám chỉ thời cuộc lúc bây giờ. Chuyện hay kể về  ông hoàng đế đóng binh thuyền, ngự đi đánh phương Nam. Tiền đạo bắt đặng một đảng ăn cướp biển, dẫn đầu đảng đi nạp. Hoàng đế phán hỏi tên đầu đảng: Sao chẳng biết bổn phận, cả gan cướp phá, làm rối thiên hạ, chẳng gớm binh đao, chẳng kiêng oai thiên tử? Tên đầu đảng trợn mắt mà đáp rằng: Biết ai là thiên tử, biết ai là thất phu? Bệ hạ binh thuyền đông, đánh phá thiên hạ được nhiều, kêu là thiên tử, nhà min binh thuyền ít, phải bệ hạ bắt, thì kêu chỉ danh là ăn cướp. Như lấy sự thế mà luận, thì có gì khác nhau. Người ta nói: Phú quý sanh lễ nghi, bần cùng sanh đạo tặc. Con người được giàu sang mạnh mẽ, làm oai thế, ai còn dám gọi là trái chơi ([9][35]). Khi liên hệ với tình hình khi Chuyện giải buồn ra đời (1880), Nguyễn Đình Chiểu lên án triều Nguyễn đầu hàng Pháp đã viết: Xe ngựa lao xao giữa cõi trần - Biết ai thiên tử, biết ai thần ? và giặc Pháp gọi những người khởi nghĩa chống Pháp là giặc cướp quấy rối ba tỉnh miền Đông đã nhường cho Pháp, nhà thơ Hoài Anh cho rằng, Huỳnh Tịnh Của viết đoạn văn này quả là táo bạo ([10][36]). Nhưng Huỳnh Tịnh Của không chỉ có Chuyện hay ám chỉ triều Nguyễn và thực dân Pháp. Ông còn nhiều truyện, trong lớp vỏ “chuyện xưa tích cũ”, đã mạnh dạn phê phán mặt trái của xã hội đương thời lắm nhố nhăng, cổ vũ thuần phong mỹ tục, biểu dương những tấm gương trung trinh, tiết liệt, hiếu nghĩa, thủy chung... đề cao cái đẹp, cái cao cả vốn là đạo lý và công lý cần có cho cuộc sống ([11][37]). Bởi vậy, tuy cộng tác cho Pháp, nhưng Huỳnh Tịnh Của không liên hệ gì tới những tên Việt gian bán nước. Trái lại, ông đã đóng góp nhiều cho văn chương, văn hóa nước nhà ở buổi đầu thời kỳ chữ quốc ngữ mới phát triển.

Nguyễn Trọng Quản là một gương mặt đáng chú ý khác của buổi đầu văn học quốc ngữ Đồng Nai và Nam kỳ. Sinh năm 1865 tại làng Phước Lễ, tổng An Phú hạ, huyện Phước An, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa (nay là thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Mất năm 1911, tại Sài Gòn. Ông là con rể, vừa là học trò của Trương Vĩnh Ký. Thuở nhỏ, Nguyễn Trọng Quản cùng với Diệp Văn Cương, Trương Minh Ký là những người Việt Nam đầu tiên du học ở Lycée dAlger (Algérie). Tốt nghiệp, ông về nước, làm giáo viên rồi Giám đốc các trường sơ học ở Sài Gòn những năm 1890 - 1900. Nguyễn Trọng Quản là nhà văn, nhà giáo, vừa là người có năng khiếu hội họa, đã vẽ minh họa cho tiểu thuyết Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản, xuất bản năm 1910. Ngoài cuốn tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền, Nguyễn Trọng Quản còn viết các sách: Truyện bốn anh Chà và cùng chuyện tầm phào chẳng nên đọc, Kim vọng phu truyện, Notice sur les Fonderies cuire de Chợ Quán 1888... Hầu hết tác phẩm của Nguyễn Trọng Quản hồi ấy đều được dịch sang tiếng Pháp và về sau in lại trong tập Récueil de cent textes Annammites do A.Chéon chú giải. Nhưng tác phẩm khiến Nguyễn Trọng Quản lưu danh muôn đời là Thầy Lazaro Phiền, được ông viết tháng 12.1886 và Nhà xuất bản J. Linage, Libraire Éditeur, đường Catinat, Sài Gòn, ấn hành năm 1887. Cách đây không lâu, nhiều ý kiến cho rằng: - Từ năm 1925 bắt đầu xuất hiện những cuốn tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên: Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật ([12][38]). Với Thầy Lazaro Phiền, nhận định ấy không còn đúng nữa và Nguyễn Trọng Quản có thể là người đầu tiên đã viết tiểu thuyết bằng quốc ngữ.

Nguyễn Trọng Quản viết Thầy Lazaro Phiền với lời đề tặng: “Diệp Văn Cương và các thân hữu tại trường trung học ở Alger”: Các bạn thân mến, các bạn còn nhớ không, những buổi tối êm đẹp vào dịp hè, được tự do một giờ chúng ta đi dạo trên các lối đi mập mờ dưới ánh trăng trong vườn Marengo? Các bạn còn nhớ không, cũng trên những lối đi đó, miệng ngậm điếu thuốc bị cấm hút, chúng ta mơ ước cho xứ sở Nam kỳ yêu quý của chúng ta một tương lai rực rỡ ánh sáng tiến bộ và văn minh. Các bạn thân mến, thì đây, ước gì tác phẩm tầm thường mà tôi tặng các bạn sẽ khởi điểm thực hiện những ước mơ trước đây. Nhưng nếu trái với điều tôi mong muốn, tác phẩm này không đạt được mục đích trên, xin các bạn hãy cứ nhận nó làm bằng chứng tình bạn của một người cũ trong cuộc đời liên lạc tự nguyện. Đến khi xuất bản, năm 1887, Nguyễn Trọng Quản, trong lời Tựa, cũng nhấn mạnh: ...Tôi có dụng ý lấy tiếng thường mà mọi người hằng nói mà làm ra một chuyện hầu cho kẻ coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay; trước là làm cho trẻ con ham vui mà tập đọc, sau là làm cho các dân các xứ biết rằng: người Annam sánh trí sánh tài thì cũng chẳng thua ai! ([13][39]). Như vậy, ngay từ đầu, nhà văn đã có một ý thức khá rõ khi sáng tác văn chương. Đó là góp phần khai phóng trí tuệ công chúng quê hương và rạng danh xứ sở. Ông còn viết: Xưa nay dân ta chẳng thiếu chi thơ, văn, phú, truyện nói về những đứng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao trí cả rồi đó; mà những đứng ấy thuộc về đời xưa chứ đời này chẳng còn nữa. Bởi đó tôi mới giám bày đặt một truyện đời nầy là sự thường có trước mặt ta luôn, như vậy thì sẽ có nhiều người sẽ lấy lòng vui mà đọc; kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì cho đặng giải phiền một giây. Nói cách khác, Nguyễn Trọng Quản quan niệm Thầy Lazaro Phiền là là một tác phẩm văn chương mang tính cá nhân - cá thể, được hư cấu từ những kinh nghiệm sống của chính tác giả.

Tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền dung lượng không lớn, chỉ khoảng 35 trang. Cốt truyện như sau:

Phiền quê ở Đất Đỏ, con nhà đạo gốc, cha vốn là người Quảng Bình, vào đây đã lâu. Ba tuổi, Phiền mồ côi mẹ, sống với cha. Năm 1861, Pháp chiếm Biên Hòa, cha con Phiền cùng nhiều giáo dân bị bắt giam ở một nhà tù tại Bà Rịa. May mắn, Phiền sống sót khi nhà ngục bị thiêu hủy và được một quan ba người Pháp đưa về Gia Định giao cho vị linh mục nuôi, cho học chữ Pháp và chữ La tinh. Lúc học ở trường dAdran, Phiền kết bạn với Vero Liễu, con ông trùm họ đạo ở Cầu Kho và thường được cha mẹ Liễu, cùng người em gái bạn dì của Liễu, tới thăm. Phiền và cô gái yêu nhau rồi cha Liễu đứng ra gả đứa cháu gái cho anh ta. Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc tại nhà của Liễu, những sáu tháng sau anh phải đi làm thông ngôn tại Bà Rịa. Tại đây, một người Việt là vợ quan ba Tây, đem lòng say mê Phiền, song anh cự tuyệt. Bà ta bèn viết thư nặc danh vu khống Liễu đã tư tình với vợ Phiền khi Liễu ghé qua nhà Phiền trong một chuyến buôn ngựa. Cả tin, Phiền sắp đặt một vụ bắn lầm để hạ sát Liễu. 15 ngày sau, Phiền lại dùng cỏ độc bỏ vào siêu thuốc cho vợ uống. Uống xong thuốc, vợ Phiền không ngồi dậy khỏi giường được nữa và hơn 11 tháng sau, nàng chết. Trước khi tắt thở, nàng còn bình tĩnh nói với chồng: “Tôi biết vì làm sao tôi phải chết, xong tôi cũng xin Chúa tha thứ cho thầy!”. Sau đó, buồn rầu và chán đời, Phiền thôi việc nhà nước và xin vào tu tại nhà thờ dòng họ Tân Định. Mười một năm sau kể từ ngày vợ mất, Phiền về Bà Rịa thăm lại những kỷ niệm xưa, tình cờ nhận được thư của người vợ quan ba Tây. Lá thư nói rõ, ngày trước, vì say mê thầy Phiền nên đã bày trò giả mạo thư vu cáo vợ thầy. Đọc xong lá thư, thầy Phiền đã chết trong nỗi ân hận vì tội ác của mình.

Chủ đề sám hối đạo đức của Thầy Lazaro Phiền tuy mang màu sắc Kitô giáo nhưng lại gần gũi với đạo lý truyền thống của người Việt. Nghệ thuật dựng truyện lại khác xa với kết cấu theo trật tự thời gian của những truyện chí của văn chương Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX. Con người, không gian và thời gian nghệ thuật mang màu sắc lịch sử, cụ thể. Vì thế, Thầy Lazaro Phiền đã trở thành một tác phẩm hiếm hoi miêu tả chi tiết một phần con người và cuộc sống đời thường vùng miền Đông Nam bộ nửa cuối thế kỷ XIX. Đặc biệt, tâm lý nhân vật đã được mổ xẻ, dù còn sơ sài; cách kể chuyện theo lối trần thuật khách quan; ngôn ngữ gần gũi với đời sống hằng ngày, vắng bóng hẳn những câu văn biền ngẫu, cách nói đưa đẩy, ước lệ. Kết thúc Thầy Lazaro Phiền cũng không phải là kết thúc có hậu như hầu hết các tác phẩm văn học trung đại trước đó. Rõ ràng, Thầy Lazaro Phiền là một cách tân đáng kể của văn chương nước nhà. Vì thế, có người đã khẳng định: “Với tác phẩm này, ở văn học người Việt đã xuất hiện những yếu tố hoàn toàn mới, mang tính dự báo cho nền văn xuôi tiếng Việt kiểu mới, sẽ hình thành ở thế kỷ XX” ([14][40])



(1). Dẫn theo Cao Huy Thuần; Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam; Luận án tiến sĩ quốc gia khoa học chính trị, Đại học Paris; tr.169

(1). Nguyễn Ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp; Nxb. Sự  Thật; Hà Nội; 1975; tr.32.

(2) Dẫ n theo Cao Huy Thuần; Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam; Luận án tiến sĩ quốc gia khoa học chính trị, Đại học Paris; tr.169.

(1). Tờ báo đầu tiên tại Nam kỳ và cũng là cả Việt Nam là Le Bulletin de l ‘Expédition de la Conchinchine (tiếng Pháp) xuất bản số 1 ngày 29.9.1861. Còn tại Bắc kỳ đến năm 1884 mới có tờ l‘Avenir du Tonkin (tiếng Pháp) và mãi đến năm 1907 mới có tờ báo bằng chữ quốc ngữ (Đăng cổ tùng báo).

(2). Bằng Giang; Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865  -  1930; Nxb. Trẻ; Tp. Hồ Chí Minh; 1992; tr.131.

(3). Tầm Vu...; Địa chí văn hóa Tp. Hồ Chí Minh; Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; 1988; tập 3; tr.221.

(4). Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông, thực dân Pháp vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính của triều Nguyễn, mãi đến năm 1867 mới chia tỉnh Biên Hòa thành 5 hạt tham biện (inspection); năm 1869 đổi hạt thành địa hạt (arrondissement) và tới năm 1889 mới đổi thành tỉnh. Theo đó, huyện Phước An của tỉnh Biên Hòa nằm trong hạt Bà Rịa và sau này là tỉnh Bà Rịa. Sau nhiều lần tách, nhập vào tỉnh Đồng Nai, vùng này nay là huyện Long Đất , tỉnh Bà Rịa   -   Vũng Tàu. Lâu nay, khi viết về Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Trọng Quản, nhiều tác giả do chưa rõ tài liệu, đều ghi hai ông quê   “tỉnh Bà Rịa”, xét theo địa lý hành chính thời bấy giờ là không chính xác.

(1). Hồng Dân; Huỳnh Tịnh Của, nhà văn hóa, nhà ngôn ngữ học; tạp chí Ngôn ngữ và đời sống; số 1(3)  -  1995.

(2). Hoài Anh; Huỳnh Tịnh Của, một trong hai ông tổ của văn học quốc ngữ; tạp chí Văn; số 81/ 7.1998; tr.88.

(3). Huỳnh Tịnh Của;  Nxb. Đồng Nai; 1992; tr. 132   -   133.

(4). Hoài Anh; Tài liệu đã dẫn; tr.86.

(5). Huỳnh Tới; Lời giới thiệu; Chuyện giải buồn; Nxb. Đồng Nai; 1992; tr. 6.

(1). Phan Cự Đệ; Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại; Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp; 1974; tập 1.

(2). Lời đề tặng Nguyễn Trọng Quản viết bằng tiếng Pháp. Chúng tôi sử dụng theo bản dịch của Gs. Nguyễn Văn Trung, in trong tạp chí Văn, số 3 - 1989. Những đoạn trích khác của Thầy Lazaro Phiền, lấy ở bản Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam bộ; Nxb. văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh; 1998.  

(1) Lại Nguyên Ân; Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX; Nxb. Giáo dục; Hà Nội; 1997; tr. 428. 

Comments