2.3. Văn học viết Đồng Nai từ 1930 đến nay

Gần một thế kỷ văn học viết Đồng Nai với nhiều biến thiên của lịch sử - xã hội có thể phân kỳ thành những giai đoạn nhỏ hơn như: từ 1930 - 1945; 1945 - 1954; 1954 - 1975 và từ 1975 đến nay. Tuy nhiên, từ góc nhìn lịch sử - xã hội và từ loại hình văn học, về cơ bản, đây là một thời kỳ văn học có nhiều đặc trưng thống nhất như khả năng phản ánh hiện thực, những thể tài chủ yếu, phạm vi hoạt động của đội ngũ cầm bút v.v.. Về chính trị, đây là thời kỳ nhân dân, dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đứng lên làm cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng dân tộc và sau đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Song, để bạn đọc dễ hình dung về một lược đồ văn học, chúng tôi cũng sẽ không đi quá sâu vào một giai đoạn hay một tác giả, tác phẩm nào mà trình bày những nét chung nhất của bức tranh đa dạng ấy.

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình...

1. Một thế hệ cầm bút mới ra đời:

Từ năm 1930 đến năm 1945, Việt Nam vẫn nằm trong chế độ thực dân - phong kiến. Riêng Nam kỳ, trong đó có tỉnh Biên Hòa, chịu chế độ trực trị của thực dân Pháp, có nghĩa tình hình kinh tế, xã hội vẫn không có cải thiện gì so với thời kỳ từ sau năm 1861. Trái lại, các mặt đời sống lại càng tồi tệ sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế mới toàn diện của chủ nghĩa tư bản bùng nổ năm 1929. Tại Nam kỳ, sản xuất chính là nông nghiệp nhưng giá lúa gạo sụt giảm thê thảm, chỉ từ 0,12 - 0,18 đồng/giạ. Thuế thân đánh vào những người vô sản là 1,2 đồng nhưng đại đa số không có tiền đóng. Hàng loạt thợ thủ công mất việc. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ càng thêm sâu sắc.

Thế nhưng, cũng từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có nghĩa là dân tộc đã chấm dứt "đêm dài không thấy ánh sáng" cho một lối thoát về phía tự do và độc lập. Từ đây trở đi, khắp nơi trên cả nước diễn ra cuộc đấu tranh mới của dân tộc chống áp bức, đòi độc lập, tự do có ý thức tư tưởng, sự tổ chức rõ ràng và bằng nhiều hình thức phong phú. Theo thống kê, tại Sài Gòn năm 1930, đã có tới 98 cuộc bãi công. Còn ở tỉnh Biên Hòa, hàng ngàn công nhân cao su Phú Riềng, đề - pô xe lửa Dĩ An, nhà máy cưa BIF... dưới sự lãnh đạo của các chi bộ hoặc hạt nhân của Đảng, đã nhiều lần bãi công, biểu tình đòi dân sinh, dân chủ, ủng hộ phong trào cộng sản. Nông dân ở nhiều nơi cũng đã đứng lên đòi bỏ thuế thân, giảm thuế điền, chống áp bức.

Trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, những năm 30 cũng đã diễn ra nhiều sự kiện đáng chú ý. Văn xuôi quốc ngữ khởi phát từ vùng đất Nam kỳ lục tỉnh với Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh... hồi cuối thế đầu thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đến nay đã phát triển lên một bước mới: đội ngũ đông đảo, nội dung đa dạng và ngôn ngữ thuần thục hơn. Cũng từ vùng đất Nam kỳ, phong trào Thơ Mới đã có những bước đi đầu tiên. Các cuộc tranh luận về văn học, tư tưởng liên tiếp diễn ra. báo chí khuynh hướng cộng sản và yêu nước ngày càng lấn át các khuynh hướng khác.

Trong bối cảnh đó, những người cầm bút (dĩ nhiên không phải là tất cả!) cũng đã tìm thấy cho mình ánh sáng ở mỗi trang viết. Bên cạnh đó, sau gần một thế kỷ cai trị, với chính sách nô dịch về văn hóa, giáo dục, thực dân Pháp đã tạo ra một đội ngũ trí thức mới. Trong số đó, có những người từ truyền thống dân tộc, quê hương đã nhanh chóng tiếp thu các giá trị của văn hóa phương Tây, đặc biệt là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa của văn học Phục hưng, của "thế kỷ ánh sáng" và lập tức trở thành "phản sản phẩm" của chính người "khai hóa". Ở Đồng Nai, đó là những thanh niên: Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Trần Bạch Đằng, Lương Văn Lựu, Tô Văn Của...

2. Những tác giả tiêu biểu:

Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 2-2-1914 tại làng Tân Tịch, xã Mỹ Lộc, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa. Hồi nhỏ, Huỳnh Văn Nghệ học sơ học ở trường quận rồi về Sài Gòn, học Trường Petrús Ký. Học xong, làm anh viên chức nhỏ ở sở hỏa xa. Tại Sài Gòn, ngay từ lúc còn là học sinh, Huỳnh Văn Nghệ đã sớm có ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc và được tiếp thu tư tưởng vô sản. Vì thế, khi làm công chức hỏa xa, Huỳnh Văn Nghệ đã tham gia hoạt động bí mật và là “chiến sĩ của khởi nghĩa Nam kỳ”([1][41]). Giữa năm 1942, Huỳnh Văn Nghệ đang giấu vũ khí tại một cơ sở ở Sài Gòn để chuẩn bị chuyển về Tân Tịch, nơi có chi bộ vũ trang mà ông là người có nhiệm vụ tiếp tế, thì bị lộ. Để tránh sự bắt bớ của thực dân Pháp, Huỳnh Văn Nghệ đã trốn sang Campuchia, rồi Thái Lan. Tại đây, cùng với một số chiến sĩ khác, Huỳnh Văn Nghệ hoạt động văn nghệ với việc hình thành nhóm “Sống mạnh văn đoàn" và xuất bản một tạp chí văn nghệ lấy tên "Hồn cố hương". Hồn cố quốc là tờ báo quốc ngữ đầu tiên trên đất Thái, đăng những bài văn, bài thơ kêu gọi nhớ nước thương nhà, căm thù giặc Pháp - Nhật, được độc giả nhiệt liệt hoan nghênh. Chính những hoạt động này đã khiến hiến binh Nhật bắt giam Huỳnh Văn Nghệ ở khám Saladen vào đầu tháng giêng 1945. Cuối tháng giêng năm đó, Nhật đưa Huỳnh Văn Nghệ về Sài Gòn, nhưng mới chân ướt chân ráo ông đã bị mật thám bắt giam ở bót Catinat và phải ăn Tết Ất Dậu (1945) trong tù. Cuối tháng 2 - 1945, Huỳnh Văn Nghệ được thả và đã đi thẳng về Mỹ Lộc, tham gia hoạt động cùng chi bộ Đảng ở đây. Sau đó, Huỳnh Văn Nghệ tham gia cướp chính quyền tại Sài Gòn. Khi thực dân Pháp tái chiếm miền Nam, Huỳnh Văn Nghệ cùng một số đồng chí tập hợp lực lượng, lập nên chiến khu Đ nổi tiếng, trở thành chỉ huy Chi đội 10 Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Tư lệnh khu VII (gồm các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn), Chủ tịch Ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh Biên Hòa, Tỉnh đội trưởng Thủ Biên (Thủ Dầu Một, Biên Hòa). Sau năm 1954, Huỳnh Văn Nghệ tập kết ra Bắc, công tác ở Bộ quốc phòng, rồi Bộ lâm nghiệp... Trước ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, Huỳnh Văn Nghệ đã trở về miền Nam tham gia chiến đấu và sống tại Tp. Hồ Chí Minh cho đến ngày qua đời (5-3-1977).

Trước năm 1954, Huỳnh Văn Nghệ đã xuất bản tập Thơ Đồng Nai và các tập truyện Con sếu, Con nai vàng. Từ khi tập kết ra Bắc, ngoài làm thơ, Huỳnh Văn Nghệ còn viết nhiều truyện ngắn (Trận mãng xà, Sấu đỏ mủi, Tiếng hát trên sông Đồng Nai, Chùa ông Mõ, Mất đồn Mỹ Lộc...) và 2 tập hồi ký Quê hương rừng thẳm sông dài, Những ngày sóng gió. Năm 1988, Nxb. Tổng hợp Sông Bé đã xuất bản tập Bên dòng sông xanh, tuyển chọn một số sáng tác của Huỳnh Văn Nghệ trước và sau năm 1945. Năm 1997, Nxb. Đồng Nai đã xuất bản tập Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ. Đây là tập hợp tương đối đầy đủ nhất, cho đến nay, về văn chương Huỳnh Văn Nghệ, song có lẽ vẫn sưu  tập hết những sáng tác đa dạng của ông, nhất là giai đoạn trước năm 1945.

Sinh ra ở một làng quê nghèo, sớm tiếp thu tư tưởng vô sản và hoạt động cộng sản, Huỳnh Văn Nghệ đã hướng ngòi bút của mình về phía nhân quần đang đau khổ. Trong khi nhiều nhà Thơ Mới thời bấy giờ đi tìm cảm xúc "mới" nhưng xa lạ với tâm hồn dân tộc, Huỳnh Văn Nghệ thấy thiên chức của thi sĩ ở trong cuộc đấu tranh giải phóng những đau khổ:

Chàng chỉ muốn làm thơ bằng máu

Trên mây hồng cho gió rải cùng trời

Để những người đau khổ khắp nơi nơi

Ngừng than thở

Và thương nhau khi trông hàng chữ máu

...

Quân cướp nước cướp cả quyền mực giấy

Sách chợ đời chưa thấy một vần thơ

Thơ yêu nước đọng đáy lòng thi sĩ

Như nguồn sâu chờ gặp biển bao la...

(Mộng làm thơ, 1937)

Thơ Huỳnh Văn Nghệ trở thành tiếng kêu thương của hàng triệu con người Việt Nam đang đau khổ thời ấy. Vì thế, không cần phải có những cuộc “chuyển biến”, ngay buổi ban đầu, xuất hiện trên các báo ở Sài Gòn, thơ Huỳnh Văn Nghệ đã là thơ hiện thực. Trong thơ ông, có hình ảnh Đám ma nghèo ở Biên Hòa:

Đám ma ai giữa mưa dầm gió lạnh!

Bốn người khiêng lắt lẻo chiếc quan tài

Người vợ kêu trời khan cả giọng

Ẵm con thơ lẫn bước dưới mưa rơi...

Và nhiều cảnh thân thuộc của con người, quê hương ông, nhưng từng lời thơ đều đau đáu xót thương. Một cậu bé trốn học, mẹ bắt gặp đánh đòn và hỏi đã trả lời: do mặc quần áo rách, mỗi bữa thầy đều đánh đòn. Người mẹ nghèo đã sững sờ trước lý do trốn học của con:

Cành roi rời khỏi tay

Khăn rằn lau nước mắt

Mẹ ôm con vào ngực

Chim rừng ngơ ngác bay.

(Trốn học, 1939)

Một Bà má bán cau (1935) hay chính là hình ảnh khái quát về tất cả những người mẹ Việt Nam nghèo khó, nhẫn nại:

 Mặc gánh nặng oằn, hai vai chịu,

Dưới trời mưa lửa chỉ chau mày.

Còn nỗi lòng tác giả, không chỉ xót thương:

Mẹ ơi! Cảnh ấy dẫu trăm năm

Ngàn năm, hay muôn vạn ngàn năm

Một phút sau này con còn sống

Cảnh kia còn đốt mãi lòng con.

Ngay cả khi tha hương, hình ảnh quê hương vẫn thao thức trong lòng nhà thơ:

Đêm hôm nay cũng có có bà mẹ khổ

Mỏi trông con quên cả lễ giao thừa

Đêm hôm nay chạnh lòng đau chinh phụ

Đếm tuổi con để nhớ thuở chồng xa.

(Tết quê người, 1942)

Thế nhưng, thơ Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là tiếng kêu thương. Từ trong “xiềng xích” và  “máu lửa”, nỗi lòng ấy bật thành tiếng thơ hờn căm, uất hận:

Muốn làm sao ta có sợi dây đàn

Đem giăng thẳng nối Nam, Bắc.

Chờ tiếng xôn xao ban ngày đã tắt

Ta trỗi lên khúc “ hận ngàn thu”.

Nghe đàn ta hai mươi lăm triệu đồng bào

Bỗng nhớ rằng mình cùng chung mối hận

Như bầy chim cùng chung số phận

Trong một lồng sắt cứng, cánh còn non...

(Trăng lên, 1937)

Nhà thơ Hoài Anh kể, sau khi khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, Huỳnh Văn Nghệ về Tân Uyên, thăm nhà anh Liễng, Bí thư chi bộ làng Tân Tịch. Nhà anh Liễng vừa bị giặc đốt rụi. Bà mẹ anh Liễng đang ngồi khóc và kể về chiếc ổ gà. Huỳnh Văn Nghệ đến xem, thấy thật lạ lùng: Cả ổ gà 12 trứng và  gà mẹ đều cháy thành than nhưng hình còn nguyên vẹn. Ông nghĩ, khi lửa cháy tới, gà mẹ vẫn quyết giữ cho được những đứa con sắp ra đời của mình. Nhà thơ sau khi giúp bà mẹ viết đơn kiện chính quyền, đêm về đã thức trắng làm bài thơ Ổ gà cháy thành than. Bài này, một tuần sau, đã được đăng trên báo ở Sài Gòn ([2][42]).

Điều đặc biệt ở con người vốn nhạy cảm ấy là dũng khí vừa mang dáng dấp của những chinh phu một thời, vừa có dáng dọc ngang của những chàng trai từng bao ngày chân đất, đầu trần bên bờ sông Đồng Nai. Bởi vậy, thơ Huỳnh Văn Nghệ vừa gần gũi, vừa khác với trường thơ hành của Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân những năm 40 khi ông nói về chí lớn ở đời:

Ta chỉ gặp lạnh lùng trong giếng mắt

Trên đường về xe gầm thét kêu thương...

Ta lặng yên, nén lệ, ngắm mây ngàn.

(Đường về, 1938)

Em vẫn rõ anh là thân chiến mã

Nợ kiếm cung oằn oại gánh yên cương.

Tiếng non sông giục bước ra sa trường...

(Trả lời thơ Lan, 1944)

Về đây thôi, hỡi những thuyền hy vọng.

Chở về đây những mộng đẹp xa xôi!

Lưu luyến chi bến lạ chốn quê người

Để bến tưởng thuyền xưa đà lạc hướng.

(Bến cũ, Bangkok 1944)

Tâm hồn, tài hoa và chí khí ấy đã khiến Huỳnh Văn Nghệ để lại cho đời một bài thơ khiến bao người sau này vẫn còn nhớ mãi về cội nguồn và về những năm tháng không thể nào quên của dân tộc:

Ai đi về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long...

(Nhớ Bắc, 1940)

Trần Bạch Đằng sinh năm 1926 ở Rạch Giá nhưng thời ấu thơ cho đến trước năm 1945 lại ăn học tại Biên Hòa.

Nhà văn Trần Bạch Đằng tên thật Trương Gia Triều. Ngoài ra, còn có các bút danh khác: Nguyễn Hiểu Trường, Nguyễn Trường Thiên Lý, Trần Quang... Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Cha là một nhà nho, tham gia Thiên Địa Hội rồi vào hội kín Nguyễn An Ninh. Năm ông mới 5 tuổi, cả nhà bị quản thúc và phải rời quê hương là huyện Giồng Riềng, Rạch Giá lên sống ở Biên Hòa. 17 tuổi (1943), ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Nhà văn tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng ở Nam bộ như: Bí thư Ban thanh vận Xứ ủy, Tổng thư ký Kỳ bộ Việt Minh, Xứ đoàn phó Liên đoàn thanh niên Việt Nam Nam bộ, Chủ bút báo Nhân dân miền Nam (cơ quan của Trung ương Cục miền Nam Đảng Lao động Việt Nam)... Thời kháng chiến chống Mỹ, ông từng là Trưởng ban tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, Chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng miền Nam... Trần Bạch Đằng sáng tác ở nhiều lĩnh vực: văn, thơ, kịch, báo chí, chính luận, nghiên cứu... Quê hương Đồng Nai tươi xinh đã sớm đi vào thơ Hưởng Triều (một bút danh khác của Trần Bạch Đằng):

Một dòng nước xanh mây trời in bóng

Từ nguồn xa theo nước tràn về

Thăm thẳm mấy sào mà nghe tiếng vỗ

Nỗi niềm riêng gởi gió bay xa...

Trên bờ Đồng Nai (năm 1943)

Vùng quê ấy mang vẻ đẹp dịu hiền và có phần cổ kính:

Quanh quanh bờ nhỏ, nhịp cầu

Bóng xoài nghiêng tận đáy sâu cá vờn

Đỏ rào hàng bụt hứng sương

Mái cong miếu lặng xanh rờn phong rêu

Đó đây qua lại cũng nhiều

Mà sao vẫn nhớ những chiều Bửu Long!

Dấu cũ (năm 1943)

Nhưng cũng như Huỳnh Văn Nghệ, Trần Bạch Đằng sớm hướng ngòi bút của mình về phía đời sống nhân quần:

Một căn phố hẹp tối om

Thầy nhìn cửa trước, trò dòm chấn song

Hai bên có chỗ tương đồng

Thầy lo lính kín, trò mong hết giờ

Dạy học lậu (năm 1943)

Không lâu sau đó, chàng trai trẻ này đã Chào cách mạng và dâng hiến nhiệt nồng tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp của nhân dân:

Ra đi, chí lớn riêng lòng

Nay về, chí lớn hòa chung muôn người

Chiến khu ơi, chiến khu ơi!

Ta chào pháo lũy giữa trời miền Đông.

Đường về Tân Phú (năm 1944)

Văn đàn Sông Phố: Tuy không sôi nổi như ở các trung tâm văn hóa lớn là Sài Gòn, Hà Nội, song sinh hoạt văn nghệ tại Biên Hòa trước năm 1945 không hoàn toàn chìm lặng. Các cây bút trẻ như Lý Văn Sâm, Lương Văn Lựu, Huỳnh Sanh... đã tự tụ tập nhau lại, hình thành nên Văn đàn Sông Phố. Mục đích của họ là bán những cuốn sách có nội dung tốt, giao lưu với bạn đọc, động viên những bạn trẻ tìm đến với văn học. Chính từ văn đàn này, Lý Văn Sâm đã bắt đầu sáng tác những truyện đường rừng mang đậm hương sắc quê nhà và góp mặt với giới sáng tác của cả nước trên báo Tiểu thuyết thứ Bảy. Lý Văn Sâm là nhà văn đầu tiên và cũng là duy nhất của Nam bộ cho đến năm 1954 viết truyện đường rừng. Truyện ngắn đầu tiên của Lý Văn Sâm được đăng trên báo Tiểu thuết thứ BảyCây nhị sông Phố (số 408, ra ngày 11.4.1942).

Truyện kể về một nghệ nhân già có anh học trò rất mê cây đờn nhị gia truyền của thầy. Một hôm, anh nảy ra ý nghĩ đánh cắp cây đờn của thầy và thay vào đó bằng một cây đờn khác. Nhưng thật lạ lùng, khi đem cây đờn về treo trên vách thì đêm đêm trong giấc mộng, anh ta nghe tiếng khóc của một đứa trẻ từ chiếc ống của nó. Đờn không ngân thành tiếng mà toát ra một giọng khàn khàn như của một người bị lao phổi mãn tính. Về sau, trước khi người thầy mất, anh học trò nức nở thú nhận tội với thầy. Ông già vuốt tóc anh ta và nói: Chuyện này, thầy biết từ lâu, nhưng không nỡ quở trách. Cái hồn của cây nhị đã từ giã nó khi rơi vào tay một kẻ bất chính. Trò hãy nhớ câu này: Không thể đánh tráo được tài năng. Cái tài của trò là tài vặt, chỉ có thể giúp cho trò làm được một nhạc công bậc thường của một dàn nhạc lễ.

Sau truyện ngắn này, Lý Văn Sâm trở thành cây bút quen thuộc của Tiểu thuyết thứ Bảy ở Hà Nội, Sài Gòn, Sống, Nam kỳ tuần báo ở Sài Gòn. Song tờ báo đã góp phần nuôi dưỡng và kích thích tài năng của Lý Văn Sâm buổi ban đầu chính là Tiểu thuyết thứ Bảy. Nhà văn Vũ Bằng đương thời là chủ bút (Chủ nhiệm: Vũ Đình Long) đã viết thư động viên và gợi ý sáng tác cho Lý Văn Sâm. Ông liên tục đăng nhiều truyện ngắn: Bài học của đời trong quyển vở Thâm Tâm (số 408, ngày 11-2-1942), Cái ống tiền (số 415, ngày 30-5-1942), Kòn Trô (số 416, ngày 6-6-1942)...

Hầu hết truyện đường rừng của Lý Văn Sâm trước năm 1945 đều viết về vùng đất miền Đông Nam bộ, đặc biệt là chốn núi rừng  “thâm u và cao cả” nơi ông từng có dịp cọ xát đến tường tận cuộc sống của đồng bào miệt thượng nguồn. Chính mảnh đất đương thời mọi người hay gọi Mã Đà sơn cước anh hùng tụ đã nảy nở và phát triển tâm hồn phóng khoáng, khao khát tự do của Lý Văn Sâm lúc bấy giờ. Đấy là những ước mơ đậm màu sắc lãng mạn. Với hoàn cảnh lúc ấy, có thể nhiều viễn vông. Nhưng trên hết và trước hết, nó hướng về phía nhân quần, những người lao động bình thường và nghèo khổ. Vì thế, truyện đường rừng của Lý Văn Sâm mang bộ mặt và âm điệu khác hẳn so với sáng tác của những cây bút đương thời. Ở đó, không có những chi tiết rùng rợn và ma quái, kích thích đầu óc phiêu lưu, mạo hiểm nhưng hãy còn mù mờ, non choẹt và lắm ngờ nghệch của thiếu niên thị thành để đến lúc va chạm với đời thực thì hoảng sợ và thất vọng. Nhân vật trong sáng tác Lý Văn Sâm trái lại, là những mã thượng giang hồ thường bị đẩy đến bước đường cùng, sống ở miệt sơn cước nhưng tâm hồn đẹp đẽ, sáng trong, dũng cảm và bạo liệt mà cũng hết sức chân chất, thật thà để có thể chết vì nó. Nhà văn tìm cách gửi gắm vào những con người ấy khát vọng tự do, công lý - điều mà xã hội thời đó không có được. Khung cảnh thiên nhiên bàng bạc chất thơ như ánh trăng hằng đêm tỏa trên các nẻo đường thôn dã. Còn núi rừng, vẫn uy nghi mà không xa lạ, và khác hơn, lại ấp ủ tâm tình người đời: “Núi Bạch Hổ đứng sừng sững trong cõi mịt mù của núi ngàn xanh xám. Một miếng mây trắng quấn qua đỉnh non xa như một bức khăn tang. Hình ảnh trái núi kia trải bao năm cách biệt, vẫn nguyên vẹn như tấm lòng của một người tri kỷ - (Kòn Trô). Đấy là thiên nhiên - nhân chứng của người đời cả niềm hạnh phúc lẫn buồn đau. Có thể nói, truyện đường rừng của Lý Văn Sâm trước năm 1945 là sự bắt cầu từ tinh thần lãng mạn giàu ý nghĩa nhân sinh đến lý tưởng đấu tranh vì độc lập, tự do dân tộc dưới ánh sáng cách mạng sau này.

Bên cạnh sáng tác của Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Trần Bạch Đằng, thời kỳ này các cây bút khác như Bình Nguyên Lộc, Lương Văn Lựu, Tô Văn Của, Hồng Kim Tuyến, Sơn Khanh, Đinh Quang Dữa... cũng đã bắt đầu viết tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ đăng trên các báo ở Sài Gòn, Hà Nội. Ví như, Lương Văn Lựu - một người bạn thân thiết của Lý Văn Sâm, tuy ở Biên Hòa, nhưng phụ trách trang văn chương hằng tuần trên các báo Sài Gòn, Trung lập; Hồng Kim Tuyến viết tiểu thuyết theo kiểu feuillaton (truyện dài kỳ, đăng báo). Thế nhưng, ngay từ buổi đầu chập chững vào nghề, các nhà văn Đồng Nai thế hệ mới, dù đã giác ngộ lý tưởng cộng sản hay chưa, đều đi trên con đường mà những người cầm bút ở các thế kỷ trước đã mở ra. Đó là văn chương hướng đến những con người bình thường, chìm khuất trong cuộc sống nhưng ở trong biển cả của nhân dân và dân tộc.

Từ mùa thu rồi, ngày hăm ba...

1. Toàn dân kháng chiến, văn nghệ kháng chiến:

Cùng với đồng bào cả nước, tháng Tám năm 1945, nhân dân Nam bộ và Biên Hòa đã đứng lên tổng khởi nghĩa, giành lấy chính quyền. Ngày 25-8-1945, lực lượng cách mạng ở Biên Hòa đã kiểm soát hầu hết các công sở của thực dân Pháp trong thị xã. Đến ngày 27-8, hàng vạn quần chúng ở thị xã Biên Hòa và các quận: Châu Thành, Long Thành, Xuân Lộc đã đổ về quảng trường Sông Phố mít tinh chào mừng thắng lợi Cách mạng tháng Tám của tỉnh. Đó là  “một cuộc đổi đời chưa từng có với người Việt Nam” ([3][43]). Nhưng niềm vui độc lập, tự do chưa lâu thì 0 giờ ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã gây hấn, nổ súng tái chiếm Sài Gòn - Gia Định. Chúng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân Nam bộ. Từ đây, nhân dân miền Nam lại tiếp tục đứng lên, tiến hành cuộc kháng chiến chín năm, giành độc lập dân tộc và giữ lấy chính quyền còn non trẻ.

Trong kháng chiến, theo lời dạy của Bác Hồ, văn hóa, văn nghệ là mặt trận; văn nghệ sĩ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy. Vì thế, 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp cũng là 9 năm văn nghệ kháng chiến. Những khoảnh khắc hiếm hoi của thời bình đã đi qua quá nhanh. Tất cả mọi nguồn lực, cũng như tâm hồn, ngòi bút của nhà văn, nhà thơ đều hướng về kháng chiến. Mọi tiếng nói khác, dù chân thật đi nữa, cũng trở nên lạc lõng.

Điều cần nói rõ là, do tình hình và điều kiện của kháng chiến, địa bàn Nam bộ cũng như Đồng Nai đã có nhiều lần tách, nhập khác nhau. Song, nhìn chung, cả vùng đất rộng lớn này đều có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng (Trung ương Cục miền Nam). Vì thế, văn học Đồng Nai 9 năm kháng chiến là thành tố không thể tách rời của cả văn học Nam bộ.

2. Một đời sống văn học sôi động:

Văn học Nam bộ nói riêng, văn nghệ nói chung, ngay khi kháng chiến bùng nổ chưa hình thành nên tổ chức nào. Ban đầu, cả miền Nam chỉ có Viện văn hóa kháng chiến Nam bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Viện trưởng. Viện này phụ trách cả công việc của Trường Nguyễn Văn Tố. Các giáo viên của trường cũng đồng thời làm việc ở Viện. Bộ phận chuyên trách văn nghệ là Phòng văn nghệ. Phòng văn nghệ tập hợp các chiến sĩ đủ các ngành như Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng (nhạc), Nguyễn Cao Thương, Huỳnh Văn Gấm, Lê Ba (họa), Phạm Anh Tài - tức Sơn Nam (văn), Hoàng Tấn, Hoàng Phố (thơ)... Hoàng Tấn, Hoàng Phố trước viết cho tờ Việt bút của Lý Văn Sâm” ([4][44]). Song, tình hình này tồn tại không lâu. Ở các tỉnh đều có phòng văn nghệ nằm trong các ty tuyên truyền. Chẳng hạn, tại tỉnh Biên Hòa, các cây bút như Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Lương Văn Lựu... đều là cán bộ tuyên truyền. Đến tháng 12-1945, Xứ ủy Nam bộ chia Nam bộ thành 3 khu (VII, VIII và XIX). Mỗi khu đều có bộ phận văn nghệ nằm trong Phòng chính trị trực thuộc Bộ tư lệnh khu. Các chi đội thuộc khu cũng đều có bộ phận làm công tác văn hóa, văn nghệ. Vào cuối năm 1949, đầu năm 1950, nhà thơ Lưu Quý Kỳ, người trực tiếp phụ trách văn nghệ Nam bộ, đã tách Phòng văn nghệ ra khỏi Viện văn hóa kháng chiến, đồng thời kết hợp với lực lượng văn nghệ các tỉnh, các khu, thành lập Chi hội Văn nghệ kháng chiến Nam bộ. Theo ngành dọc, các phân hội văn nghệ cũng được hình thành ở các khu và tỉnh. Theo nhà văn Đoàn Giỏi, một trong những thành viên lãnh đạo Chi hội văn nghệ kháng chiến, ở Nam bộ lúc này còn hình thành nên những nhóm văn nghệ địa phương do văn nghệ sĩ ở một số vùng nhất định tổ chức lại. Ví dụ, tại khu VII (gồm các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn, Tây Ninh) có Nhóm văn nghệ Đồng Nai của Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Hoàng Tấn, Xuân Miễn...; Nhóm văn nghệ Đồng Tháp Mười, có Nguyễn Bính, Đoàn Giỏi, Bảo Định Giang, Nguyễn Đức Hinh, Việt Ánh...

Sự lãnh đạo của Đảng đối với văn học - nghệ thuật Nam bộ không chỉ có ở vùng kháng chiến mà cả những đô thị bị giặc tạm chiếm, nhất là Sài Gòn. Tại tạm chiếm, bằng những hạt nhân là các nhà văn, nhà thơ cộng sản, yêu nước, Đảng hình thành các tổ chức như: Chi bộ văn - báo; Nghiệp đoàn các nhà viết báo Việt - Pháp (23-10-1946); Lực lượng dân chủ đấu tranh để bảo vệ tự do báo chí (25-11-1946); Liên đoàn văn hóa cứu quốc Nam bộ (9-11-1946)... Ngoài ra, Đảng còn tổ chức cho văn nghệ sĩ nghiên cứu, quán triệt quan điểm, đường lối văn nghệ kháng chiến, vận dụng lý luận của Đảng vào thực tiễn Nam bộ như các hội nghị văn nghệ tháng 7-1949, tháng 7-1951. Nhiều đồng chí lãnh đạo Xứ ủy, Trung ương Cục như Lê Duẩn, Nguyễn Văn Nguyễn, Hà Huy Giáp... đều có mối quan hệ gắn bó với các nhà văn, nhà thơ và thường xuyên góp ý, chỉ đạo cụ thể về công tác văn nghệ Nam bộ. Như vậy, rõ ràng là, trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ, văn nghệ đã được sự lãnh đạo và tổ chức kịp thời chu đáo. Điều này còn thể hiện ở sự quan tâm hết sức đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với văn nghệ Nam bộ. Ngày 25-5-1947, Bác Hồ đã có Thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ. Đây là lá thư đầu tiên Bác gửi cho văn nghệ sĩ trong kháng chiến, với tình cảm thật quý trọng:

 ...Tôi thay mặt chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do. Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là chiến sĩ anh dũng trong cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc...

Lá thư của Bác Hồ được giới văn nghệ sĩ Nam bộ sinh hoạt nhiều lần trong kháng chiến. Có lẽ khó nói hết tình cảm đặc biệt của Bác Hồ dành cho nhân dân Nam bộ và cũng không thể kể hết những sáng tác văn hóa - nghệ thuật về Bác Hồ của giới văn nghệ sĩ Nam bộ, mặc dù trong số đó rất ít người đã từng gặp Bác.

Đời sống văn nghệ 9 năm kháng chiến chống Pháp còn những nét đáng chú ý khác. Đó là sự phát triển khá mạnh mẽ của báo chí, xuất bản. Hoạt động báo chí cộng sản đã hình thành ở Nam kỳ những năm 30, chủ yếu ở Sài Gòn. Ngay trong ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, tại Sài Gòn đã có 3 tờ báo ngày xuất bản: Dân chúng (chi nhánh Đảng cộng sản phía Nam), Lao động (cơ quan Tổng công đoàn phía Nam), Tiền phong (cơ quan Thanh niên Sài Gòn - Chợ Lớn). Khi kháng chiến bùng nổ, hoạt động này có ở hầu khắp các tỉnh, thành và được tổ chức, lãnh đạo khá chặt chẽ. Một số tờ báo công khai sau khi bị thực dân Pháp cấm hoạt động đã rút về các vùng chiến khu, nhất là khu VII, như tờ Lao động lên Thủ Đức, rồi đổi tên thành Cảm tử về An Phú Đông; tờ Tiền phong ra Chợ Đệm thành Kèn gọi lính, cơ quan của các tổ chức thanh niên Nam bộ; tờ Dân chúng được đưa về miền Đông, đóng ở Thủ Dầu Một và mang tên Chống xâm lăng. Tại các chiến khu, Xứ ủy Nam bộ và Ủy ban hành chánh kháng chiến đã cho xuất bản hàng loạt các tờ báo, như: Thống nhất (Xứ ủy Nam bộ), Nhân dân miền Nam (Trung ương Cục), Lá lúa (Chi hội văn nghệ kháng chiến Nam bộ, sau đổi thành Văn nghệ miền Nam)... Ở các quân khu, các tỉnh đều có xuất bản những tờ báo của mình. Riêng khu VII có các tờ: Tiền đạo (sau đổi thành Vệ quốc quân khu VII, cơ quan của Bộ tư lệnh miền Đông), Quân du kích (Chi đội 6), Đồng Nai (Ty thông tin Biên Hòa), Tiếng rừng, Sứ mạng (Chi đội 10), Thông tin Thủ Biên (Ty Thông tin tuyên truyền Thủ Biên)... Tất cả các tờ báo này đều tập trung một nhiệm vụ là tuyên truyền kháng chiến chống thực dân. Thế nhưng, do hoàn cảnh chiến tranh, nhất là từ thực tiễn đời sống sinh hoạt tinh thần của nhân dân Nam bộ lúc bấy giờ, các tờ báo đăng rất nhiều sáng tác văn học, đặc biệt là thơ. Nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng của Nam bộ sau này, khi đó là chiến sĩ, hay cán bộ, đều là những cây bút chủ lực cho các báo ở khu Đông Nam bộ: Huỳnh Văn Nghệ (Tư lệnh khu VII), Xuân Miễn, Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Bảo Định Giang (Trưởng ban tuyên truyền Phân liên khu miền Đông), Hoàng Tấn (phụ trách báo Thông tin Thủ Biên, Thư ký tòa soạn Bò cạp lửa), Hoàng Việt, Ngô Y Linh (Nguyễn Vũ), Phạm Tường Hạnh (Trưởng ty tuyên tuyền tỉnh Thủ Dầu Một)...

Trong hoàn cảnh ngặt nghèo của kháng chiến nhưng điều lạ là trong thời gian này, nhiều tác phẩm văn học đã được xuất bản. Nhiều tác phẩm được in ấn khá đẹp và được đưa cả vào vùng địch hậu để tuyên truyền.

Ngoài ra, trong đời sống văn học kháng chiến sôi động thời kỳ này, phải kể đến sự khởi sắc của thể loại kịch, nhất là kịch thơ. Sáng tác kịch lúc này không chỉ để đọc mà chính là để biểu diễn, phục vụ kháng chiến. Chẳng hạn, đầu năm 1952, vùng chiến khu Đ thuộc miền Đông bị trận bão lụt rất nặng, cơ quan Thanh niên cứu quốc và Phụ nữ Nam bộ đã đem vở tuồng Trần Hưng Đạo bình Nguyên của nhà văn Trần Bạch Đằng đi diễn để lấy tiền giúp đồng bào miền Đông. Vở diễn ra mắt ở Giáp Nước (Cà Mau) thu hút 12.000 người xem, đóng góp hàng chục triệu đồng chia sẻ cho miền Đông.

Các cuộc thi và những đợt xét và trao giải thưởng văn học là một trong những biểu hiện sinh động về nền văn học kháng chiến có tổ chức và mang tính khuynh hướng rõ rệt. Đầu tiên là cuộc thi thơ, văn, nhạc, kịch bản sân khấu do Sở thông tin Nam bộ tổ chức. Trong đó, đang chú ý là các tập thơ Thơ Đồng Nai (Huỳnh Văn Nghệ, khu VII), Máu và thù (Bảo Định Giang, khu VIII), Lửa binh (Xuân Miễn, khu VII). Đặc biệt là 2 cuộc thi giải Văn nghệ Cửu Long Giang 1949 - 1950 và 1951 - 1952. Các cuộc thi này đã thu hút khá đông đảo các tác giả trẻ tham gia. Nhiều nhà văn, nhà thơ quen thuộc trên văn đàn sau này đã từng có tác phẩm đoạt giải Văn nghệ Cửu Long Giang: Hoàng Văn Bổn (Vỡ đất), Sơn Nam (Bên rừng cù lao Dung, Tây đầu đỏ), Nguyễn Hải Trừng (Chú Hai Neo), Trần Bạch Đằng (Trần Hưng Đạo bình Nguyên), Nguyễn Ngọc Tấn (Hương đồng nội)...

3. Dấu ấn một thời:

Như một phản ứng tự nhiên, khi thực dân tìm cách gây hấn, rồi mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, các nhà văn Nam bộ đã giục giã mọi người lên đường kháng chiến:

Giang san khói lửa mù bay

Cầu sông này... bến sông này... tiễn đưa

Người ơi! tội lắm ai ngờ!

Biết bao giờ... đến bao giờ... hử ngươi?

(Hoàng Tấn, Giang san khói lửa mù bay)

Người chiến sĩ, một lần nữa, trở thành nhân vật trung tâm của văn học. Ban đầu, hình ảnh người chiến sĩ ấy còn đậm nét lãng mạn, hơi thơ hào sảng nhưng giàu chất tráng ca:

...Bạn bè mấy đứa đi tan lạc

Lấy loạn ly mà xóa loạn ly

Áo phủ phơi sương trăng mốc bạc

Người đi năm ngoái vẫn chưa về...

(Xuân Miễn - Trăng loạn)

Càng về sau, thơ ca kháng chiến giản dị trong diễn tả, chi tiết, hình ảnh cụ thể, giọng thơ tự nhiên, gần gũi với cuộc sống thực lúc bấy giờ hơn:

Cơn sốt nằm run đến sập giường,

Rét xong lại dậy cuốc như thường.

Miền Đông - gian khổ mà anh dũng”

Đôi lúc tương tư một tán đường.

Lá bứa chua chua, củ chụp bùi

Nhiều khi cơm lạt vẫn cười vui.

Tòn ten chiếc võng trong giờ nghỉ,

Mẩu thuốc tàn chia bập mấy người.

        (Xuân Miễn - Nhớ miền Đông)

Trong đội ngũ những nhà thơ kháng chiến thời bấy giờ, Huỳnh Văn Nghệ, nhà thơ hiện thực thuở nào, nay đã là "con hùm xám" miền Đông, Tư lệnh khu VII, Tỉnh đội trưởng Thủ Biên. Đấy là hình ảnh một con người "tay gươm tay bút" như chính nhà thơ đã vẽ nên trong văn học cũng như ngoài đời thực:

Tôi là người lăn lóc trên đường trần,

Không phân biệt lúc mài gươm, múa bút.

Đời chiến sĩ máu hòa lệ, mực

Còn yêu thương là chiến đấu không thôi.

(Bên bờ sông xanh)

Dáng dấp của Huỳnh Văn Nghệ thật không khác gì mấy so với những sĩ phu yêu nước của Nam bộ ở thế kỷ trước, chỉ có điều, đấy là nhà thơ - chiến sĩ của một trào lưu lịch sử hoàn toàn mới mẻ. Bởi vậy, con người và cuộc sống kháng chiến trong thơ văn Huỳnh Văn Nghệ đậm tính chân thực, nhưng không kém phần hào hùng, giàu tráng khí:

Đây chiến khu, biết bao chiều lau súng

Ta nhớ em, hỡi xa vắng thị thành

Em tủi nhục ở trong vòng tạm chiếm

Biết bao giờ nguôi hận chiến trường xanh.

(Bức thư thành)

Bài thơ này gắn liền với với câu chuyện khá hay về nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ và nữ sĩ Mộng Tuyết, người bạn thơ, bạn đời của Đông Hồ: nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ vốn quen biết vợ chồng Mộng Tuyết từ năm 1938, khi ông gửi thơ đăng trên báo Sống của Đông Hồ. Vào năm 1948, giữa rừng chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ bỗng nhận được tờ báo Ánh sáng số 159, ngày 13-9-1948, ở trang phụ trương Ánh sáng văn chương (cũng do Đông Hồ chủ trương), có đăng bài thơ Chiếc lá thị thành của Mộng Tuyết. Trong đó, có đoạn:

Đây một bức thư của thị thành

Thả về thăm hỏi chiến khu xanh

Hỏi anh chiến sĩ mùa thu trước

Hơn một mùa thu bận chiến tranh.

Lẫm liệt rừng thu gió tải về

Bao tờ lá đỏ chiến công ghi

Bao tờ lá đỏ đề lời máu

Thề quyết thành công một chuyến đi...

20 ngày sau, 3-10-1948, trên tờ Ánh sáng, cũng ở phụ trương Ánh sáng văn chương xuất hiện Bức thư thành của Huỳnh Văn Nghệ. Bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ dưới dạng một lá thư, sau này chính tác giả giải thích, nhằm giải quyết hai khuynh hướng tư tưởng của cán bộ chiến sĩ thời bấy giờ: một là coi rẻ nhân dân vùng bị tạm chiếm; hai là đánh giá không đúng dã tâm của kẻ thù, thiếu tinh thần tích cực tấn công. Vì thế, nhân có một người bạn ở Sài Gòn gửi thư thăm, Huỳnh Văn Nghệ đã viết bài thơ này. Trong đó, nhà thơ thể hiện tình cảm yêu mến của mình đối với nơi mà ông có một thời gắn bó:

Đây chiến khu, nơi suối hát chim ca

Nhưng ta vẫn cứ nhớ nhung thành thị.

Nơi lần đầu tiên ta cầm vũ khí

Theo bóng cờ son dứt áo ra đi.

Lệ người thương còn ướt chiếc khăn tay.

Chính vì lẽ đó, nhà thơ, với tư cách là người tổ chức và chỉ huy lực lượng vũ trang ở chiến khu Đ, đã thể hiện quyết tâm của những người kháng chiến:

Thề lấy lại thủ đô và thành thị

Máu xâm lăng phải tưới đỏ quê hương.

Giải phòng Sài Gòn trăm nhớ, ngàn thương.

Trong thơ Huỳnh Văn Nghệ, không thiếu những bức tranh chân thực về con người và cuộc sống kháng chiến ở miền Đông Nam bộ. Đó là Em bé liên lạc ở xóm Cây Dâu Trước kia ở đợ giữ trâu cho người, nay làm liên lạc cho bộ đội, rồi bị quân thù bắt được, tra tấn dã man:

Hôm nay dòng nước Đồng Nai

Đưa ra biển cả một thây không đầu.

Mẹ em, chị Sáu Cây Dâu

Xin đi bộ đội trả thù cho con.

Đó là bà mẹ quê, thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, đốt trụi nhà mình, nhưng rồi lại ngồi buồn bã:

Bìa rừng ngồi ngắm khói lên

Mẹ buồn vì lỡ

Bỏ quên ống ngoáy trầu.

 (Mẹ buồn)

Đó còn là Ngày hội, Hội nghị bình công, Xuân chiến khu, Tiếng hát giữa rừng chiến khu Đ hùng vĩ; là cảnh Bờ sông bị chiếm, Mất Tân Uyên, rồi Một trận chống càn... nghĩa là tất cả những gì diễn ra trong cuộc sống kháng chiến đầy vất vả, hy sinh và cũng rất oai hùng thời đó. Thơ Huỳnh Văn Nghệ là lịch sử bằng thơ về quê hương Đồng Nai. Người chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ đã làm rạng danh quê hương bằng những chiến công như Là Ngà, Bàu Cá, Trảng Bom, Bến Sắn... và cũng chính người chiến sĩ - thi sĩ ấy lại khắc họa con người và quê hương mình bằng những vần thơ huyền dịu (Bên bờ sông xanh).

Những năm kháng chiến chống Pháp là thời kỳ sôi nổi và sáng tác sung sức nhất của nhà văn Lý Văn Sâm.

Nhà văn Lý Văn Sâm quê ở ấp Bình Ninh, làng Bình Long, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai), nhưng lại sinh ngày 21-2-1921, tại ấp Ông Lình, xã Tân Nhuận, huyện Tân Uyên. 10 tuổi, xuống Biên Hòa, học Trường tiểu học tỉnh lỵ. Sau đó, học các trường: Petrús Ký, Lycéeum Paul Doumer (Sài Gòn), Hồ Đắc Hàm, Phú Xuân (Huế). Trước năm 1945, đã lưu lạc nhiều nơi và viết truyện ngắn, ban đầu lấy bút danh là Trọng Khanh. Tham gia cướp chính quyền năm 1945 ở Biên Hòa, làm cán bộ tuyên truyền của huyện Châu Thành (thành phố Biên Hòa ngày nay). Khi thực dân Pháp chiếm lại Biên Hòa, Lý Văn Sâm hoạt động cách mạng, bị bắt cầm tù rồi phải chuyển về Sài Gòn, hoạt động trong phong trào báo chí thống nhất. Năm 1950, bị lộ phải ra chiến khu làm cán bộ nghiên cứu chuyên trách đô thị. Từ năm 1954, lãnh đạo và tham gia trực tiếp phong trào báo chí - văn nghệ ở Sài Gòn cho đến tháng 11-1955, bị chính quyền Mỹ - Diệm bắt giam tại nhà lao Tân Hiệp, cùng với nhà văn Dương Tử Giang. Ngày 2-12-1956, tham gia cướp súng, phá ngục Tân Hiệp, trở lại chiến khu. Từ đó trở đi, giữ nhiều chức vụ như: Chánh văn phòng Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một; Trưởng đoàn văn công, Chủ biên báo Chiến thắng của các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam; Tổng thư ký Hội văn nghệ giải phóng miền Nam, Thư ký Tòa soạn báo Văn nghệ giải phóng; Trưởng phòng nghiên cứu đặc biệt về văn nghệ đô thị; Vụ trưởng Vụ nghệ thuật (Bộ văn hóa thông tin Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam)... Sau năm 1975, cho đến khi nghỉ hưu (1990), nhà văn Lý Văn Sâm là Phó tổng thư ký Liên hiệp văn học - nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam; Chủ tịch Hội văn nghệ Đồng Nai.

Tác phẩm chính của Lý Văn Sâm: Kòn Trô (tập truyện ngắn, Nxb. Tân Việt, 1949); Mười lăm năm hận sử (truyện dài, Nam Việt, 1949), Thù nhà nợ nước; Mây trôi về Bắc; Xin đắp mặt tôi mảnh lụa hồng (truyện dài, Nam Việt, 1948); Vằn Phay Khửn (tập truyện ngắn, Nam Việt, 1949), Nắng bên kia làng (tập truyện ngắn, Sống Chung, 1949), Sóng vỗ bờ xa (truyện dài, Nam Việt, 1949); Chiếc vòng ngọc thạch (truyện dài, Tân Việt, 1949), Cỏ mọn hoa hèn; Ánh sáng người mù; Nga và Thuần (tiểu thuyết, Nam Việt, 1949); Sau dẫy Trường Sơn (truyện dài, Nam Việt, 1949), Ma - ní Bữu Châu, Đất khách;Trong cơn ly loạn (truyện dài, Tân Việt Nam,1949, 1950); Sương gió biên thùy (tập truyện ngắn, Tân Việt, 1949); Ngoài mưa lạnh; Trên núi Gia Nhang (tập truyện ngắn, Sống Chung, 1950); Người đi không về (tập kịch, Nam Việt, 1950); Bến xuân (tập truyện ngắn và ký, Hội văn nghệ Đồng Nai, 1980); Những bức chân dung (tập truyện và ký, Nxb. Đồng Nai, 1983); Ngàn sau sông Dịch (tuyển tập truyện ngắn và ký, Trẻ, 19), Tuyển tập Lý Văn Sâm (Nxb. Đồng Nai, 1990); Nàng Tchô - phay của tôi (tập truyện vừa, Nxb. Đồng Nai, 1998)...

Sau năm 1945, Lý Văn Sâm tiếp tục sáng tác khá nhiều truyện đường rừng phương Nam với bao con người vị nghĩa quên thân, kích thích lớp trẻ tìm kiếm lối đi về chính nghĩa (Sương gió biên thùy; Thù nhà nợ nước, Sau dẫy Trường Sơn, Chiếc vòng ngọc thạch...). Cũng vẫn những con người nghĩa khí, giàu lòng dũng cảm ấy, nhưng nay, họ đã ở trong một bối cảnh mới:

Tháng Tám năm ấy, ở Việt Nam, một cuộc cách mạng bùng lên như vũ bão. Một nước cộng hòa trẻ trung tuyên bố độc lập dưới bóng cờ khởi nghĩa.

Khắp nơi, những ổ giặc cướp đều tự giải tán trở về quy tụ dưới bóng cờ Tổ quốc.

Cách đó không bao lâu quân đội viễn chinh đổ bộ lên bến Sài Gòn. Tiếng súng nổ đều khắp miền Nam nước Việt.

Sau nhiều trận giao phong oanh liệt với đạo quân dõng mãnh ở Âu châu, dân quân bỏ những thị trấn lớn lui về đồng bái..

(Truyện ngắn Sương gió biên thùy, 5.1948)

Tháng Tám năm Ất Dậu [1945]... Là một công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia vào phong trào chống xâm lăng...

(Truyện ngắn Mũi Tổ)

Nhân vật truyện đường rừng của Lý Văn Sâm lúc bấy giờ vì thế không còn là những người anh hùng cô độc nữa. Họ tự do và phóng khoáng, ngang tàng và dũng mãnh, nhưng luôn hành động vì nghĩa. Chữ “nghĩa” ấy cũng rõ ràng, cụ thể như ý nghĩ của nhà thiện xạ Cả Tiễn (Mũi Tổ) khi bắn mũi tên cuối cùng vào một tên lính xâm lược hung hãn trong trận quyết tử:

 - Tôi sẽ phạm vào Mũi Tổ vì tên lính da đen kia chỉ cho ta nhìn thấy đôi mắt trắng dã của gã mà thôi! Đây có lẽ là mũi tên cuối cùng, chấm dứt tài thiện xạ của tôi. Nhưng tôi ngần ngại gì mà không hy sinh cho đại cuộc. Vâng! Tôi đã dành một mũi tên cho Tổ quốc. Nay là lúc tôi dùng nó vậy!...

Tôi thường nói với chú rằng tôi không có gia đình và quyến thuộc. Gia đình tôi là Tổ quốc Việt Nam của chúng ta. Thân quyến tôi là những đồng bào đau khổ..

Đáng lưu ý rằng, tất cả những sáng tác của Lý Văn Sâm thời kháng chiến chống thực dân Pháp đều được in ấn tại Sài Gòn. Nhà văn đã cố tình bọc những ý nghĩ ấy trong lớp vỏ của truyện đường rừng. Song, dù sao đi nữa, người đọc vẫn dễ dàng nhận ra. Nguyễn Văn Sâm ([5][45]) đã xem đây là “những dòng đầu tiên của văn nghệ tranh đấu” miền Nam. Còn với không ít độc giả của thế hệ bạn đọc trẻ thời ấy, chính Lý Văn Sâm, bằng truyện đường rừng và loại “sách bạn trẻ” đã dẫn dắt họ đi kháng chiến vì đã nói với họ “ một cách dịu dàng, về lòng nhân ái, biết yêu thương con người, tình yêu lẽ phải, dần dần đi đến tình cảm yêu quý và kính trọng đối với Tổ quốc và chủ nghĩa nhân đạo(2).

Một cống hiến có thể nói là xuất sắc nhất của Lý Văn Sâm đối với văn học Việt Nam thời kỳ này là việc khắc họa chân dung người trí thức trên những nẻo đường kháng chiến, đặc biệt là người trí thức mỏi mòn, quẩn quanh, khao khát Thèm một ánh đèn(3) khi phải sống trong chế độ tù hãm. Bản thân nhà văn, một trí thức theo Cách mạng, và địa bàn hoạt động đặc thù (công khai trong vùng địch), đã giúp Lý Văn Sâm có được hiểu biết sâu sắc, phong phú về nhiều mặt. Trong sáng tác của mình, một mặt Lý Văn Sâm phơi bày cuộc sống quẩn quanh, tủi cực của đồng bào trong vòng kiềm tỏa, luôn khao khát tìm về “quê nhau rún”; mặt khác, phản ánh sức vươn dậy của quần chúng vùng kháng chiến. Giọng văn Lý Văn Sâm bao giờ cũng thiết tha, nồng nàn về quê hương, đất nước, về lẽ sống còn của dân tộc. Với người chiến sĩ hằng đêm lặn lội dưới ánh trăng, đó là lời ngợi ca trìu mến. Với ai đang sống mỏi mòn trong vùng tạm chiếm, văn chương Lý Văn Sâm là lời tha thiết gọi mời, thúc giục của cuộc đời tháo cũi, sổ lồng, tự do ca hát, là tiếng quê hương đậm đà tình nghĩa... Cũng do hoàn cảnh đặc biệt, sống và hoạt động trong lòng địch, những trói buộc của cuộc đời người trí thức ở văn chương Lý Văn Sâm được khúc xạ thành chuyện  “vợ bìu con ríu”, cầm chân khách nam nhi. Có thể, đó là hình ảnh một người lầm lạc đến nỗi Tàn một mùa thơ, là sự quẩn quanh và níu kéo của gia đình, những phút thương thân, sợ chết khi Ngoài mưa lạnh, hay hình bóng của cuộc đời tự do mà người trí thức cứ cố nén lòng chôn giấu mà vẫn không thể nào xua đuổi đi được... Nhưng đọng lại ở mỗi sáng tác Lý Văn Sâm thời kỳ này là cảm giác chua xót vì ngột ngạt, hèn kém, niềm ân hận pha lẫn nhiều nuối tiếc tuổi xuân mỏi mòn và cuối cùng là khát khao được “chim bằng tung cánh”, được hiến thân cho độc lập, tự do. Bằng sáng tác của mình, nhà văn đã nhen nhóm nhiệt tình yêu nước của thanh niên, đồng bào trong vùng bị kìm hãm để đến lúc gặp bão lớn cháy bùng thành biển lửa. Với những đóng góp bằng tài năng, trí tuệ, lòng nhân ái và cả sự dũng cảm, Lý Văn Sâm đã được chính những người viết lịch sử văn chương thời đó đánh giá là  “một trong hai cây bút xuất sắc nhất của văn chương ” vùng tạm chiếm những năm 1945 - 1954 ([6][46]). Cũng chính vì lý do đó, trong lòng chế độ cũ, như nhiều nhà văn, nhà báo nổi tiếng: Nam Quốc Cang, Dương Tử Giang, Thiếu Sơn..., Lý Văn Sâm hoạt động rất khó khăn, thường xuyên phải tránh sự khủng bố của thực dân Pháp và chính quyền tay sai và phải thoát ra vùng giải phóng từ giữa năm 1950.

Trẻ hơn Huỳnh Văn Nghệ 16 tuổi, nhưng Hoàng Văn Bổn là nhà văn sớm khẳng định được mình từ trong cuộc kháng chiến của dân tộc.

Hoàng Văn Bổn, tên thật Huỳnh Văn Bản, sinh ngày 7-5-1930, tại ấp Long Chiến, làng Bình Long, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai). Hồi nhỏ, học ở trường làng rồi về thị xã Biên Hòa học Trường tiểu học tỉnh lỵ (nay là Trường tiểu học Nguyễn Du). Lấy được bằng Tiểu học yếu lược (Certificat dEtudes Primaire Franco - Indigène), về Sài Gòn học Trường tư thục Huỳnh Khương Ninh, rồi lại về Biên Hòa học lớp sư phạm (Ecole Normale). Học chưa tròn một năm thì Nhật ném bom sân bay Biên Hòa, trường giải tán, về quê. Tham gia Cách mạng tháng Tám, làm Thư ký của Ủy ban hành chánh xã. Năm 1946, làm Phó ban Đời sống mới (tức văn hóa - xã hội) huyện Tân Uyên. Lần lượt giữ các chức vụ: Phó ban (không có trưởng ban) Bình dân học vụ huyện Tân Uyên, Trưởng ban giáo dục huyện, kiêm kiểm soát viên Ty giáo dục tỉnh Biên Hòa. Được kết nạp Đảng trong rừng chiến khu Đ năm 1948. Năm 1951, tình nguyện vào bộ đội, thuộc biên chế Chi đội 10. Năm 1952, được cử đi học Phân hiệu lục quân Trần Quốc Tuấn, rồi về Phòng chính trị Phân liên khu miền Tây, dạy văn hóa trong quân đội cho đến ngày tập kết ra Bắc.

Từ năm 1954, Hoàng Văn Bổn chủ yếu công tác ở Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, làm Tổng biên tập Xưởng phim Quân đội, đi hầu khắp các chiến trường. Gần cả cuộc đời nhà văn ở trong quân đội. Đến năm 1980, ông mới trở lại quê hương, tham gia Hội văn nghệ Đồng Nai. hiện nay, nhà văn Hoàng Văn Bổn là Chủ tịch Hội văn nghệ Đồng Nai, Ủy viên Ủy ban toàn quốc Liên hiệp văn học - nghệ thuật Việt Nam.

Hoàng Văn Bổn đã viết khá nhiều tác phẩm văn học: Vỡ đất (tiểu thuyết, 1952), Bông hường bông cúc (tiểu thuyết, 1953), Có những lớp người (tiểu thuyết, 1958), Mùa mưa (tiểu thuyết, 1960), Tướng Lâm Kỳ Đạt (truyện dài, 1962), Trên mảnh đất này (tiểu thuyết, 1962), Hàm Rồng (ký sự, 1968), Sóng Hồn Mê (ký sự, 1971), Bầu trời mặt đất (tiểu thuyết, 1981), Nhớ phố phường (tiểu thuyết, 1981), Lũ chúng tôi (tiểu thuyết, 1981), Sóng bạc đầu (tiểu thuyết, 1982), Đội quân hoa và cỏ (truyện dài, 1982), Miền đất ven sông (tiểu thuyết, 1984), Theo dấu người xưa (truyện dài, 1986), Tình đời đen bạc (tiểu thuyết, 1988), Khắc nghiệt (tiểu thuyết, 1990), Trước vành móng ngựa (tiểu thuyết, 1990), Người điên kể chuyện người điên (tập truyện ngắn, 1992), Vũ trụ (tập ký, 1992), Gặp lại một dòng sông (tập truyện, 1993), Tuổi thơ ngọt ngào (truyện ngắn, 1994), Nước mặt giã biệt (tiểu thuyết, 1994), Ó ma lai (tiểu thuyết, 1995), Quê nội xa xôi (truyện dài, 1996), Ngày xửa ngày xưa (tiểu thuyết, 1997), Thuở hồng hoang (tiểu thuyết, 1998)...

Ngoài ra, Hoàng Văn Bổn còn viết gần 30 kịch bản phim đã được dàn dựng và chiếu. Nhà văn được nhiều giải thưởng văn học: Giải nhất tiểu thuyết của Chi hội văn nghệ kháng chiến và Ủy ban hành chánh kháng chiến Nam bộ, giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Liên hiệp văn học - nghệ thuật Việt Nam... và các giải thưởng điện ảnh trong và ngoài nước.

Tuy không có mặt ở quê hương suốt cả chặng đường dài, nhưng nhà văn Hoàng Văn Bổn lại hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người kháng chiến ở quê hương Biên Hòa - Đồng Nai. 15 tuổi, lúc còn là cậu bé chăn trâu ở làng Bình Long (huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa), Hoàng Văn Bổn đã tập tành viết văn. Khi làm một thầy giáo kháng chiến (Trưởng phòng giáo dục huyện Tân Uyên), chưa đến 20 tuổi, ông đã viết các tập truyện ngắn: Dưới bóng dừa xiêm, Mày giết anh tao. Rồi trên đường nhập ngũ, từ miền Đông xuống miền Tây để theo học Phân hiệu lục quân Trần Quốc Tuấn, Hoàng Văn Bổn đã viết tiểu thuyết Vỡ đất. Tác phẩm này đã được Chi hội văn nghệ kháng chiến Nam bộ và Ủy ban hành chánh Nam bộ in và trao giải nhất Giải thưởng Cửu Long Giang. Cũng trong giai đoạn này, Hoàng Văn Bổn đã viết các tiểu thuyết: Bông hường bông cúc, Chiến đấu đường hầm.

Tiểu thuyết Vỡ đất của Hoàng Văn Bổn phản ánh khá chân thực cuộc sống khó khăn, gian khổ của những Vệ quốc quân buổi đầu ở miền Đông Nam bộ; vỡ đất cũng là quá trình vỡ vạc về về cách mạng, về kháng chiến. Hình ảnh một lớp người từ nông dân đi kháng chiến như Bảy Ngà, Ba hòa, Tư Đỗ... được tác giả khắc họa với những tính cách cụ thể. Người trầm tĩnh, chín chắn như Ba Đỗ, người nóng nảy, cương nghị như Bảy Ngà... nhưng tất thảy đều bộc trực, dám nghĩ, dám làm, tiêu biểu cho chiến sĩ  “miền Đông gian lao mà anh dũng”. Cuốn tiểu thuyết được xem là “đầu tay” (những cuốn trước thực ra như các phác thảo và chưa in) của Hoàng Văn Bổn được viết không phải từ tưởng tượng, hư cấu mà chính là câu chuyện đời của của tác giả và đồng bào miền Đông thời đó:

 - Đến năm 1949 - 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng gay go, khốc liệt. Lại đói, lại rét. Giặc chủ trương tập trung binh lực tấn công bao vây chiến khu Đ, bao vây kinh tế miền Đông với khẩu hiệu “Giết một con trâu bằng ba nông dân. Giết một nông dân bằng giết ba Vệ quốc đoàn”. Vùng hữu ngạn sông Đồng Nai gồm các xã Bình Long, Lợi Hòa, Tân Định, Đại An, Trị An... vẫn là vành đai trắng bao vây chiến khu Đ. Đêm đêm, cán bộ, du kích ly hương bên kia sông ôm cây chuối vượt sông trở về lang cũ phá đồn, hái trái cây trong vườn hoang, bắt cá, hái rau cỏ, cùng bộ đội trinh sát xuống Biên Hòa, Long Thành, chiến khu rừng Sác, diệt tề trừ gian... Đêm nào cũng có người chết trên đò sông Đồng Nai vì đạn pháo từ đồn Tân Uyên bắn lên, vì Pháp phục kích (...) Trên chủ trương phát rừng, tỉa lúa trồng khoai bắp, tự túc kháng chiến đánh giặc. Đem đêm có bộ đội yểm trợ cán bộ nhân viên chúng tôi tổ chức thành từng đoàn xuống miệt Tấn Khanh, Hoa Nhật trong lòng địch gặt lúa xung phong. Nhiều trận chiến đấu đổ máu giữa ta và địch để tranh giành từng hạt lúa. Đêm đêm, từ ruột chiến khu, hàng ngàn, hàng ngàn cán bộ nam nữ, trẻ con, bộ đội đổ ra, lặng lẽ xuyên xuống hệ thống tháp canh “Đờ Latua” tràn các cánh đồng lúa chín vàng giữa lòng địch, trong cơn mưa đại bác, đạn súng máy... Bình minh ngày nào, khi kéo hột lúa về đến chiến khu, chúng tôi cũng đào huyệt vĩnh biệt anh em, đồng chí...” ([7][47]).

Đó chính là hiện thực khắc nghiệt nhưng cũng giàu tính nhân đạo đã ám ảnh cây bút trẻ Hoàng Văn Bổn ngay từ buổi đầu. Ông viết từ một lý do giản dị, song cao cả và thiết thực trên đường từ quê hương máu lửa xuống miền Tây Nam bộ:

 - Nhiều đồng bào thuộc Đồng Tháp Mười, miền Tây Nam bộ không sao tin được cái gian khổ, hy sinh và sự tàn ác thâm độc của giặc Pháp lúc bấy giờ... Tôi tự nghĩ: “Nói miệng họ không tin, mình phải viết thành sách. Nói có sách, mách có chứng. Khi đã thành giấy trắng mực đen, người đời dễ tin hơn”. Thế là, dọc con đường hành quân từ Biên Hòa xuống tận mũi Cà Mau, tôi tranh thủ lúc đóng quân sau một đêm trời vượt lộ, vượt sông, chiến đấu mở đường, để viết tiểu thuyết... Viết để người ta tin rằng ở cái đất miền Đông Nam bộ ấy, giặc Pháp tàn bạo lắm. Rằng ở đấy, bộ đội, cán bộ cơ quan phải phát rừng đại ngàn để trồng khoai, trồng lúa tự túc đánh giặc...

Những cuốn sách ra đời trong đau khổ, nước mắt và máu lửa dường như tự thân nó đã là vượt qua thử thách. Vỡ đất là một trường hợp như thế. Đó là một trong những cuốn tiểu thuyết hiếm hoi được viết và xuất bản trong bưng biền chiến khu (thời kỳ này, thơ và truyện ngắn phổ biến hơn vì dễ in ấn, chuyền tay người này sang người khác) và tác giả hoàn toàn không biết được số phận của nó vì viết xong và gửi bản thảo đi đã phải theo “đơn vị mới hành quân vào miệt Tân Bằng”. Song, chính tác phẩm này đã đoạt giải nhất tiểu thuyết Cửu Long Giang ngay trong năm đó (1951) và được xuất bản vào năm 1952.

Nếu như Vỡ đất viết về công cuộc chiến đấu và lao động ở ở miền Đông thì Bông hường bông cúc lại viết miền Tây Nam bộ. Tác phẩm xuất hiện vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến nhưng lại mang một nét mới của văn học chống Pháp khi đề tài tình yêu được khai thác trong bối cảnh chiến tranh ở Nam bộ. “Lần đầu tiên, câu chuyện tình yêu đôi lứa được thể hiện như một chủ đề chính, và như là động lực giúp người chiến sĩ mạnh mẽ hơn lên trong chiến đấu ([8][48]).

Sống và hoạt động, sáng tác ở giữa lòng đô thị, chịu sự kìm tỏa của chế độ thực dân - tay sai, các tác giả văn học Đồng Nai hoặc đã biến ngòi bút của mình thành một thứ vũ khí chống giặc như Lý Văn Sâm, hoặc nuôi dưỡng tình yêu quê hương nồng nàn, sâu nặng qua từng trang viết như Bình Nguyên Lộc.

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7-3-1914 tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Bình Nguyên Lộc là một trong số ít các cây bút thời bấy giờ được học hành đến nơi đến chốn (đỗ Tú tài niên khóa 1933 - 1934). Gặp lúc kinh tế khó khăn, Bình Nguyên Lộc đi làm nhân viên kho bạc Sài Gòn, và bắt đầu sáng tác văn chương, cộng tác với các báo Tin Điển, Sài Gòn, Dân Báo... Dương Tử Giang là người bạn thân. Rồi Bình Nguyên Lộc cộng tác với báo Thanh niên của nhóm Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, Bình Nguyên Lộc về quê, làm cán bộ tuyên truyền của huyện Tân Uyên, là thành viên Hội văn hóa cứu quốc tỉnh Biên Hòa. Từ năm 1950 trở đi, Bình Nguyên Lộc sống tại Sài Gòn, viết báo, viết văn chuyên nghiệp, không làm công chức cho chế độ thực dân. Năm 1952, Bình Nguyên Lộc chủ trương tuần báo văn nghệ, y học Vui sống; năm 1956, cùng các bạn hữu cho ra đời tuần báo Bến Nghé, một tờ báo có tinh thần văn nghệ lành mạnh, mang đậm sắc thái Nam bộ, nhằm khơi gợi hào khí Đồng Nai khi xưa. Sau năm 1975, Bình Nguyên Lộc ở lại Sài Gòn, nhưng sau đó lâm bệnh nặng phải sang Mỹ theo sự bảo lãnh của con. Bình Nguyên Lộc mất nơi xứ người ngày 7-3-1987.

Bình Nguyên Lộc xuất hiện trên văn đàn muộn, những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lại viết chưa nhiều. Nhưng từ đó về sau, Bình Nguyên Lộc là một trong những nhà văn có khối lượng tác phẩm đồ sộ nhất ở miền Nam và trên nhiều lĩnh vực.

Về sáng tác, có các tác phẩm chính: Các tập truyện ngắn: Nhốt gió (Nxb. Thời Thế,1950), Ký thác (Bến Nghé, 1960), Mưa thu nhớ tằm (Phù sa, 1965), Tâm trạng hồng (Sống vui, 1963), Tình đất (Tia sáng, 1966), Nụ cười, nước mắt học trò (Miền Nam, 1967), Cuống rún chưa lìa (Lá Bối, 1969). Tiểu thuyết: Đò dọc (Bến Nghé, 1958), Gieo gió gặt bão (Bến Nghé, 1959), Tân liêu trai (Bến Nghé, 1959), Nhện chờ mối ai (Nam Cường, 1962), Nửa đêm trảng sụp (Nam Cường, 1963), Mối tình cuối cùng (Thế Kỷ, 1963), Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (Thế Kỷ, 1963), Hoa hậu bồ đào (Sống Vui, 1963), Bóng ai qua ngoài song cửa (Thế Kỷ, 1963), Bí mật của nàng (Thế Kỷ, 1963), Xô ngã bức tường rêu (Sống Mới, 1963), Đừng hỏi tại sao ? (Tia sáng, 1965), Quán tai heo (Văn Xương, 1967), Uống lộn thuốc tiên (Miền Nam, 1967), Một chàng hai nàng (Thụy Hương, 1967), Trăm nhớ ngàn thương (Miền Nam, 1967), Diễm Phượng (Thụy Hương, 1967)...

Ngoài ra, Bình Nguyên Lộc còn viết nhiều tác phẩm về ngôn ngữ học, dân tộc học, nghiên cứu văn học, sáng tác thơ, sưu tầm văn hóa dân gian. Tiêu biểu là các tác phẩm: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (Bách Khoa, 1971), Lột trần Việt ngữ (Nguồn xưa, 1972), Tự vựng đối chiếu 10 ngàn từ (1971)...

Sáng tác đầu tay của Bình Nguyên Lộc là truyện ngắn Câu dầm được một người bạn gửi cho hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận, lúc bấy giờ đang ở Sài Gòn. Hai thi sĩ nổi danh của phong trào Thơ Mới rất tán thưởng, đã đưa đăng báo Thanh niên vào năm 1942. Truyện ngắn Câu dầm sau được tác giả đưa vào tập Hương gió Đồng Nai. Rất tiếc, tập bản thảo này, gồm nhiều truyện ngắn và tùy bút, đã bị thất lạc hầu hết khi quân Pháp đánh chiếm quê hương ông, huyện Tân Uyên.Trước và sau năm 1945, Bình Nguyên Lộc còn dành nhiều tâm huyết để sưu tập hàng ngàn câu ca dao, dân ca trong công trình rất công phu: Thổ ngơi Đồng Nai. Mở đầu công trình này, Bình Nguyên Lộc có viết bài thơ nói lên tình yêu tha thiết của mình đối với quê hương và văn hóa dân tộc:

...Kẽo kẹt xà nhà tiếng võng đưa

Đâu đây đồng vọng của xa xưa:

Thổ ngơi thơm phức: hồn mả cũ,

Lòng rộn vui mà mắt lệ mờ.

...

 - Ngược dòng năm tháng, mấy trang này

Những ánh tuyết xưa gợi lại đây.

Gởi cả muôn thương cùng vạn nhớ

Tân Uyên, đất má, thảm vơi đầy!

 (Dâng má thương)

Nhưng tác phẩm đáng ghi nhận của Bình Nguyên Lộc những năm kháng chiến chống thực dân Pháp là tập Nhốt gió (Nxb. Thời Thế, 1950) gồm 13 truyện ngắn, được giới cầm bút thời bấy giờ rất hoan nghênh. Truyện ngắn Không trốn nữa kể chuyện một gia đình bác sĩ tản cư, toan trốn về thành vì thèm nhớ những mùi vị quen thuộc của phố phường: những miếng đường, miếng mỡ, món thịt ram cuốn bánh tráng... Nhưng vị bác sĩ kia, trong giây phút nhìn lại mình,  “một niềm tủi nhục minh mông bỗng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của bác sĩ lại. Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu hiện về chớp nhoáng: hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào nhau, mười lăm năm trước; những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt heo đút lò, cả chống mỡ, trong đình làng...”. Và “Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt, nơi óc một người rất lười nghĩ nầy, làm ông ta lảo đảo. Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có của ông. Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm của ông mới tìm thấy ”. Thế là, “ba chơn, bốn cẳng, ông chạy u về nhà, miệng lẩm bẩm: Thôi không thèm trốn nữa”. Truyện ngắn này, đương thời, khi mới đăng báo, Dương Tử Giang nhận xét: “Trong năm năm nay, tôi chưa được đọc truyện ngắn nào hay như vậy ([9][49]). Đặc biệt, truyện ngắn được lấy làm tên chung cho cả tập, Nhốt gió, miêu tả về một thằng bé chơi trò cất nhà bị gió thốc đổ. Tức tối, cậu bé cởi quần đưa về trước gió: “Nhốt mầy lại coi mầy còn phá nữa hết” . Nhưng rồi, “Gió chun vào thổi phồng quần lên. Hai ống quần bọc no nứt gió, bay ngang trên không trung như hai khúc dồi. Nó vừa túm lưng quần lại để gói gió trong ấy, thì chợt nhận ra rằng ở đâu cũng có gió hết (...) Đứa bé luýnh quýnh vì gió nhiều quá không biết đâu mà hốt cho hết...”.  “Nhốt gió” là một ẩn dụ nghệ thuật về hành động của thực dân Pháp đối với Việt Nam “khi toan nhốt phong trào lớn của dân ta chống ngoại xâm”, nhưng “gió là giông tố cách mạng chẳng ai nhốt lại được” ([10][50]).

Lớn lên trong máu lửa...

Với chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) và cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp cả nước, ngày 20-7-1954, thực dân Pháp phải chấp nhận ký kết hiệp định Geneve, kết thúc chiến tranh Đông Dương và tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, đồng thời đưa ra lịch trình tổng tuyển cử, thống nhất đất nước vào ngày 20-7-1956. Song, một lần nữa, những khoảnh khắc hòa bình lại quá ngắn ngủi với nhân dân miền Nam nói chung, đồng bào Đồng Nai nói riêng. Đế quốc Mỹ đã dựng nên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm rồi sau đó, chính thức xâm lược nước ta. Miền Nam lại đi trước về sau, tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài ngót 21 năm. Như cuộc kháng chiến lần trước, lần này, miền Đông vẫn là chiến trường ác liệt nhất của Nam bộ. Nhưng cũng tại đây, đã diễn ra những sự kiện lịch sử, chiến công thần kỳ, táo bạo của quân và dân ta như: cuộc vượt ngục, phá khám Tân Hiệp; chiến thắng Nhà Xanh; Sân bay Biên Hòa; Tổng kho Long Bình; rừng Sác; cánh cửa thép Xuân Lộc...

Trong bối cảnh mới của đất nước và quê hương, văn học đã có những bước chuyển mình quan trọng. Về đội ngũ, một số tác giả trưởng thành từ trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp nay đã tập kết, hoặc chiến đấu ở các chiến trường khác nhau như: Huỳnh Văn Nghệ, Hoàng Văn Bổn, Anh Hoàng (Hoàng Kim Chung), Tô Văn Của, Đinh Quang Dữa... Mặt khác, vùng chiến trường này lại hội tụ không ít những cây bút nổi tiếng từ các miền đất nước: Nguyễn Thi, Ngô Y Linh (Nguyễn Vũ), Giang Nam, Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh, Chu Lai... Thế nhưng, tất cả các cây bút, bằng nhiều cách đều gắn bó với “mảnh đất này”, nhất là trong các tác phẩm văn chương. Đây là một trong những đặc điểm lớn của văn học, văn hóa của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai nhiều thập kỷ qua.

1. Quê hương trong nỗi nhớ:

Suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhà văn Hoàng Văn Bổn không có mặt ở quê. Nhưng dù đang chiến đấu trên chiến trường Hạ Lào, hay vùng đất Hàm Rồng, Cồn Cỏ... Hoàng Văn Bổn đã dành trọn tâm huyết cho quê hương và cuộc kháng chiến vĩ đại vừa mới kết thúc của miền Đông Nam bộ. Đầu tiên, nhà văn đã viết lại theo trí nhớ tiểu thuyết Bông hường bông cúc (Nxb. Văn nghệ; 1957) đã bị mất bản thảo trước khi tập kết ra Bắc. Sau đó là các tiểu thuyết: Có những lớp người (Nxb. Lao động; 1958), Trên mảnh đất này (Nxb. Quân đội; 1962), Tướng Lâm Kỳ Đạt (Nxb. Kim Đồng; 1962)... Các tác phẩm này Hoàng Văn Bổn đều tập trung miêu tả cuộc chiến đấu của quê hương trong kháng chiến chống Pháp. Nếu như Tướng Lâm Kỳ Đạt là câu chuyện ly kỳ về tuổi thơ miền Đông đánh giặc, thì Trên mảnh đất này đưa người đọc đến với những khái quát sâu rộng về cuộc kháng chiến ấy ở cả Nam bộ. Cần phải hiểu rằng, những năm đó, vùng đất Nam bộ và cuộc chiến ở đây còn quá mới lạ đối với đồng bào miền Bắc. Trên mảnh đất này “đã nói lên được một phần tình hình phức tạp, những khó khăn gian khổ nhiều mặt của Đảng, chính quyền cách mạng và đồng bào Nam bộ đã trải qua trong những tháng đầu kháng chiến (...). Hoàng Văn Bổn đã cố gắng đưa người đọc miền Bắc sống lại những ngày tháng gian khổ và vinh quang đầu tiên của những con người đầu tiên cầm gậy tầm vông đứng dậy bảo vệ độc lập, thống nhất của dân tộc trên một “mảnh đất” của Tổ quốc ([11][51]). Ngay cả khi viết về những sự kiện diễn ra trên miền Bắc, Hoàng Văn Bổn cũng chọn cho mình một cách gắn bó với quê hương. Đó là trường hợp của tiểu thuyết Mùa mưa, kể về một đơn vị bộ đội miền Nam trở thành những người lính quân bưu đi thiết lập đường dây nối liền đồng bằng và vùng núi hiểm trở. Ở hoàn cảnh mới, họ vẫn thể hiện được phẩm chất của người chiến sĩ Nam bộ: thẳng thắn, chân thành, lành mạnh. Mùa mưa là một “tiểu thuyết tốt, đánh dấu một bước tiến của Hoàng Văn Bổn, ghi lại được một bước trưởng thành của quân đội ta” ([12][52]). Cũng trong thời gian này, Hoàng Văn Bổn viết nhiều tác phẩm về cuộc sống và chiến đấu của nhân dân miền Bắc: Hàm Rồng (1968), Sóng Hồn Mê (1971), Bầu trời mặt đất (1973 - 1974)...

Cùng một hoàn cảnh như Hoàng Văn Bổn, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ sau năm 1954 đã tập kết, sống và viết ở miền Bắc. Đối với một người như Huỳnh Văn Nghệ, quê hương là nỗi nhớ đầy. Những kỷ niệm về cuộc chiến hôm qua vẫn còn đầy ắp trong tâm trí ông. Bây giờ, nhà thơ có dịp nhìn ngắm, suy gẫm và nâng lên thành những hình tượng khái quát:

Cách mạng đến giữa mùa trăng tháng Tám

Chiến khu Đ rừng vắng bỗng tưng bừng.

Sợi dây thừng thắt bao đạn quanh lưng

Áo rách vai, đầu trần, đi khởi nghĩa.

Những tròng mắt bừng bừng ánh lửa

Gót chân chai giậm vỡ nhựa đường.

 (Du kích Đồng Nai)

Đầu năm 1946, ông Nguyễn Văn Xiểng, người dân tộc Châu - ro, trên đường đi Hà Nội họp Quốc hội khóa đầu tiên bị giặc bắt giết tại Xuân Lộc. Bao năm rồi, đôi mắt tròn xoe  “trừng trừng nhìn lũ giặc” của ông Xiểng vẫn ám ảnh nhà thơ. Ông nghĩ về cái chết ấy như một sự tái sinh:

Máu anh đỏ mãi ruộng vườn

Núi rừng Xuân Lộc nhớ thương đời đời.

                                                                              (Cái chết của anh Xiểng)

Không được cầm súng giết giặc trên quê hương, nhưng một người từng vào sinh ra tử như Huỳnh Văn Nghệ hiểu thấu được tấm lòng của người dân Nam bộ (Hình ảnh Bác Hồ trong lòng Nam bộ), nhớ những ngày gian khổ và oai hùng (Chiến khu Đ chống bão) và viết Lịch sử quê hương bằng thơ:

Bao ngày gian khổ

Hằng trăm năm tranh đấu với núi rừng

Mồ hôi, nước mắt, tay sưng

Mới có được góc trời Nam tươi mát...

 (Lịch sử quê hương)

Cũng trong thời gian sống xa cách quê hương, Huỳnh Văn Nghệ đã viết nên hai hồi ký cảm động: Quê hương rừng thẳm sông dài nói về cái nôi gia đình và quê hương đã hình thành nên một nhà thơ - chiến sĩ; Những ngày sóng gió là cuộc kiếm tìm cách mạng ở một thanh niên giàu nhiệt huyết. Ngoài ra, Huỳnh Văn Nghệ còn viết về Anh Chín Quỳ, một con người giàu huyền thoại đã đi vào không ít tác phẩm văn chương của những tác giả Đồng Nai và một loạt các truyện ngắn giàu chất sử thi: Trận mãng xà, Sấu đỏ mũi, Tiếng hát trên sông Đồng Nai, Chùa ông Mõ, Mất đồn Mỹ Lộc...

2. Trên dải đất này như máu đỏ tim ta:

Sáng tác viết về cuộc chiến đấu của nhân dân Đồng Nai và miền Đông Nam bộ trong kháng chiến chống Mỹ khá phong phú.

Trước hết, phải kể đến Lý Văn Sâm, cây bút nổi danh từ những năm 40. Trước khi hiệp định Geneve được ký kết, do bị địch khủng bố, nhà văn đã trở ra bưng biền hoạt động. Bằng mẫn cảm của một nhà văn từng hoạt động trong vùng địch hậu, Lý Văn Sâm đã viết truyện vừa Một chuyện oan cừu để cảnh báo với đồng bào và chiến sĩ về cuộc chiến khốc liệt sắp đến. Sự thật, những gì Lý Văn Sâm cảnh báo đã diễn ra đúng như vậy, thậm chí còn kinh hoàng hơn, khi chế độ Mỹ - Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam để khủng bố chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước. Cũng trong thời gian đó, Lý Văn Sâm còn viết 2 truyện vừa khác. Một mang tên Nước lên, lấy bối cảnh có thật về trận lụt chưa từng thấy vùng Tây Ninh, Long An. Thế nhưng, khi đi vào truyện, “nước lên” trở thành một hình tượng nghệ thuật mang tính biểu trưng về sự biến đổi của tình thế cách mạng thời bấy giờ. Song, dù thế nào đi nữa, phong trào cách mạng của nhân dân vẫn sẽ như “nước lên”, không gì ngăn cản nổi. Một truyện khác, Vợ tôi - người dân tộc thiểu số, là câu chuyện tình đẫm lệ giữa thời tao loạn ở ngay quê hương của tác giả.

Sau khi hiệp định Geneve được ký kết, Lý Văn Sâm trở lại Sài Gòn, hoạt động trong phong trào báo chí, văn nghệ cách mạng. Ông viết nhiều tác phẩm văn học và báo chí công khai đòi hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước, chống lại chế độ Ngô Đình Diệm, chống can thiệp Mỹ, thẳng thừng phê phán, đả kích xã hội đương thời trên các tờ báo tiến bộ hoặc do lực lượng cách mạng nắm: Xuân dân tộc, Nhân loại, Công lý, Gọi đàn, Ban mai, Duy tân... cùng với các nhà văn, nhà báo: Dương Tử Giang, Việt Quang... Rồi cái gì đến đã đến. Tháng 10-1955, Sài Gòn chuẩn bị làm báo Tết, Lý Văn Sâm đã viết truyện ngắn Chuông rung trên tháp đổ đăng trên tờ Xuân dân tộc. Truyện ngắn này khiến nhiều người thán phục, còn tác giả của nó, đến ngày 23-11-1955, đã bị địch bắt giam ở bót Catinat, rồi sau đó là Nhà lao Tân Hiệp. Trong truyện, Lý Văn Sâm đã hình tượng hóa chế độ Ngô Đình Diệm là cái tháp đổ để một thầy thuốc Sơn Đông mãi võ (Mỹ) đem con khỉ (Ngô Đình Diệm) đến rung chuông hằng đêm nhát sợ mọi người nhưng chẳng có ai sợ nó cả.

Trong tù, cùng với người bạn văn thân thiết Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm tham gia Đảng bộ bí mật và trở thành “cây” văn nghệ chủ lực để tuyên truyền cách mạng. Đến ngày 2-12-1956, Đảng bộ nhà lao Tân Hiệp đã tổ chức cuộc phá khám, vượt ngục lớn nhất của tù nhân chính trị trong lịch sử chế độ Mỹ - ngụy ở miền Nam. Gần 500 chiến sĩ yêu nước và cộng sản đã trở về với kháng chiến. Từ đó, Lý Văn Sâm không còn hoạt động công khai giữa lòng đô thị nữa. Ông trở thành Chánh văn phòng Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một, Trưởng đoàn văn công bộ đội Miền, Chủ biên báo Chiến thắng... Khi Hội văn nghệ giải phóng miền Nam được thành lập, Lý Văn Sâm là Tổng thư ký của Hội và phụ trách tạp chí Văn nghệ Giải phóng. Ông còn là Vụ trưởng Vụ nghệ thuật của Bộ Thông tin văn hoá trong Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam... Nói chung, Lý Văn Sâm làm tất cả những gì mà cuộc kháng chiến cần và Đảng phân công. Ngoài sáng tác văn chương (các truyện ngắn: Người thổi sáo ở Bến Xuân, Cà Ngá, Chuyện ấy đã qua rồi và nhiều bút ký), cần thiết, có lúc, Lý Văn Sâm soạn tuồng cải lương, kịch để diễn cho bộ đội. Đây cũng là lý do trong những năm kháng chiến chống Mỹ và sau này, Lý Văn Sâm viết ít hơn. Nhưng nhà văn cũng đã khắc họa được những “bức chân dung” rõ nét. Đó là những hồi ức về những người thân thuộc trên đường kháng chiến, những trí thức - chiến sĩ cách mạng đã dũng cảm, không quản ngại hy sinh, gian khổ cho Tổ quốc như: Dương Tử Giang, Huỳnh Văn Nghệ, Vũ Tùng, Trần Hữu Trang... Phải chăng, những  “bức chân dung” này đã bổ sung vào hình tượng người trí thức trong cuộc cọ quậy tìm về dân tộc mà nhà văn từng viết trước đây, trong lòng chế độ cũ?

Cuộc đời và văn chương Lý Văn Sâm nằm trọn trên những nẻo đường kháng chiến của dân tộc. Ông gắn bó với nhân dân và thiết tha yêu quê hương, nơi ông thường gọi bằng cái tên dân dã: “quê nhau rún”. Với thiên chức người cầm bút, Lý Văn Sâm đã khắc ghi chân thật bộ mặt quê hương, biết ca khúc khải hoàn cho những chiến thắng và hát bài tang lễ trước mỗi đau thương, mất mát của nhân dân.

Kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến tranh gian khổ và ác liệt bậc nhất của dân tộc ta ở tất cả các mặt. Nhà thơ Giang Nam, cây bút trưởng thành từ Liên khu V, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến (1958 - 1960) đã có mặt ngay trong thị xã Biên Hòa, các huyện Long Khánh, Thống Nhất, Long Thành... rồi lại về chiến khu miền Đông Nam bộ cho đến ngày miền Nam toàn thắng. Bài thơ nổi tiếng Quê hương (sau này được lấy làm tên chung cho tập thơ đã khiến Giang Nam đoạt giải chính thức Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, năm 1965) được tác giả viết từ cảm xúc về người vợ bị giặc bắt đi mất tích ở Biên Hòa. Sau này, trong nhà lao Tân Hiệp, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã phổ nhạc bài thơ, rồi từ đó lan truyền đến tất cả các đô thị ở miền Nam. Còn trước đó, Giang Nam có rất nhiều kỷ niệm về vùng đất khắc nghiệt Biên Hòa. Nhà thơ kể: “Bài Lá thư thành phố, tôi viết năm 1958. Lúc này, vợ tôi đang ở đường Trịnh Hoài Đức, Biên Hòa với cháu gái mới sinh, còn tôi thì “lang bạt” làm công nhân ở Long Khánh. Hoàn cảnh của chúng tôi lúc ấy thật khổ cực (vì phải tránh địch, che dấu tung tích mình). Vợ tôi viết thư nhờ anh em quen ở sở (của chủ tư sản) mang lên...” ([13][53]). Bài thơ có nhiều chi tiết thực, rất xúc động về cuộc sống gian khổ của những chiến sĩ hoạt động nửa bí mật, nửa công khai thời ấy giờ:

Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ

Nó khóc làm em cũng khóc theo

Anh gởi về em manh áo cũ

Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều!

Nhưng trong đêm đen của khủng bố và vây hãm ấy, người miền Đông vẫn vững tin vào cuộc chiến đấu của mình:

Vì ai em khổ, con ta khổ

Đây đó tuy gần vẫn quá xa

Mủ cao su chảy đông thành máu

Tức nước ngày mai phải vỡ bờ.

Em thấy không em trời hửng sáng

Từng đêm rồi cũng sẽ qua nhanh

Một vùng thành phố thân yêu ấy

Đang ở nơi này, ở với anh.

Niềm tin tất thắng ấy không riêng một người mà cả thế hệ, cả dân tộc:

Bến Thành tình gởi chiến khu Đ

Đợi cánh chim câu báo tiệp về

...

Sẽ có một chiều ta trở lại

Lặng nhìn bãi cát uốn triền sông

Hát mừng Đất Mẹ mùa gặt mới

Nâng cốc mà sao lệ ướt tròng ?

 (Hưởng Triều - Trường ca Hành trình, 1971)

Niềm tin ấy đã bật lên thành “những tiếng căm hờn” và lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” vang dậy trên khắp mọi miền đất nước:

Hỏa tiễn, na - pan, chất độc vi trùng

Không xóa nổi màu xanh và tiếng hát.

Cây chết rồi ta sẽ trồng cây khác

Đất chết rồi, ta lại bón lại vun

Anh sẽ giữ trời xanh cho em cấy em trồng

Trái sẽ chín ngọt ngào như sữa mẹ

Ta sẽ giữ màu xanh bao thế hệ

Trên dải đất này như máu đỏ tim ta.

 (Giang Nam - Giữ lấy màu xanh, 3.1962)

Sự thật, niềm tin và quyết tâm ấy đã thể hiện bằng nhiều chiến công lẫy lừng của “miền Đông gian lao mà anh dũng” mà đương thời Bác Hồ đã viết những vần ca ngợi:

Uy danh lừng lẫy khắp năm châu

Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu

Thành đồng trống thắng lay Nhà Trắng

Điện Biên Mỹ chẳng phải chờ lâu

 (Báo Nhân dân, ngày 12-11-1964)

Và, cũng chính chiến trường ấy đã khơi nguồn cho hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Vũ, một nhà văn đã  “nhanh nhạy, dũng cảm, dám cải trang đi thực tế trong đô thị tạm chiếm để xây dựng các vở kịch hấp dẫn và đầy sức chiến đấu: Đâu có giặc là ta cứ đi, Mùa xuân, Giấy chứng nhận sức khỏe, Dậy mà đi, Đường phố dậy lửa, Bước chân...”(1). Rồi sau đó không lâu, là tiểu thuyết Đất đồng bằng của Chu Lai viết về chiến sĩ đặc công rừng Sác; là bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ Đất miền Đông của Nam Hà. Nhà văn Nam Hà đã có gần chục năm sống và chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam bộ. Đất miền Đông là bộ tiểu thuyết mô tả và khám phá hiện thực chiến tranh theo kiểu sử thi, với không gian rộng lớn, con người mang tầm vóc của chính cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc. Nhà văn không dừng lại ở những trang viết mô tả chi tiết chân thực mà dành sự quan tâm đúng mức đến quá trình vận động của cuộc chiến tranh mang tính nhân dân. Thông qua số phận hàng chục nhân vật, tác giả đã dẫn dắt người đọc hiểu sâu chiều sâu của cuộc chiến ác liệt và anh hùng ấy để từ đó đánh giá đúng mức tầm vóc của những chiến thắng mà dân tộc Việt Nam đã giành được.

Cuộc chiến tranh chống Mỹ của con người Đồng Nai và miền Đông vẫn mãi là đề tài to lớn và hấp dẫn của nhiều sáng tác văn học sau này.

4. Gió hương đồng nội:

Trong hơn 20 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở vùng tạm chiếm, Bình Nguyên Lộc vẫn viết rất sung sức. Ở lĩnh vực sáng tác văn học, Bình Nguyên Lộc nổi tiếng là người viết nhiều và nhanh. Nhà văn Sơn Nam kể, Bình Nguyên Lộc đã tập cho ông viết nhanh và biểu diễn cho tác giả Hương rừng Cà Mau xem. Còn Thanh Tùng, trong Văn học từ điển (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, Quyển 1, tr.23 - 24) chép: “Ông được kể là một trong số những nhà văn viết nhiều nhất, nhiều đến nỗi chính ông cũng không còn nhớ mình đã viết những gì nếu không nhìn vào một biểu liệt kê đã viết” . Những năm 1974, 1975, người ta thống kê, Bình Nguyên Lộc đã viết trên một ngàn truyện ngắn và hơn năm mươi tiểu thuyết đăng báo.

Nhưng điều đáng nói nhất ở Bình Nguyên Lộc chưa phải là nhà văn viết nhiều và nhanh mà là một cây bút Nam bộ thuần chất, là nhà văn đã “gắn sinh mệnh tác phẩm văn chương của mình đối với đất nước, non sông (1). Ngay từ khi mới cầm bút, Bình Nguyên Lộc đã sớm ý thức việc dựng lại con người đi mở cõi về phương Nam (tiểu thuyết Phù sa) và ông viết với một tình cảm yêu thương đắm say. Làng quê, nông thôn miền Đông Nam bộ hiện ra trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc rất rõ nét, con người sống với nhau mộc mạc, chân thành, gắn bó bởi tình làng nghĩa xóm thiêng liêng. Bình Nguyên Lộc đã để lại cho đời nhiều con người và làng quê Nam bộ, đặc biệt là vùng Đồng Nai, thật sinh động trong văn chương. Còn nếu đặt vào bối cảnh lúc nhà văn sáng tác thì có thể nói như nhà văn Lữ Phương, Thứ trưởng Bộ văn hóa - thông tin Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, “Chỉ nói tới cái thái độ của tác giả chăm chút thiết tha khi nói về quê hương đất nước, rồi đem so sánh với thái độ dạn dày của bọn mất gốc đang núp vào những học thuyết ngoại lai đồi phế chối bỏ giống nòi, cùng thái độ của bọn kêu đòi nhục dục (...) đang dựa vào chiêu bài “ nghệ thuật” để hủy diệt ý chí tự cường của dân tộc (...) chúng ta tin tưởng rằng vẫn có nhiều người không quên quê hương (2).

Viết nhiều và đa dạng nhưng thể loại Bình Nguyên Lộc tỏ ra sở trường và để lại dấu ấn khó quên trong lòng bạn đọc là truyện ngắn. Nếu trước năm 1954, Bình Nguyên Lộc từng ví hành động của thực dân Pháp đối với phong trào cách mạng của nhân dân như là chuyện  “nhốt gió” thì sau năm 1954, ông đã một lần “vuốt râu cọp” khi dùng hình tượng nghệ thuật đả phá trực diện chế độ Ngô Đình Diệm. Thời đó, chế độ tay sai này lấy cây tre làm biểu tượng, “với ý nghĩa “ hư tâm trực tiết”, ruột trống rỗng (không tham lam), thân mọc thẳng (giữ chính nghĩa, tiết tháo), thực chất vẫn là hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời. Bấy giờ, ở miền quê, nhiều người đã đi tù vì làm những bài thơ châm biếm cây tre(1). Thừa biết điều đó, nhưng Bình Nguyên Lộc vẫn viết một truyện ngắn mang tên Tre phải tàn (đăng báo, sau được in trong tập Mưa thu nhớ tằm). Truyện kể về sinh hoạt một gia đình được xem là có học, nhưng người tộc trưởng nệ cổ, gia trưởng và chỉ chuộng hình thức. Kết thúc, nhà văn để cho một nhân vật nói về ông cụ lẩm cẩm ấy:  “Giúp cho một vài ông cụ, một vài bà cụ sống dai như ông cụ trưởng tộc mình, sống để không ai thương, không ai thương, không thương ai cả, sống bơ vơ như một Từ Thức, trong khi bao nhiêu người đồng thời đều đã ra ma, ích lợi gì cho người thọ?”. Nhà văn Sơn Nam kể, với truyện ngắn này, Bình Nguyên Lộc đã khiến người trong nghề thời đó rất nể trọng.

Tại thành phố Biên Hòa, những năm 70, xuất hiện hai cây bút trẻ đương thời được bạn đọc chú ý. Về văn xuôi, có Nguyễn Thái Hải (sinh năm 1950), học sinh Trường trung học Ngô Quyền, sáng tác từ khi còn là sinh viên trường đại học Dược. Trước năm 1975, Nguyễn Thái Hải đã được Nxb. Tuổi Hoa xuất bản 7 truyện vừa về thiếu nhi, được độc giả nhỏ tuổi rất ưa thích: Hoa tầm gửi (1970), Chiếc lá thuộc bài (1970), Mùa sương mù (1970), Ngoài cửa sổ (1970), Nhóm lửa (1971), Tiếng hát vành khuyên (1971), Xóm nhỏ (1972). Truyện của Nguyễn Thái Hải đưa bạn đọc đến với thế giới tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng. Lời văn nhẹ nhàng, mạch lạc. Anh gần gũi, thân thiết và kể với tuổi thơ những chuyện đời nho nhỏ nhưng thắm tình nhân ái. Đây là bước đi ban đầu song vững chãi vào thế giới tuổi thơ để sau năm 1975, Nguyễn Thái Hải với nhiều sáng tác trong bối cảnh mới: Bên bóng Thái Sơn (Nxb.Đồng Nai, 1978), Thằng đầu bò (Nxb.Đồng Nai, 1993), Ba chàng thám tử (Nxb.Trẻ, 1993), Cha con ông Mắt mèo (Trẻ, 1993), Những trái sao xoay (Nxb.Kim Đồng, 1993), Con dốc cổng trường (Nxb.Đồng Nai, 1994).

Về thơ, Nguyễn Tất Nhiên (1952-3-8-1992) có thể xem như một hiện tượng trong đời sống văn nghệ vùng tạm chiếm. Tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, Nguyễn Tất Nhiên cũng là một học sinh Trường trung học Ngô Quyền. Làm thơ khi còn là học sinh. Năm 1970, Nguyễn Tất Nhiên xuất bản tập thơ Thiên tai. Nhưng nhà thơ trẻ chỉ được mọi người biết đến khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nhiều bài thơ của anh: Thà như giọt mưa, Em hiền như masoeur, Hai năm tình lận đận... Thơ tình học trò của Nguyễn Tất Nhiên chân thật, nhưng mới lạ và phóng khoáng trong thể hiện:

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng

Người thì không bắt bóng được bao giờ

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng.

 (Nỗi sầu khổ dịu dàng)

Tình yêu của nhà thơ luôn hướng đến một vẻ đẹp trong sáng, thánh thiện. Nhưng, anh cũng sớm nhận ra sự mong manh, dễ vỡ của nó. Điều này xuất phát từ thực tế, Nguyễn Tất Nhiên trong đời cũng như trong thơ, là một người tình không mấy may mắn. Song thơ Nguyễn Tất Nhiên có lẽ cũng phản ánh ít nhiều tâm trạng của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh niên đô thị bế tắc trong cuộc sống thời bấy giờ. Cách sống, thái độ ấy hẳn nhiên không có gì đáng để lứa tuổi học trò noi theo. Nhưng, Nguyễn Tất Nhiên đã để lại cho đời không ít câu thơ hay và đẹp:

Giọt mưa xanh mấy tuổi nàng,

Tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa...

 (Tình một hai năm)

Trời nào đã tạnh cơn mưa

Mà giông tố cũ còn chưa muốn tàn.

 (Trúc đào)

Cũng trong thời gian này, ở Biên Hòa xuất hiện những cây bút trẻ khác như: Hà Thu Thủy, Tường Linh, Hồ Triều... Thơ Hồ Triều ([14][54]) có nhiều bài ghi lại sự ngột ngạt của một xã hội đầy tai ương bởi chiến tranh:

Thành phố có những đám khói

Có từng hồi còi báo động

Xe hồng thập tự trương cờ

Con người luôn luôn là thành trì ứng chiến

Thành phố im như sa mạc

Đầy ắp những người chờ đợi rất lâu.

 (Thành phố, 1971)

Có lẽ, những câu thơ như thế phần nào thể hiện được ý nghĩ của Lữ Phương, tuy sống giữa lòng đô thị tù hãm, song không ít người đã không quên quê hương. Dù sao, khi đã thấy ngột ngạt con người dễ đi tìm những gì mình chưa có.

Vòng tay hòa bình:

Hơn hai mươi năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, vùng đất Đồng Nai lịch sử vượt qua bao khó khăn từ đổ nát của chiến tranh đã trở thành vùng đất trù phú, năng động trong phát triển kinh tế, đa dạng về xã hội. Đời sống văn học có bước phát triển mới, phong phú hơn. Tuy nhiên, khác với các giai đoạn trước, khi hầu hết tác giả đã định hình và những tác phẩm cũng đã trải qua thử thách của thời gian, văn học Đồng Nai sau năm 1975 rất cần một sự đánh giá toàn diện, cụ thể và khách quan. Do đó, ở đây, với sự thận trọng cần thiết, chúng tôi chỉ phác thảo những nét lớn.

1. Sự tổ chức và đội ngũ:

Ngay sau hòa bình, việc tập hợp, đoàn kết và tổ chức đội ngũ cầm bút ở Đồng Nai đã được Tỉnh ủy và UBND tỉnh đặc biệt quan tâm. Sau một thời gian vận động, ngày 22-12-1979, Đại hội lần thứ nhất của Hội văn học - nghệ thuật Đồng Nai (gọi tắt là Hội văn nghệ) được khai mạc. Đại hội quy tụ được 65 hội viên, ở nhiều lĩnh vực: văn học, sân khấu, âm nhạc, hội họa. Đại hội đã bầu ban chấp hành gồm 11 người, do nhà văn Lý Văn Sâm làm Chủ tịch kiêm Tổng thư ký. Đến tháng 4-1992, Hội văn nghệ đại hội lần thứ hai, có trên 100 hội viên tham dự. Nhà văn Hoàng Văn Bổn được cử làm Chủ tịch Hội.

Giữa hai kỳ đại hội của Hội văn nghệ là sự bổ sung khá lớn đội ngũ của tỉnh, từ các cây bút sinh trưởng tại Đồng Nai và số không ít là những người từ mọi miền của Tổ quốc chuyển về. Hơn hai mươi năm sau ngày miền Nam được giải phóng, vùng đất Đồng Nai vừa là nơi ươm mầm, vừa là nơi hội tụ đội ngũ sáng tác. Quá trình ấy, do những điều kiện kinh tế, xã hội có phần hấp dẫn, đã diễn ra khá mạnh mẽ. Mặt khác, với vai trò như một tổ ấm của những người sáng tác, Hội văn nghệ đã đóng góp không nhỏ vào việc tập hợp, tổ chức và khuyến khích đội ngũ phát triển. Hầu như không có một cây bút đáng lưu ý nào ở Đồng Nai lại không phải là hội viên của Hội. Từ chỗ chỉ khoảng trên mười hội viên văn học, đến nay, Hội văn nghệ Đồng Nai đã có trên năm mươi hội viên văn học. Hội đã tổ chức thành các ban chuyên môn (văn học, âm nhạc, hội họa, sân khấu) và xuất bản tờ tạp chí Văn nghệ Đồng Nai (từ năm 1979, sau đó chuyển thành báo Văn nghệ Đồng Nai, rồi báo Sông Phố). Trong nhiều năm, báo Văn nghệ Đồng Nai là diễn đàn và là nơi lần đầu tiên đăng những sáng tác của đội ngũ cầm bút. Ngoài ra, Hội văn nghệ còn tổ chức các trại sáng tác văn học, nghệ thuật; các cuộc vận động và thi sáng tác đề tài văn nghệ Đồng Nai cho đông đảo những người cầm bút trong và ngoài tỉnh tham gia.

Từ nỗ lực của bản thân những người cầm bút và sự quy tụ của Hội văn nghệ, hơn hai mươi năm nhiều cây bút trẻ Đồng Nai đã trưởng thành, được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam: Khôi Vũ (Nguyễn Thái Hải), Nguyễn Đức Thọ (văn), Tạ Nghi Lễ, Trương Nam Hương, Cao Xuân Sơn, Đàm Chu Văn (thơ). Nhiều cây bút đã đoạt các giải thưởng văn học có giá trị, như: Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam (Hoàng Văn Bổn, Khôi Vũ, Trương Nam Hương), Giải thưởng ở các cuộc thi sáng tác trong và ngoài tỉnh (Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Đức Thọ, Cao Xuân Sơn, Đàm Chu Văn, Khôi Vũ, Trương Nam Hương, Thu Trân, Nguyễn Một, Huỳnh Tới, Hoàng Ngọc Điệp, Nguyễn Sỹ Bá, Lê Đăng Kháng, Trần Thu Hằng...).

Hơn 20 năm qua, địa bàn tỉnh Đồng Nai đã có không ít lần chia tách một số địa phương. Vì thế, nhiều cây bút từng gắn bó lâu năm với vùng đất này đã chuyển sinh hoạt ở những địa phương khác. Một số cây bút, do điều kiện sống của bản thân và gia đình, đã không còn có mặt tại Đồng Nai. Điều này cũng là tất nhiên như hội tụ liên tục đã và đang diễn ra. Quan trọng hơn là trong thời gian sống và viết tại Đồng Nai, với tất cả các cây bút, đây là quê hương máu thịt của mình.

2. Đề tài và nội dung chủ yếu:

Văn học Đồng Nai sau năm 1975 tập trung vào hai đề tài lớn: cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của quê hương và dân tộc; cuộc sống đương đại với nhiều bề bộn, vất vả nhưng cũng luôn trăn trở, kiếm tìm.

Như mối duyên nợ với kháng chiến và cách mạng, hầu hết tác phẩm Hoàng Văn Bổn trong hơn 20 năm qua là sự trở về với thuở ban đầu, từ: Tuổi thơ ngọt ngào, Tuổi thơ trong làng, Lũ chúng tôi, Ngày xửa ngày xưa, Quê nội xa xôi đến Ngôi sao nhớ ai, Nhớ rừng xưa... Đặc biệt, với các bộ tiểu thuyết khá công phu và đồ sộ: Miền đất ven sông, Nước mắt giã biệt, Khắc nghiệt, Hoàng Văn Bổn đã thể hiện sự già dặn về nghệ thuật khi tác giả trở lại với những năm tháng không thể nào quên của quê hương. Vẫn những con người và vùng đất ấy nhưng đã được nhà văn khắc họa, nhìn ngắm từ nhiều phía và trong bối cảnh chung của cả đất nước. Vì thế, không gian trong tác phẩm Hoàng Văn Bổn càng được trải rộng với nhiều mối quan hệ đa dạng và phức tạp. Thời gian cũng không dừng lại, cho dù đó là những thời khắc đỉnh điểm. Trong không gian và thời gian ấy, chiều kích con người đã ngang tầm với lịch sử. Hoàng Văn Bổn ý thức rất rõ và nung nấu ước muốn có được bộ biên niên sử về Đồng Nai “khoai củ”, về miền Đông gian lao mà anh dũng trong sáng tác văn chương. Có thể khẳng định, món nợ tinh thần ấy phần nào đã được nhà văn trang trải bằng những trang đời giữa các trang văn của mình. Và, cũng có thể nói rằng, trước khi bao tượng đài anh hùng, bao bia mộ cho những chiến sĩ vô danh được dựng lên và nhiều chiến công của quê hương được tuyên dương thì Hoàng Văn Bổn, một người con của quê hương, với tư cách nhà văn, đã khắc họa thật nồng nhiệt và sâu đậm trong văn chương.

Đề tài chiến tranh và cách mạng ở Đồng Nai còn được nhiều cây bút khai thác. Nhà thơ Giang Nam kể: “Năm 1977, tôi đi tìm lại cơ sở cũ ở đường Trịnh Hoài Đức, Biên Hòa, thì gia đình ấy đã thất lạc ở đâu không biết. Tôi đứng đứng gần ngôi nhà cũ mà muốn khóc ([15][55]). Từ cảm xúc ấy, Giang Nam đã vết bài thơ Thành phố trẻ với dòng đề từ: Kính tặng Biên Hòa, thành phố thời tuổi trẻ của tôi. Bài thơ vừa có niềm vui khi trở về chốn cũ, vừa có thoáng bùi ngùi, tiếc nhớ:

Không tìm ra khu phố nhỏ ngày xưa

Thuở giặc vây, em chỉ đường anh tránh

Em nhớ không cũng mùa hoa bưởi trắng

Giờ anh tìm trong hương bưởi, em ơi !

Nhớ câu hát ru hời  “...nước chảy chia hai”

Hai mươi năm, sông Đồng Nai vẫn đó

Khói nhà máy tiếng thoi đưa hối hả

Những con đường Tân Vạn chúng ta quen.

Có phải vì em sống mãi tuổi thanh xuân

Nên thành phố khi anh về rất trẻ

Hay vì giờ tan tầm tiếng nói cười rộn rã

Hương bưởi thơm lừng tóc cô gái ca ba.

Những dòng thơ ân tình có từ rất sớm, trước khi toàn dân hưởng ứng chủ trương  “đền ơn đáp nghĩa”. Văn học, trước những vấn đề nhạy cảm, nhất là chuyện tình đời, tình người, thường có bước chuẩn bị tâm thế ở người đọc. Khi việc đền ơn đáp nghĩa đã trở thành phong trào tốt đẹp và rộng khắp trong nhân dân, văn học lại chọn cho mình hướng đi riêng, sâu lắng và bền bĩ hơn. Đó là trường hợp của Dòng sông thao thức của Huỳnh Tới (kịch bản văn học, đã được chuyển thể thành phim và diễn trên sân khấu, đoạt huy chương vàng Liên hoan phim truyền hình toàn quốc 1998), kể về những nối éo le, mất mát chôn chặt trong lòng những người mẹ, người chị thời chiến tranh để bao năm sau ngày đại thắng vẫn khiến lòng người xót xa, đau đáu. Là trường hợp Bà mẹ anh hùng của Đàm Chu Văn (bài thơ đã đoạt giải thưởng thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội, năm 1996):

Hai cuộc chiến tranh lặn vào mái tóc

hòa bình về trắng hai bàn tay

chồng con lên bàn thờ hết

hai mươi năm thanh bình mình má còn đây

Chuyện mất mát hy sinh giờ quên quên nhớ nhớ

khói sương lãng đãng tháng ngày

quờ bàn tay

ôm về khoảng trống

ngày tựa bóng

mình đối diện mình...

Và còn bao vần thơ, lời văn đậm tình nghĩa về một thời không thể nào quên.

Viết về cuộc sống đương đại là mảng sáng tác phong phú nhất của văn học Đồng Nai sau năm 1975.

Tuy không có mặt thường xuyên ở Biên Hòa, Đồng Nai như thời thơ ấu, nhưng vùng đất này vẫn rất hấp dẫn với cây bút Trần Bạch Đằng. Sau năm 1975, nhà văn đa tài này đã viết không ít tác phẩm về miền Đông Nam bộ. Đặc biệt, trong tiểu thuyết Chân dung một quản đốc (1983, ký tên Nguyễn Hiểu Trường), Trần Bạch Đằng viết về Hai Cũ, một tay đầu đảng của băng cướp khét tiếng vùng Biên Hòa - Long Khánh đã trở thành chiến sĩ cách mạng, rồi hòa bình trở thành một quản đốc. Với khí phách và tài trí hơn người, Hai Cũ trở thành anh hùng lục lâm, nhưng chế độ cũ trước đây nào có thể chấp nhận kiểu người như anh ta. Vả lại, trong thâm sâu, Hai Cũ cũng là một nạn nhân của xã hội ấy. Trong anh, chất chứa bao khát vọng. Vì thế, với sự cảm hóa của cách mạng, Hai Cũ đi theo kháng chiến là điều tất nhiên. “Với Hai cũ, trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại lại có thêm một nẻo đường đi vào cách mạng, đã từng là của những người nông dân, công nhân, trí thức yêu nước, của một kẻ ăn mày, một nhà buôn tiến bộ, một nghệ sĩ bế tắc, một gái điếm bất đắc dĩ... và nay, của một tên cướp ([16][56]). Với những vùng đất khác, điều này có thể là hiếm hoi, nhưng ở miền Đông, trong chiến tranh, cũng như hòa bình, từng có không ít những người ngang tàng, khí phách, bị người xã hội cũ kiên dè và tìm cách hạ độc, đã đến với cách mạng và kháng chiến vì chỉ có ở đó, họ mới thật sự được tôn trọng và được thỏa mãn những khát khát tự do, công bằng.

Trong số các tác giả trẻ, trưởng thành sau năm 1975 ở Đồng Nai, Khôi Vũ (Nguyễn Thái Hải) là trường hợp tiêu biểu nhất. Từ những năm 1984, 1985, anh xuất hiện đều đặn. Đầu tiên là tập truyện ngắn Già lửa (Nxb.Đồng Nai, 1985), rồi đến truyện vừa Chuyện ở dãy phố năm căn (Nxb.Đồng Nai, 1987) và một loạt các tiểu thuyết: Người có một thời (Nxb.Tác phẩm mới, 1988), Giữa dòng đời (Nxb.Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh), Lời nguyền hai trăm năm (Nxb.Thanh niên, 1989), Dòng sữa cây nước mắt (Nxb. Đồng Nai,1990), Mặt trời của riêng ai ? (Nxb.Thanh niên,1990), Triệu phú (Nxb.Đồng Nai, 1992), Ngọn lửa âm thầm (Nxb.Đồng Nai,1993). Tất cả các tác phẩm của Khôi Vũ đều viết về cuộc sống bộn bề của ngày hôm nay. Anh là người đi nhiều và ham khám phá cuộc sống từ nhiều khía cạnh và nhiều lĩnh vực khác nhau. Lời nguyền hai trăm năm là tác phẩm tiêu biểu nhất của Khôi Vũ trong hơn hai mươi năm cầm bút. Đây cũng là tác phẩm văn học đầu tiên ở Đồng Nai sau năm 1975 đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam. Cuốn sách viết về một dòng họ trải 200 năm vẫn bị một lời nguyền ám ảnh và săn đuổi: phải làm điều ác để duy trì dòng dõi của mình! Bao người từng toan “bẻ nạn chống trời” nào có làm được. Đến thời Hai Thìn, nhân vật hiện tại, hiểu rõ lời nguyền từ trong cội nguồn của nó. Nhưng anh lại là người duy nhất của dòng họ cưỡng lại để rồi phải nhận lấy cái chết. Song, đấy là cái chết để điều thiện được hiện hình và cái ác phải bị đẩy lùi. Lời nguyền hai trăm năm là bài ca khắc nghiệt, cay đắng nhưng hân hoan của cuộc hành trình cưỡng lại định mệnh để trở về với điều Thiện. Con người, dù phải chết, cũng không được làm điều ác. Đấy là triết lý của nhà văn và cũng là lý tưởng nhân đạo cần có của cuộc sống ngày hôm nay.

Một tác phẩm viết về cuộc sống đương thời đang được ghi nhận là tập bút ký Đài tưởng niệm đáy nước (Nxb.Đồng Nai, 1990) của Hoài Tố Hạnh. Tác phẩm gồm 13 bài ký viết về công cuộc xây dựng công trình thủy điện Trị An. Tác giả vốn là một nhà báo, từng nhiều năm lặn lội trên  “công trình thế kỷ” này và đã đoạt giải xuất sắc nhất của báo Văn nghệ (Hội nhà văn Việt Nam) năm 1987 với bút ký Đá nổi xôn xao. Trong tác phẩm này, Hoài Tố Hạnh hầu như không bỏ sót một sự kiện, bộ phận nào ở Trị An hoặc liên đến nó. Ngòi bút của tác giả tỉ tê tâm tình với những người địa chất âm thầm vượt suối băng rừng, chia sẻ nỗi vất vả, khổ nhọc của những người thợ trong các ngày cao điểm, với nỗi lo toan của những người đứng mũi chịu sào, reo mừng trước những đóng góp của nhân dân miền Đông cho Trị An... Nhưng trang viết của Hoài Tố Hạnh không bị chìm khuất bởi hàng loạt sự kiện, bởi cảnh quan đồ sộ, ngổn ngang. Ở đâu, cũng tìm thấy bóng dáng của một người viết ân cần, chu đáo, sống với từng nhân vật của mình. Và ở đâu, cũng hiện lên vẻ đẹp sáng trong của từng số phận nhỏ nhoi, đôi khi ở hàng ngàn, hàng vạn con người có lúc tưởng chừng bị cuốn hút, lu mờ đi. Tác giả đã biết vượt lên những sự kiện cụ thể để nêu được những vấn đề có tính khái quát xã hội lay động tâm tư người đọc.

Cuộc sống xây dựng và phát triển quê hương Đồng Nai những năm hòa bình còn được thể hiện ở những tác phẩm của nhiều cây bút như: Lê Đăng Kháng, Đàm Chu Văn, Cao Xuân Sơn, Vũ Xuân Hương, Nguyễn Thị Tư, Phạm Thị Nguyệt Cầm, Trường Thanh... Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn rằng, có không nhiều những tác phẩm khái quát được cuộc sống bộn bề, diễn ra có phần hối hả trên một vùng đất được xem là năng động bậc nhất của đất nước sau chiến tranh. Một số cây bút trẻ có triển vọng nhưng lại chưa thật sự “hiểu biết để khám phá và sáng tạo” (Phạm Văn Đồng) hiện thực và cũng có những cây bút tỏ ra không “thuộc” về vùng đất mình đang sống so với các vùng quê trong ký ức. Điều này hẳn là tất nhiên đối với một vùng đất trẻ.

Nhìn một cách bao quát, trên từng bước đi của lịch sử, văn học viết Đồng Nai, khi đậm khi nhạt, đều bắt rễ từ cuộc sống chiến đấu và lao động đầy máu lửa, gian khó và vinh quang của nhân dân và không có biến thiên to lớn nào mà văn học đã bỏ qua. Vùng đất ấy đã làm nên lịch sử và ươm mầm cho những tài năng văn học vẫn đang hứa hẹn một tương lai tươi sáng:

Giữa trời vời vợi, đất mênh mông

Nhớ thuở cha ông đời chật hẹp

Ba trăm năm trước, đến miền Đông

Hiên ngang hồn nước thanh gươm thép

Vang động trời Nam, tiếng trống đồng.

...

Ơi miền Đông, Đồng Nai oanh liệt

Đẹp sao đất đỏ, đất anh hùng

Bát ngát màu xanh, vui bất tuyệt

Ngày mai đang đến, sáng vô cùng!

(Tố Hữu - Nhớ về Đồng Nai)



(1). Những chỗ trong ngoặc là chữ của Huỳnh Văn Nghệ. Xem thêm Những ngày sóng gió in trong tập Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ; Nxb. Đồng Nai; 1998. 

(1) Văn học Nam bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900  -  1954); Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; 1988; tr.166.

(1). Lê Duẩn; Tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng; Nxb. Sự thật; 1980; tr.13.

(2). Đoàn Giỏi; Một ít kỷ niệm về hoạt động của Chi hội văn nghệ Nam bộ  in trong Cách mạng - kháng chiến và đời sống văn học 1945   -   1954; Nxb. Khoa học xã hội; 1996; tr. 617.

(1) Văn chương tranh đấu miền Nam; Kỷ Nguyên xb; Sài Gòn; 1969; tr. 280.

(2)  Hoàng Phủ Ngọc Tường; Những cuốn sách tôi đã đọc hồi còn bé in trong Hồi nhỏ các nhà văn học văn ; Sở giáo dục Nghĩa Bình xuất bản; 1986; tr.48.

(3) Tên các truyện ngắn của Lý Văn Sâm.

(2) Thế Phong: Văn học miền Nam 1945   -   1950; Đại Nam văn hiến xb; Sài Gòn; 1957 hay Nguyễn Văn Sâm: Văn chương tranh đấu miền Nam; Kỷ Nguyên xb; Sài Gòn; 1969; mục Lý Văn Sâm từ tr. 270   -   310.

(1). Hoàng Văn Bổn; Quyển tiểu thuyết đầu tay của tôi in trong Cách mạng   -   kháng chiến và đời sống văn học 1945   -   1954; Nxb. Khoa học xã hội; 1995; tr. 650   -   652.

(1). Nguyễn Thị Thanh Xuân; Nhìn lại văn học kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ (1945  -  1954) in trong Bình luận văn học, Niên giám 1997; Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học Tp. Hồ Chí Minh; Nxb. Khoa học xã hội; 1998; tr.32.

(1). Thế giới, số 6.1949.

(2). Sơn Nam: Nhớ Bình Nguyên Lộc; báo Lao động chủ nhật ; ngày  26.5.1991 và Bình Nguyên Lộc với Rừng mắm; Văn nghệ đặc san; số 6.1992.

(1). Sơn Tùng: Đọc sách Trên mảnh đất này ; báo Nhân dân; ngày 24.2.1963.

(2). Trường Lưu; Đọc sách Mùa mưa; báo Nhân dân; ngày ? 11.1960.

(1). Trích thư riêng của Giang Nam gửi cho B.Q.H. ngày 30.11.1999.

(1)  Nguyễn Thế Hải; Ngô Y Linh   -   Tiếng trống trận trong Miền Nam trên đường giải phóng; Nxb. Trẻ và Tạp chí Thế Giới mới; 1998; tr. 51.

(1) Lữ Phương; Đọc sách Tình đất ; Tạp chí Tin văn, số 8, ngày 30.9.1966.

(2) Lữ Phương; Sđd.

(1) Sơn Nam ; Tài liệu đã dẫn.

(1). Tác giả tên thật là Hồ Văn Lưu, sinh năm 1951, học sinh Trường trung học Ngô Quyền, sinh viên Đại học văn khoa và  Đại học luật Sài Gòn. Trước năm 1975, có thơ đăng trên các báo: Tuổi  Ngọc, Mây Hồng, tạp chí Trình Bày... Năm 1998, Nxb. Đồng Nai có in tập Thơ Hồ Triều, gồm 24 bài thơ, chủ yếu tác giả viết sau năm 1975.

(1). Trích thư riêng của Giang Nam ngày 30-11-1999. Trong bức thư này, nhà thơ còn cho biết:  “Bài thơ Giữ lấy màu xanh tôi viết năm 1962 khi được tin Mỹ rải chất độc ở vùng Phước Tân, Long Thành (đường 15). Vùng này tôi đã qua, là một vùng rất xanh tươi, trù phú và cũng đã che chở, bảo bọc chúng tôi nhiều ”.

(1). Nguyễn Văn Nam; Trần Bạch Đằng   -   một cây bút đa dạng; Tạp chí Văn học số 3.1987; tr. 34.

Comments