3.3. Các hình thức diễn xướng nghi lễ

Hát bội, tuy đã suy tàn từ những năm 20, 30 đến nay, song những tác động của nó, trong thời thịnh đạt, đối với các hình thức diễn xướng nghi lễ vẫn còn được bảo lưu như là những tập quán mang tính chất phong hóa mà bất cứ sự đổi thay nào đều bị coi là mất gốc. Đó là các hình thức diễn xướng nghi lễ trong cúng đình, các loại hình diễn xướng nghi lễ đã bị hát bội đồng hóa ở những mức độ đậm nhạt khác nhau: Hát đưa linh, Hát bóng rỗi, Hát phật trong khoa nghi Phật giáo...

III.2.1. Hát chầu trong lễ đình là một “thể hát đám” theo Trương Vĩnh Ký trong giáo trình Hát lý, hò An Nam (1886, trang 67): "hát bội cũng dùng vô việc lễ nhạc, cho nên nơi đình miễu, chùa chiền đều có làm nhà võ ca, để khi ai có khấn, có vái một chầu thì đem bạn hát tới đó mà hát. Tuồng hát thì chẳng thiếu gì tuồng, mặc ý chủ đám lựa lấy tuồng nào thì bọn hát phải giáp tuồng ấy mà hát".

Qua đoạn trích dẫn trên đây, cho thấy những điều Trương Vĩnh Ký nêu ra có phần giống với những gì mà Trịnh Hoài Đức đề cập đến (đã dẫn ở phần I trên), nhưng có nhiều điểm không như kết quả điều tra thực tế và tài liệu trong sách báo xuất bản từ đầu thế kỷ này đến nay. Trong thực tế, hát chầu cúng thần là hoạt động của cộng đồng thôn xóm chứ không phải chỉ là việc trả lễ của cá nhân và lệ này phổ biến có tính chất định kỳ là ba năm mới thực hiện một lần - thường gọi "tam niên đáo lệ". Ở đây, các diễn viên hát bội đảm nhận việc hát chầu này bao gồm việc diễn các tuồng tích hát bội lẫn với nghi thức Tôn vương (hay Tôn Soái) và thực hiện một hệ thống tiết mục nghi lễ, gọi là Xây Chầu.

III.2.2. Do nhu cầu Tôn vương này, các tuồng tích được chọn là các tuồng có kết thúc là phe trung thắng phe nịnh và phe trung thực hiện lễ Tôn vương, xây dựng một triều đại mới. Kịch bản diễn trong hát chầu là không có qui định, nhưng tuồng San Hậu là vở tuồng được chọn nhiều nhất trong hát chầu ở đình. Vì tuồng San Hậu là kịch bản được xây dựng theo công thức: Vua băng - Nịnh tiếm - Bà thứ lên chùa - Chém nịnh - Định Đô - Tôn vương - Tức vị mà ý nghĩa "hiện thực - lịch sử" của nó, nói theo ngôn ngữ ngày nay, là "sân khấu hóa" cuộc nội chiến thế kỷ 17, 18 và dẫn đến "cái hậu" là nhà Nguyễn giành được thắng lợi cuối cùng. Nói cách khác, lễ Tôn vương ở đình là tiết mục - nghi thức có mục đích tôn vinh chính trị cho đương triều và nó có chức năng "giáo dục truyền thống" - nói như ngôn ngữ ngày nay. Điều đó đã chỉ ra tính chất "chính thống" của nội dung tiết mục này và của cả việc diễn hát bội cúng đình.

 Ở một tầm mức lớn hơn, hệ thống tiết mục Xây chầu - Đại bội lại nhằm biểu hiện quan niệm về sự hình thành vũ trụ, sự vận động và phát triển của tạo hóa theo dịch lý của Nho gia, tức quan niệm về thế giới của Nho giáo - hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến.

a) Xây chầu là nghi thức đánh trống, pha phách ít nhiều phương thuật của Đạo giáo mà ở đây được coi như màn mở đầu: khai mạc nghi thức của cuộc lễ và cũng là mở đầu sự phân khai của trời và đất - tiếng trống biểu thị tiếng sấm khởi đầu sự chuyển động vĩ đại của khai mạc vũ trụ này.

b) Đại bội là một hệ thống tiết mục (4) nhằm "sân khấu hóa" sự phân khai và tiến hóa của vũ trụ và vạn vật.

 - Tiết mục mở cửa trời: Ông Bàn Cổ tượng trương cho thái cực, tay cầm bó nhang múa và xướng: "Càn khôn giao hoán, vũ trụ chuyển khai: Lưỡng nghi, tâm tài, ngũ hành, bát quái..".

 - Tiết mục thứ hai gọi là Xang Nhựt - Nguyệt tượng trưng cho sự phân khai của thái cực thành lưỡng nghi (Âm - Dương): một kép, tay cầm một vật tròn màu đỏ (dương/ mặt trời) và một đào, tay cầm một vật tròn màu vàng (âm/ mặt trăng) cùng múa: xang qua xang lại cho vật ấy chụm vào nhau để biểu thị âm dương giao hòa để từ đó vạn vật nảy nở, tươi tốt.

 - Tiết mục Tam tài tượng trưng cho ba ngôi Thiên - Địa - Nhân; Ba diễn viên thủ ba ông: Phước, Lộc, Thọ ra xướng, hát và nói lối những câu có nội dung chúc tụng.

 - Tiết mục Tứ Thiên vương tượng trưng cho tứ tượng (Âm - thiếu dương, dương - thiếu âm): bốn kép hóa trang làm bốn Tứ Thiên vương (cai quản bốn phương trời) múa các trường đoạn biểu thị cho sự chuyển dịch từ Tứ tượng sinh ra Bát quái, và cuối cùng, là các tiết mục đoạn dâng bốn câu liễn có nội dung chúc lành.

 - Tiết mục gọi là Đại bội, được gọi nôm na là Đứng Cái tượng trưng cho ngũ hành cho 5 diễn viên thực hiện. Các diễn viên múa, hát, nối lối các bài chúc tụng cảnh thịnh trị của thời "vua sáng tôi hiền".

 - Tiết mục cuối cùng, hiện nay ít phổ biến, là Bát tiên hiến thọ. Tiết mục này tượng trưng cho Bát quái và nhằm mục đích chúc thọ cho dân làng.

Nói chung, các tiết mục thuộc hệ thống diễn xướng nghi lễ Xây chầu - Đại bội, được giới thiệu tóm tắt trên đây, cho thấy rằng chúng có chức năng thực hành nghi lễ và nội dung của nó là sự thể hiện diễn xuất tuồng một quan niệm rất là chính thống, không xen lẫn một tí có tính chất là "diễn xướng dân gian". Tính chất không nghi lễ dân gian của diễn xướng nghi lễ cúng đình cũng có thể khẳng định rõ rệt hơn khi truy nguyên về nguồn gốc cúng đình của các tiết mục nêu trên:

 - Tiết mục Tam Tài có nguồn gốc từ vũ điệu Tam tinh chúc thọ ở cung điện nhà Nguyễn;

 - Tiết mục Tứ thiên vương có quan hệ ảnh hưởng từ vũ điệu Trình tường tập khách;

 - Và tiếc mục Bát tiên hiến thọ thì hẳn là vũ điệu Bát tiên hiến thọ được các vũ công cung đình biểu diễn vào các ngày lễ vạn thọ, thánh thọ, tiên thọ để chúc vua trường thọ.

Các vũ điệu trong cung đình nhà Nguyễn được coi là các vũ điệu múa cổ, được Đào Duy Từ chỉnh lý từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) nhằm để diễn vào dịp lễ chúc thọ vua. Sau đó, các vũ điệu cung đình cùng với các nghi thức tế lễ được qui định theo điều lệ chính thức đã được áp dụng trong cúng đình. Ở xứ Đồng Nai - Gia Định thì thể thức cúng tế và hình thức diễn xướng Xây chầu và Đại bội có lẽ bắt đầu được định hình từ đầu thế kỷ XIX - cụ thể là từ năm 1802 về sau.

Nói chung, diễn xướng trong nghi lễ cúng đình là tổ hợp các tiết mục có tính trình thực đậm phong cách hát bội mà chức năng thực hành nghi lễ của nó là nhằm biểu hiện những nhận thức về thế giới và xã hội của chế độ phong kiến - nho giáo. Cái được gọi là có ít nhiều tính dân gian là tiết mục phụ Gia quan tấn tước, mà dân gian gọi là Ông Địa dâng liễn: một kép đóng vai ông Địa, đội mũ cánh chuồn, mặc áo quan viên, đi giầy tuồng ra diễn các động tác (không lời): mài mực, thử bút, suy nghĩ tìm ý, viết một câu liễn... và trình câu liễn có bốn chữ "Gia quan tấn tước"... nói chung, tiết mục này được diễn xuất một cách hài hước với các trò phụ: Địa thủ bút/ mực bắn vào mặt, đi vào trong bị đụng đầu vào khung cửa (tưởng tượng), làm ra vẻ trịnh trọng trong tất cả mọi việc không có gì là quan trọng. Tất cả, từ nhân vật diễn đến phong cách diễn xuất cho thấy rằng đây là tiết mục chịu ít nhiều ảnh hưởng từ tính lí của vị thần linh dân dã này mà sự thể hiện cụ thể là ở Chặp Địa - Nàng một vở bóng tuồng của hình thức diễn xướng nghi lễ dân gian - gọi chung là hát bóng rỗi, trong các lễ hội cúng miễu.

III.2.2. Hát bóng rỗi: Là một hình thức diễn xướng khá phổ biến ở Đồng Nai. Đây là hình thức diễn xướng có chức năng thực hành nghi lễ tập tục thờ cúng các nữ thần. Do đó, số lượng các miễu thờ nữ thần (Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Tiên, Năm Bà Ngũ Hành, Bà Cửu Thiên Huyền Nữ... cùng với các cô cậu) ở đây là cơ sở thực tế để hình thức diễn xướng này tồn tại và phát triển.

Tập tục "chuộng các nữ thần" và "lấy việc múa hát bóng rỗi làm điều vui thú" đã có thấy chép trong sách Gia Định Thành thông chí (đầu thế kỷ XI) và sau đó, trong Đại Nam nhất thống chí/ Lục tỉnh Nam Việt. Truyền thuyết về Cô bóng Hiên ở Thiện Tân mà sự sùng kính của nhiều thế hệ cộng đồng dân cư đã cho thấy.

Hát bóng rỗi là một tập hợp nhiều tiết mục mà chính yếu là: 1) Chầu mời thỉnh tổ; 2) Múa bóng; 3) Múa mâm; 4) Bán lời; 5) An vị; và 6) Hát chặp Địa - Nàng.

a) Chầu mời thỉnh tổ là tiết mục do các cô bóng, bà bóng thực hiện: đội khăn mặt đỏ, ngồi vích đốc trên ghế trước điện thờ, tay cầm trống nhỏ vừa hát "tâu rỗi" vừa điểm trống nền nhạc của một "giàn đờn thổi" (nhị, trống, kèn lá). Mục đích của tiết mục này là mời thỉnh các thần về dự lễ:

Phần hương lễ vọng các vong,

Thánh thần hạ giáng đồng chung nghe tôi mời.

Trên thời phật ngự tam quan,

Dưới Linh tiêu điện thỉnh vua ông Ngọc Hoàng.

Ngọc Hoàng, Ngọc Đế giáng nhang,

Tề Thiên Đại Thánh đồng hưởng ban nghe tôi mời

Thứ nhất: bà cả Tiên Nga,

Bà hai Tiên Đế, bà ba Linh Hường

Bà tư Tứ động nghe khuyên,

Bà năm Thất động kim liên bửu tòa.

Ông Phán, Bà Phê; Ông Định, Bà Đề ba chữ cho dân

Chữ "tràng", chữ "thọ" lịnh bà phân,

Chữ "bá”, chữ "phước”, chữ "lộc” cho con dân đặng nhờ

Lịnh Bà ôi! (í... í... í...)

(Lý giọng bóng)

Rồng nằm kẹt đảnh (má sự) có le (i... í... i...)

Nhạn phơi kiến nhạn (í, a rượng... a...)

Loan xèo (rồi lợi...) kiếng loan...

Lịnh Bà ôi! (í... í... i...)

Vai đâu cho bằng vai đây,

Trống cơm, trống cái lại có cây đờn cò...

b) Múa dâng bông và múa Dâng mâm là hai tiết mục mà ý nghĩa nghi lễ của nó là dâng lễ vật cho các thần linh. Đây là hai tiết mục trình phức hóa nghi thức dâng lễ vật mà ở đây quan trọng đặc biệt là bông hoa và cái ngôi tháp đặt trên chiếc mâm.

Múa Dâng bông là điệu múa do các bà bóng thực hiện. Họ đặt bông trên đỉnh đầu và múa bằng các động tác ngẫu hứng tạo ra dáng vẻ bập bềnh, uốn lượn tiến từ phía trước, từ bàn thiên (nơi đặt lễ vật) vào trong điện thờ trong một tuyến múa không cố định: hoặc tiến thẳng, hoặc tiến theo hình chữ chi, hoặc tiến thoái qua lại. Cốt yếu là làm sao cho sinh động, lã lướt mà tộ bông trên đầu không xáo động hoặc rơi xuống đất.

c) Múa Dâng mâm cùng với động tác múa ngẫu hứng nhưng phần tạp kỹ được tăng cường nhiều hơn: chuyền: dùng lực của động tác cơ thể để chuyển mâm vàng từ đầu xuống vai, ngực bụng, chân và ngược lại; cấn: đặt cạnh mâm vào mũi, trán, nhân trung để múa cốt sao không cho mâm rơi; lận: đảo mâm trên bàn tay; bêu: dùng một cây, dài ngắn không chừng, đặt mâm lên đầu cây phía trên và đầu gốc để trên nhân trung, vai, bàn tay... mà múa.

d) Áp dụng nguyên lý thăng bằng, múa Dâng mâm được cải đổi bằng cách thay các "đạo cụ" khác để nhằm mục đích giúp vui hơn là thực hành nghi lễ. Ở các lễ hội nêu trên Cù Lao Phố có múa lu, múa dao chặt mía, múa dịm và múa xe đạp.

e) Nghi thức Bán Lộc (ban phát các lễ vật, hay các gói trầu cau cho người đến dự lễ) và nghi thức An vị không có hình thức diễn xướng đi kèm.

f) Chặp bóng tuồng Địa - Nàng là tiết mục được diễn trong các buổi lễ lớn. Nếu diễn chặp bóng tuồng này, thường nó được diễn sau hát chầu mời.

Chặp Địa Nàng là vở diễn hài hước kéo dài 2 - 3 giờ. Tuy nhiên, vở diễn lại dựa trên cốt truyện đơn giản: Địa dẫn đường giúp Nàng - tiên nữ cõi trời thay cho vị nữ thần xuống chứng giám lễ cúng ở miễu, đi tìm "cây huê giếng nước" biểu thị cho "tài lộc". Chặp Địa - Nàng đã nối kết nhiều trò lẻ hài hước tạo nên những trận cười vui thỏa thích cho những người dự lễ. Tuy nhiên, đàng sao những trò diễn trào lộng đó, Chặp Địa - Nàng chứa đựng những tình tiết có tính chất cầu mùa. Tiêu biểu cho chức năng của Chặp Địa - Nàng là trò "Địa đẻ": Địa đang đẻ, bỗng dừng lại, la oai oái rằng mình đau đẻ: "Ở trong nhà con chẳng khai hoa. Ra đường xa con toan hại tía, úy hại má" và sau một hồi đòi rước mụ, đòi van vái "mười hai Mụ Bà, mười ba Đức thầy" thì Địa đẻ... xong. Trò diễn này được hình thành trên cơ sở cái bụng chình ình của vai Địa. Tuy nhiên, ở đây, trò diễn này là biểu thị cho tính lý phồn thực: khả năng sinh sản của đất; và đây là trò diễn cầu mùa:

Địa sanh là đất tốt,

Địa đẻ là ăn mừng;

Địa sanh sanh hóa hóa để đức lại thế gian

Chớ Địa đực đẻ củi đòn, đá trái chứ đẻ gì?

Ở phần kết thúc vở diễn của chặp Địa Nàng chức năng nghi lễ của nó cũng được tóm tắt khá rõ:

(Nói thơ):

(...) Sau khi ăn hết chè xôi,

Địa bèn cầu chúc mọi người ở đây:

"chúc cho khỏe mạnh hàng ngày,

chúc cho phước lộc lưu lái trăm đời.

Chúc cho hết thảy mọi người,

Thảy đều phú hộ vui chơi đến già.

Thảy đều vui vẻ thuận hòa trước sau.

Chúc cho khắp Đại Nam trào,

Lê dân trong nước sang giàu vinh hoa.

Chúc cho gió thuận mưa hòa

 Chúc cho bá tánh muôn nhà bình an.

- Nàng (Nói):

Ăn rồi thôi thì về mà, ông Địa!

- Địa (nói):

Về đâu mà gấp vậy?

- Nàng (nói):

Chớ ông còn thèm nữa hay sao mà đứng đó?

- Địa (nói):

Thôi đi thì đi...

Nói chung, hát bóng rỗi với hệ thống tiết mục của nó đã đảm nhận cả chức năng lễ và hội của lễ hội cúng miễu. Tính chất dân gian của hình thức diễn xướng này là sự không phân biệt quá rạch ròi giữa chức năng vui chơi giải trí và chức năng thực hành nghi lễ. Điều đó có phần khác với hình thức diễn xướng trong tang lễ: Hát đưa linh.

III.2.4. Hát Đưa Linh: Là tên gọi thông tục của hình thức diễn xướng tổng hợp bao gồm cả ca, nhạc, múa và diễn trò. Xét trên những nét lớn, nội dung một cuộc hát đưa linh cũng nhằm thể hiện một tích sự chung giống như các nơi khác mà nguồn gốc bắt nguồn từ tình tiết nói về việc chàng Lía về làng đưa quan tài của mẹ mình lên an táng ở sơn trại Truông Mây của tập thơ tuồng Văn Doan diễn ca (hay còn gọi là Thằng Lía - thơ pha tuồng). Tiết tấu tiếc mục của hình thức diễn xướng nghi lễ này, gồm: [1] Nhưn quan (người đứng đầu điều khiển các đạo tì trong việc động quan và di quan) đóng vai người con trai Cả (hiểu là thứ một) ([1][87]) vào trước bàn vong bịt khăn tang nhằm thể hiện nghi thức xin nhận làm trưởng tử/ hiếu tử thay cho chủ tang: nhận trách nhiệm thực hiện là an táng cho người quá vãng; [2] kế đó, nhưn quan thực hiện khám quan (xem xét quan tài, di ảnh để xác định người quá vãng đúng là cha (hoặc mẹ, thân nhân) "của mình". Vừa múa, nhưn quan vừa hát một bài hát. Xưa hát gồm có nói lối, nam ai; giờ có nơi thay vai đó nói lối và vọng cổ. Dẫn một bài tương đối xưa làm ví dụ:

Như ta đây, nhứt tử trưởng quan,

Mười mấy năm qua lưu linh lãng tử

Lìa bỏ song thân, chiếm lam sơn làm nơi cư ngụ

Đêm hôm này thầy ta báo mộng:

Phụ thân (thân mẫu) đã cỡi hạc qui thiên...

Nên ta hợp đệ huynh xuống gia đường cho tỏ tường minh bạch

Ta vừa về đến đây... nhìn lên tư ảnh đi ra thì hỡi ơi phụ thân (phụ mẫu) ta đã hóa ra người thiên cổ.

Ngày nào: còn cha gót đỏ như son,

Ngày nào: còn mẹ nhai từng miếng cơm, lừa từng miếng cá.

(...)

Giờ đây, thân xác phụ thân (phụ mẫu) ta sắp vùi thây dưới ba tất đất,

thì một lạy này, đứa con bất hiếu xin đền đáp công sinh thành dưỡng dục,

và lạy thứ hai này con xin phép phụ thân (mẫu thân) về lam sơn man ngõ hầu an táng.

Kìa hoàng hôn đã khuất bóng

Ôi ta trở lại chốn gia đàng

Thập nhị đệ lo bề táng gia thân phụ (thân mẫu) đó nghe

(Các đạo tì đáp: Dạ!)

Này thập nhị đệ đều tay thọ tang phụ thân (thân mẫu)

các em sắp đặt tiền hậu cho trang nghiêm đó nghe

Thập nhị đệ nhẩm tửu rồi đưa linh cửu phụ thân (phụ mẫu) ta về lam sơn cho kịp giờ táng an phần mộ đó nghe.

(Các đạo tì đáp: Dạ!)

 Lại có quan niệm, khi quan tài quàng tại nhà quá lâu thì bị ma quỉ ám nên trong trường hợp này, nhưn quan phải cho hai "phương tướng" (hai tướng oai phong như kép võ) thực hiện tiết mục đánh phá quàn: múa đao, thương hoặc múa bài quyền nào đó (hoặc Tứ Môn, hoặc Lão Mai). Tiết mục này ít phổ biến. Mời rượu: Là tiết mục nghi lễ tượng trưng cho việc trưởng tử mời rượu các đạo tì, tỏ lời nhờ họ đưa quan tài của thân nhân mình ra đến nơi an táng: nhưn quan một tay bưng khay rượu, trên khay có nhạo và ba chung rượu, và múa một bài quyền thường là bài Phụng Hoàng hay bài Tứ Môn, thỉnh thoảng dừng lại, đưa khai rượu mời các đạo tì. Các đạo tì đưa hai tay nhận lấy chung rượu uống một cách trịnh trọng rồi để lại ly vào khay; 3) xong tiếc mục này, nhưn quan bắt đầu dùng sanh gõ nhịp ra hiệu lệnh cho đạo tì tập họp, tiến hành lễ động quan.

Ở miệt khác, tang lễ bắt đầu bằng lễ Bái quan hầu trước giờ động quan: trống nhạc tấu lên và các bô lão mặc lễ phục, miệng ngậm đèn cầy, chia làm hai hàng tiến hành đốt hương và lạy quan tài. Xong họ đứng ra hai bên để cho nhóm khác vào lạy. Xong đâu vào đó, nhưn quan cầm hai bó đuốc (hay hai cây roi) múa quanh quan tài ba vòng, rồi cất giọng hơi:

 - Bớ đạo hò!

Thương người nào khác thương ta,

Đốt nén nhang khấn vái gọi là.

Đạo tì đồng thanh:

 - Dạ!

Và bước vào (miệng ngậm nhang) cùng lạy quan tài, rồi tỏa ra hai bên. Nhưn quan gõ sanh ra hiệu lệnh, điều hành động tác nhấc quan tài của đạo tì cho nhịp nhàng... Quan tài được khiêng đi êm ái, từ từ ra khỏi nhà.

Ở Long Thành nghi thức đưa linh là một màn diễn xướng mà việc tranh cướp quan tài có phần biểu thị rõ hơn tính chất lén lút (người thực hiện phải ngậm tăm/ nhang để giữ yên lặng). Ở đây, câu chuyện cũng kể về gia đình họ Trần nọ có hai người con. Năm nọ, trời làm mất mùa người con cả bỏ nhà đi ăn cướp, chiếm núi Mai Lĩnh làm căn cứ. Hôm nọ, bọn cướp chặn đường cướp của một nhóm bộ hành và hỏi ra, người con cả biết họ là những người đi mua sắm các thứ thực vật về làm tang lễ cho chính cha mình. Người con cả vội cho bọn lâu la ngậm thẻ rồi đang đêm kéo về quê đánh cướp quan tài của cha để đem về Mai Lĩnh an táng.

Chương trình nghi lễ:

* Đạo tì ngồi hai bên quan tài canh giữ. Đến khuya đều mỏi mệt đều ngủ gà ngủ gật. Bọp cướp cho người lẻn vào thám thính.

* Người anh thứ (anh Hai) phát giác gọi gia nhân đề phòng:

 - Nầy các gia nhơn!

Có gian tế vào đây thám thính.

Đề phòng khi bọn chúng ra tay,

Sẵn dao, kiếm ra tay chống cự.

* Người anh Cả dẫn bọn lâu la đột nhập vào trong nhà. Lâu la múa kiếm với gia nhân, bắt trói từng người một dẫn ra phía sau quan tài... Chót cùng, anh Cả giao chiến với anh Hai và kết cục: anh Hai bị bắt dẫn ra sau.

* Anh cả cùng hai lâu la hầu cận bước vào trước quan tài, thiết lập bàn hương án... xong đâu đấy ra lệnh:

 - Này các chư đệ!

Dẫn em ta vào đây mở trói

Để hợp nhau: huynh đệ trùng phùng.

Trước án tiền vong bái cúc cung.

Đầu phủ phục, cư tang thọ chế.

* Lâu la dẫn người anh thứ (hiểu là chủ tang) vào đứng một bên. Người anh Cả làm lễ: thắp 3 cây hương và vòng tay khấn nguyện:

Lời khấn nguyện vong linh từ phụ (mẫu)

Nghĩa sanh thành thập ngoại hoài thai

Công dưỡng nuôi, cúc dục cao dày.

Nay con về đây...

Để đền đáp công ơn phụ mẫu

Hỡi ôi...

Hồn thân phụ có hiển linh về đây chứng giám

(cắm ba cây nhang vào vùa hương)

Đứng trước linh cửu con xin thọ phục,

Để đáp đền câu dục báo thâm ân

Công mẹ cha chưa đền đáp vạn phần.

Tình phụ tử nơi miền di lộ cha vội

Phân lại ngả...

* Anh Cả nghiêng qua em, nói:

 - Nầy hiền đệ ơi,

Ơn hiền đệ anh xin đáp tạ.

Nghĩa sinh thành hiền đệ đã làm tròn.

Còn về phần anh: lỗi đạo làm con

Tội bất hiếu: nghịch nhi chi tử.

Chữ hiếu để anh khắc ghi trong dạ:

Phụ hề sanh ngã, mẫu hề các ngã.

Ai ai... phụ mẫu sanh ngã cù lao

Dục báo thân ân, hiện thương võng cực.

*Anh Hai:

 - Thưa hiền huynh

Kể từ huynh xa cách

Mai lãnh san hắc bạch như hà,

Nay anh trở về đây cớ sự phân qua?

Cho em được biết câu hiếu ân phụ mẫu như hà nhược thủy?

* Anh Cả:

 - Nầy hiền đệ em ơi,

Như anh nay là trở về đây.

Dóc lòng đền chín chữ cù lao

Phiền hiền đệ vì câu dị ngã

Ơn hiền đệ anh ghi trong dạ

Cho phép anh di quan tài phò tá phụ thân

Để đền đáp câu hiếu ân phụ tử

* Anh Cả day mặt ra đàng trước, ra lệnh bái quan:

 - Này các chư đệ!

Đồng cử hành nghi lễ bái quan.

*Đạo tì (Lâu la) ở ngoài, sắp hàng một bước võ, bủa ra hai hàng, sắp lại hàng tư, rồi đồng làm lễ bái quan.

* Anh Cả (ra lệnh việc điều hành bái quan):

 - Một lạy đáp công sanh thành dưỡng dục

Hai lạy đền ơn chính tháng cưu mang

Ba lạy tình cha con phân cách đôi đàng

Bốn lạy nghĩa phụ tử thiên thu ly biệt.

* Anh Cả lạy xong, day mặt ra phía ngoài rồi ra lịnh động quan:

 - Này các chư đệ!

Đồng cử hành đột nhập gia trung

Phò linh cửu táng an phần mộ.

* Đạo tì:

 - Dạ (đồng bước vào nâng quan tài đi ra...) ([2][88])

III.2.4 Đánh động:

Hát đưa linh là hình thức diễn xướng tang lễ mà ở đó các trò diễn trong trong khuôn khổ của gia lễ mặc dù nó có nguồn gốc dân gian và chịu ảnh hưởng của nghệ thuật biểu diễn tuồng (sau này, có pha phách cải lương). Còn trò diễn đánh động là hình thức diễn xướng trong tang lễ có qui mô lớn và chịu ảnh hưởng của phật giáo mà trực tiếp là truyện Tây Du Ký. Đây là trò diễn theo phong cách hát bội mà các nhà sư "lừng phú" thực hiện. Trò đánh động có thể coi là "trích đoạn" của tuồng Đường Tam Tạng thỉnh kinh trong loại hình sân khấu được gọi là "hát Phật" của lễ trai đàn với qui mô "trong chay ngoài bội" (hiểu là trong làm lễ trai đàn/ chay và ngoài biểu diễn tuồng/ bội). Tuy nhiên, trò đánh động trong tang lễ được trình diễn với một ý nghĩa có phần khác với việc "tái hiện" chuyện Tây du của thầy trò Tam Tạng đi Thiên Trúc thỉnh kinh mà chủ yếu là để các đệ tử của Đường Tăng đánh dẹp bọn ma quỉ đóng chiến cứ các "động" trên đường chuyển linh cửu của người quá cố từ nhà ra huyệt mộ. Nói cách khác, trò đánh động là một hình thức diễn xướng có mục đích pháp thuật: trấn áp ma quỉ. Chính vì vậy, trò đánh động cũng được thực hiện trong các lễ Tống ôn của nhiều địa phương khác. Diễn trò này có hai phe: 1) Tam Tạng (cỡi ngựa thật) cùng Tề Thiên, Sa Tăng, Trư Bác Giới; 2) các diễn viên hát bội hóa trang thành ma quỉ, thành các loại yêu tinh nấp trong các động giả được dựng lên hai bên đường mà cuộc lễ dự kiến phải đi qua. Đám thầy trò Tam Tạng đi trước "dẫn vong" (dẫn đường cho vong hồn người chết) đến đâu bị yêu tinh ra chặn đường thì đánh: Trư Bác Giới ra trước (xưng danh, thách đấu...) rồi đánh nhau với yêu tinh; gặp con yêu tinh dữ thì Sa Tăng ra trợ sức và gặp nhằm thứ cao tay, Trư và Sa cũng thua thì Tề Thiên ra vung thiết bản đánh nhầu. Trận đánh dù gây cấn đến đâu thì cuối cùng đệ tử Đường Tăng đều thắng: Đám tang lại đi tiếp; gặp động thì đánh nữa... số lượng các động nhiều ít tùy theo tang chủ. Muốn cho có qui mô lớn thì làm nhiều động và ngược lại thì làm 5, 10 động cũng được coi là đủ.

Nói chung, hơn ba trăm năm qua, các hình thức diễn xướng dân gian và truyền thống ở Đồng Nai đến nay còn lại là chừng đó. Nhiều hình thức đã thất truyền. Tục hát sắc bùa là một ví dụ. Có loại hình nay còn được nhắc đến, nhưng không sao tìm được tài liệu cụ thể như hình thức diễn xướng cầu mưa. Còn như đua ghe ngày xưa có hò hát gì khác không lại là một câu hỏi chưa thể trả lời được... Ngoài ra, một số vấn đề khác có liên quan đến đặc điểm của các thể loại đến dân ca, tính chất nguyên hợp của hát bóng rỗi, Hát đưa linh... cũng không đủ cứ liệu để tìm hiểu thấu đáo. Nói cách khác, những gì trình bày trên đây lại những gì mà thời gian chưa đủ sức để cuốn phăng nó đi vào quên lãng.



([1][87]) Ở Cù Lao Phố, người ta cho rằng: Đứa con  thứ Một đã bỏ nhà đi cướp từ nhỏ. Hôm ấy, hắn sai lâu la đi chợ mua sắm lương thực, thực phẩm nhưng ở làng có đám tang nên mọi thứ đã bán sạch cho tay chủ. Tướng cướp hỏi kỹ ra thì đồn rằng người chết là cha mẹ mình nên hắn lẻn về làng xem hư thực. Lời kể này có phần khác với nội dung bài ca dẫn ra sau đây

([2][88]) Theo bản chép tay của ông Võ Văn Đác (Long Phước, Long Thành)

Comments