3.4. Đồng Dao

III.4. Đồng Dao: Sự phong phú của đồng dao Đồng Nai bộc lộ rõ rệt ở tính dị bản của chúng:

III.4.1. Các bài vè con cút đã dẫn ở phần văn học dân gian Đồng Nai trên đây là những ví dụ. Chính số lượng phong phú của các dị bản bài vè này đã cung cấp những cơ sở cần thiết để nêu ra giả định rằng đây là "dao từ" của một trò chơi trẻ con; hay nói theo cách thông dụng, chúng là đồng dao dùng để xướng đọc cho việc thể hiện/ diễn trò chơi cút - bắt (còn gọi trốn - tìm, ú - tìm, cút - kiếm...) chứ không phải là bài vè nói về thân phận những kẻ cui cút/ côi cút: "con cút cụt đuôi, ở bờ ở bụi không ai nuôi (mập) ú ù". ([1][73]).

Nói cách khác, các dị bản bài vè con cút là lời của trò chơi Cút - bắt thuở xưa mà về sau này đã thay thế bằng lối đếm: "năm mười, mười năm, hai mươi... một trăm". Giả thuyết này có cơ sở cụ thể là sự tích hợp "vô nguyên tắc" của các trường đoạn có nội dung không thuần nhất như yêu cầu của một sáng tác văn học. Ở dị bản Cù Lao Phố, vè con cút (nói về trâu ăn lúa bị chủ ruộng bắt trâu) được kết hợp với đoạn kết trách móc về tình duyên dang dỡ:

(...) Lòng em thương anh,

cùng nhau thuở trước.

Bởi em chậm bước,

Em mới lấy chồng.

Trách ông Tơ Hồng:

Ông xe dây vào,

Bà tháo dây ra.

Còn ở dị bản sưu tầm ở Vĩnh Cửu thì đoạn giữa lại nói về cuộc đối thoại ghen  tuông vợ bé - vợ lớn:

(...) Tao là con đĩ,

Tại quán Nam Hà,

 Chồng mầy đi qua,

Thấy tao mà muốn

Đem tao về:

Có làng có nước,

 Có trước có sau.

Có một quày cau,

Có hai hũ rượu...

Và đoạn kết lại tích hợp câu ca dao Bình Định - Phú Yên, cộng với một câu da dao khác (không rõ xuất xứ):

Chiều chiều mây phủ Đá Bia

Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng

Ai mà mặc áo không bâu,

Dưới lưng quần bố, trên đầu mỏ neo.

Ở dị bản vè con cút sưu tầm tại Long Tân thì đoạn sau tích hợp câu hát ru Trung bộ và kết bằng một cặp lục bát mà nội dung không nhập gì với nhau:

... Bớ bà bán giấy

Mua lấy một tờ.

Bà trồng sen ai bẻ trái,

Bà trồng nái ai bẻ hoa,

Một cây cà, hai cây bí,

Con nhà Lý bận áo tía tô

Con nhà Ngô bận áo cổ kiềng

Trên thời có Phật có Tiên,

Có ông Huề thượng, có chùa tụng kinh.

Nói tóm lại, qua sự phân tích trên đây, thấy rằng bài vè con cút là một tập hợp các đoạn văn vần có chức năng như một bài đồng dao dùng để ấn định thời gian cho trò chơi cút kiếm. Tính chất vô nghĩa của chúng là một đặc tính bản thể của một đồng dao ở Việt Nam nói chung và xứ Đồng Nai nó riêng. Điều đó thể hiện ở phần lớn các bài đồng dao đích thực khác.

III.4.2. Bài tập tầm vông ở đây cũng có nhiều dị bản mà việc truy nguyên cái trò chơi nguyên thủy của bài đồng dao phổ biến từ Nam chí Bắc này giờ đây đã trở thành vấn đề nan giải. Theo Đại Nam quốc âm tự vị: "trống tầm vong: thứ trống dùng tay mà vỗ". Đây là cứ liệu cho phép đoán định rằng Tập tầm vông là trò chơi nhại việc vỗ trống bằng tay tầm vông. Cứ vào tên gọi của loại trống vỗ bằng tay được gọi là tầm vông này, có thể đoán định đây là loại trống bịt hai mặt, giống như trống cơm, hoặc chính xác là trống phát ra hai âm thấp cao khác nhau, "tầm""vông" và khi vỗ có thêm một âm chập (vỗ trống mà không buông tay ra) gọi là "tập" hiểu là chỉ có 3 âm Rục - thùng - tung, nếu so với 5 âm của trống nhạc cổ, theo cách phân loại phổ biến trong dân gian Nam bộ (Rục, cắc, tung, hút, thùng) ([2][74]).

Từ giả định trên, có thể hình dung mối liên hệ đến cách chơi đập tay của trẻ con khi xướng đọc bài văn vần Tập tầm vông: Hai em ngồi đối mặt nhau, xèo bàn tay ra và giơ ra ngang ngực để đập bàn tay vào nhau (đập thẳng, hay đập chéo; hoặc kết hợp vừa đập thẳng vừa đập chéo vv...) theo nhịp cắt tự nhiên của bài đồng dao sáng tác theo thể "vãn ba" này:

Tập tầm vông

Chị có chồng,

Em ở giá

Chị ăn cá

Em mút xương.

Chị nằm giường,

Em nằm đất.

Chị ăn mật,

 Em liếm ve.

Chị ăn chè,

Em liếm bát.

Chị ca hát,

Em vỗ tay.

Chị ăn mày,

 Em sách bị.

Chị làm vĩ,

Em thu tiền.

Chị đi thuyền,

Em đi bộ.

Chị ngồi cộ,

Em ngồi ghe.

Chị ngồi che,

Em ngồi mía.

Chị quần tía,

Em quần nâu

Chị đi câu,

Em xách giỏ.

Chị đánh mõ,

Em la làng.

Chị đào hang,

Em chun tuốt. ([3][75])

III.4.3. Bài đồng dao cho cho trả trả có lẽ cũng là một "dao từ" của một trò chơi nào đó mà ngày nay đã bị mai một. Theo Trương Vĩnh Ký thì: "sáng trăng con nít xúm lại chơi, bày ra đọc cái ca này. Đọc cho lia cái và cho và trả (vừa cho vừa trả - HNT) cho xuôi, khỏi lộn khỏi lịu thì cho là giỏi" ([4][76]). Tuy nhiên, căn cứ vào hai  động từ "chơi với A" thì A "cho X"... và rồi sau đó, "trả X cho A" đã tiềm ẩn động tác diễn chứ không chỉ có động tác xướng đọc.

Chơi với quấc,

Thì quấc cho giò.

Chơi với bò,

Thì bò cho nhau.

Chơi với cau,

 Thì cau cho trái.

Chơi với gái,

Thì gái cho hun.

Chơi với Tà Mun,

Tà Mun cho nọc. ([5][77])

Chơi với ngọc,

Ngọc cho ngà.

 Chơi với già,

Thì già cho răng.

 Chơi với trăng,

Trăng cho cuội.

Chơi với cơm nguội,

Cơm nguội cho no.

Chơi với go,

Go cho vải.

Chơi với cải,

 Cải cho dưa.

Chơi với thợ cưa,

Thợ cưa cho ván.

Chơi với chúng bạn,

 Chúng bạn cho tiền

Chơi với thiềng liềng,

Thiềng liền cho thơm,

Chơi với nơm,

Nơm cho cá.

Chơi với ná,

 Ná cho chim.

Chơi với ghim,

Ghim cho đệm.

Chơi với nệm,

 Nệm cho nằm.

 Chơi với rằm,

Rằm cho trăng.

Chơi với khăn,

Khăn cho bịt.

Chơi với mít,

Mít cho xơ.

Chơi với tơ,

Tơ cho lụa.

Chơi với đũa,

Đũa cho cơm.

Chơi với thơm,

Thơm cho chỉ.

Chơi với khỉ

Khỉ cho bần.

Chơi với thần,

Thần cho xôi.

Chơi với thiên lôi,

Thiên lôi cho búa.

 - Trả búa thiên lôi,

Trả xôi cho thần,

Trả bần cho khỉ

(...)

trả giò cho quấc. ([6][78])

III.4.4. Việc căn cứ vào các động tác tiềm ẩn khả năng "diễn" của bài đồng dao trên đây là một giả định, hoàn toàn không nhằm phủ nhận sự tồn tại của những bài đồng dao, không có trò chơi đi kèm. Kết quả điều tra thực tế ở các thôn làng Đồng Nai cho thấy rằng: các loại (vè kể vật, kể việc vè bông, vè trái, vè cá, vè chim, vè mười hai con giáp, vè binh, vè cầu, vè chợ...) các bài vè nói ngược, vè nói dóc... được trẻ con đem ra xướng đọc theo nhịp của ngữ pháp, lên bổng xuống trầm theo thanh âm; nói cách khác chúng được tích hợp vào tập hợp đồng dao - Những bài hát "không có chương khúc" của trẻ con. Trương Vĩnh Ký khi nói về "câu đố, câu thai" đã viết: "con nít chơi nhảy cho đến sức, ngồi lại ca hát, nói váy nói vá, nói vè, nói vãn, rồi có khi bày đố nhau chơi. Cái đố cũng hay vì nó làm cho trí lẹ biến, lệ biện, tập trí...". Nhận xét này của Trương Vĩnh Ký có lẽ đúng cho chức năng của sinh hoạt xướng đọc các bài vè, đồng dao nói chung, chứ không riêng gì câu đố: chơi và luyện trí. Các bài vè kể vật - kể việc là những bài cách trí (hiểu là bài học sinh vật) dân gian về cây con, về đặc sản, và cả về đặc điểm nhân văn của địa phương.

Nghe vẻ nghe ve,

Nghe vè trái cây.

Trái ở trên mây,

Là trái đậu rồng.

Có vợ có chồng,

Là trái đu đủ.

Chặt ra nhiều mũ,

Là trái mít ướt.

Hình tựa gà xướt,

Vốn thiệt trái thơm.

Cái đầu chơm bơm,

 Là trái bắp nấu.

Rủ nhau làm xấu,

Trái cà dái dê.

(...)

Loại vè như vè trái cây trên đây, đã giúp cho trẻ một bài học về từ ngữ. Ở dạng khác sau đây là bài luyện tập phát âm sao cho đừng "lịu" và xin lỗi bạn đọc - HNT) "đừng lái".

 - Một con cá mồi béo, để con mèo đói ăn

 - Quần tía rách, vắt trên vách đất

 - Ăn cơm dưới đò, lên đèo mà đói.

 - Một con ngựa khéo đá, hai con ngựa đá khéo.

Hoặc nói "dần lân" mà không lộn lịu:

 - Một con cò xanh nhảy quanh hòn đá,

chờ nước cạn ăn cá ăn tôm,

hai con cò xanh nhảy quanh hò đá,

chờ nước cạn ăn cá ăn tôm.

(...)

Từ các loại đồng dao trên đây đến vè nói ngược thì quả là bài "luyện trí"; Ở đó đã đề ra yêu cầu phân biệt đúng - sai, hợp lý - phi lý...

Nghe vẻ nghe ve

nghe vè nói ngược.

Tàu chạy trên núi,

Ngựa tế dưới sông,

Bảy mươi lấy chồng,

Mười lăm ở vá.

Ăn trầu bằng cá

Nấu kiểu bằng đinh,

Buôn bán tròn đình

Kỳ yên ngoài chợ

Nhà giàu mắc nợ,

Kẻ khó cho vay.

Mần  ruộng đi không,

Đánh bài cào vác cuốc.

Ban ngày thắp đuốc,

Tối lại che dù

Dần - Ngọ tối hù,

Canh ba đứng bóng.

Đi cấy đánh trống,

Hát bội túc tù và. ([7][79])

Ngoài bài vè nói ngược theo thể vần được xướng đọc theo lối nói vè, ở vùng Phú Hội - Long Tân (Nhơn Trạch) lại phổ biết một dị bản lục bát. Kết quả sưu tầm này đã cho thấy các hình thức diễn xướng đồng dao ở Đồng Nai gồm đủ loại như Trương Vĩnh Ký đã ghi nhận hồi cuối thế kỷ XIX ở trong đoạn trích dẫn trên, bao gồm "ca hát" "nói vấy - nói vá", "nói vè" và "nói vãn", "vãn", ở đây là các sáng tác thể hiện bằng thể thơ lục bát, bao gồm vè, truyện thơ... Nói theo từ ngữ của thời ấy, sau đây là bài "vãn" nói ngược:

Ngồi buồn nói ngược mà xuôi

Cua đinh nó liệng tận trời không hay.

Con chó bắt ra mà cày,

Trâu kia tru sủa, chuột dày ông voi.

Trai gái rủ nhau đi coi,

Trưa nay thắp đuốc đi soi ếch bà.

Con nít lại dẫn ông già,

Bước đi lẫm đẫm vậy mà té ao.

Câu cá lấy đá làm phao,

Lưới xua lưới bủa ầm ào ngọn cây.

Sấu mun nó ở trên mây,

Rồng vàng bắt được đem ngay xuống bè.

Lò thịt tụng kinh hoa hòe,

Thầy sãi bắt chó ra hè mà ram.

Vịt đi đá độ đưòng xa,

Gà trống ở nhà lặn lội dưới sông.

Dưới sông: chuồng ngựa chuồng dê,

Trên bờ thì thả lưới rê, lưới mành.

Bức dây đánh bẩy manh manh

Xe sợi chỉ mành mà trói con nai.

Bún kia nó cứng lại dai,

Xương gà trống nọ chưa nhai đã mềm. (1)

III.4.5. Ngoài những gì trình bày trên đây, tập hợp đồng dao ở Đồng Nai cũng phổ biến các dao từ và trò chơi quen thuộc, phổ biến chung cho cả Nam bộ và Trung bộ:

a) Chặt cây dừa

Chừa cây mạng

Cây tầm phỗng

Cây mía lao

Cây nào cao

Cây nào thấp

Chạy vấp,

U hòn

Con chạy,

Mẹ chạy,

Con u

Trái mù u chín đỏ,

Con thỏ nhảy qua

Bà già ứ hự,

Thụt ra tay này.

b) Cùm nụm cùm niệu,

 Tay tí, tay tiên.

Đòng tiền, chiếc đũa.

Hột lúa ba bông,

Ăn trộm: ăn cắp trứng gà

Bù xa, bù xít

Con rắn con rít.

Thụt ra tay này.

c) Bắt kim thang cà lang bí rợ

Cột qua kèo, kèo qua cột

Chú bán dầu qua cầu mà té

Chú bán ếch để lại làm chi

Con le le đánh trống thổi kèn

Con bìp bịp thổi kèn tò tí te.

d) Úp lá khoai:

Mười hai chong chóng.

Đứa mặc áo trắng

Đứa mặc áo đem

Đứa xách lồng đèn

Đứa cần ống thụt

Thụt nhằm buội chuối,

Thúi ình, chình ngủ

Cá kìm trớt môi ([9][81])

e) Xích đu tiên

không tiền cưới vợ

xích đu bầu,

trả nợ giăng giăng ([10][82])

f) Ca cu chằn chằn...

Mẹ Rằng đi chợ,

Mẹ Rớ ở nhà.

Bắt gà mần thịt,

Bắt vịt mà nuôi.

 Con ruồi có cách,

Đòn gách có mấu.

Con sâu có tai,

Con nai có gạc.

Thợ bạc có bầu.

Hàng trầu hàng cau,

Là hàng Nhựt Bổn.

Nấu cơm sôn sổn,

Đi chợ Kiểng Dương

Đội nón hai sườn

Là quân ở Huế.

Bắt ngựa mà tế.

Là con nhà quan. ([11][83])

 



([1][73]) Cút chỉ 2 loài: 1) chim cút; 2) loại trùng nhỏ sống ở vùng đất xốp, cát mịn. Đặc tính chung của hai loài này là trốn mất rất nhanh: Cút mất. Trò chơi Cút  -  bắt/ Cút  -  kiếm cũng nằm trong nghĩa là trốn và tìm; trò chơi Cút   -   hà với trẻ con cũng vậy: "tiếng kêu giờn với con nít, như đưa mặt cho nó thấy rồi giấu đi" (Đại Nam quốc âm tự vị, Tập II, trang 210).

([2][74]) Đại Nam quốc âm tự vị, Tập II, trang 268, cho biết: Rục tang tình là "tiếng trống đánh cao thấp nhiều bậc".

([3][75]) Bà Lê Thị Vĩnh (Thiện Tân, Vĩnh Cửu) kể.

([4][76]) Miscellannées/   -   Imp. Comerciale Rey và Curiol, 1888, No 1, p.9.

([5][77]) Bản khác: Chơi với trò Mun/ trò Mun cho học.

([6][78]) Tổng hợp từ lời kể của bà Nguyễn Thị Cảnh (Long Phước, Long Thành) và bà Lê Thị Vĩnh (Thiện Tân, Vĩnh cửu).

([7][79]) Bà Nguyễn Thị Cảnh (Long Phước, kể).

 ([8][80]) Ông Võ Văn Chuẩn (Phú Hội, Nhơn Trạch) kể; và dựa vào dị bản do ông Nguyễn Văn Thùng (Long Tân, Nhơn Trạch) kể để chỉnh lý một số câu.

([9][81]) Bà Nguyễn Thị Nhì (Long Phước, Long Thành) kể.

([10][82]) Bà Lê Thị Em (Long Phước, Long Thành) kể.

([11][83]) Bà Lê Thị Em (Long Phước, Long Thành) kể.



Comments