3.5. Nói vè, nói thơ, nói tuồng

 Là các hình thức diễn xướng các thể loại tự sự dân gian mà ít nhiều chúng tôi đã đề cập đến trong khi trình bày về đồng dao.

III.5.1. Nói vè ở Đồng Nai được hiểu là cách nói vần vè các loại vè vãn tư, vãn năm, vãn bảy hay trường đoạn cú không khác biệt gì mấy với các xướng đọc các bài đồng dao. Tuy nhiên trong các hình thức biểu diễn sân khấu, các loại vè này được diễn xướng theo một lề lối và giọng điệu riêng cùng với các động tác diễn xuất của loại hình sân khấu đó nên rất sinh động.

Trong trò diễn Chặp địa - Nàng của hình thức Hát bóng rỗi, vè vãn tư như bài vè con kiến, vè còn bù, vè hoa, vè chợ được thể hiện dưới kiểu cách hài hước hóa.

Ví dụ:

Nàng (nói) Ông Địa!

Ông bị kiến cắn hay sao?

Địa (nói) Ờ... ờ... bị kiến cắn... Để ta nói chuyện kiến mà nghe.

(Nói vè nhạc đệm, phách gõ nhịp đều, rõ và dứt khoát)

Nói chuyện chi đây,

Nói vè con kiến.

Ấu tử làm biếng

Chẳng có mẹ cha

Không ai dạy la

Hữu sự tùy sự

Nhỏ không học chữ

Lớn lại khéo khôn

Gẫm chẳng ai hơn

Kiến vàng ở ổ

Đêm ngày rần rộ

Kiếm lá kiếm cây

Đầu nọ đầu này

Chạy quanh chạy quết

Siêng năng tận lực

Làm ổ trên cao

Lấy lá mà bao

Thành ra cái ổ

Đó là kiến vàng.

Còn thứ nho nhỏ

Đen thủi đen thui

Hay khuấy phá người

Chịu dà cho nổi

Một ngày chí tối

Bò ngửa bò nghênh

Hay ở ngoài hiên

Góc hè góc xó

Cái loài tuy nhỏ

Hôi thật là hôi

Ưa ngọt như ruồi

Gặp đâu thì bấu

Đồ ăn người giấu

Nó cũng chun  vào

Ăn no với nhau

Đái hôi, đái thúi

(...)

Ở kẹt ở hang

Âúy là kiến riệng

Nói hoài mỏi miệng

Kiến thật qúa nhiều

Kiến cách, kiến bầu

Cũng là kiến vẽ

Cao cẳng mau lẹ

Đông thật là đông

Giống kiến đồng lòng

Siêng năng cần kiệm

Chẳng hề làm biếng

Ngày tối lo làm

Tích tụ miếng ăn

Phòng khi trời động.

Nói vè vãn tư nhịp cắt 2/2, còn đối với vè vãn bảy nhịp cắt là 3/4 hoặc 3/2/2:

Việc đám cưới có đâu mà dễ

Cất rạp ra ván ngựa lót dài

Ngoài phòng trà lại có tam sai

Trong đãi rượu nhờ trai dọn dẹp

Quả lương tử treo lên cho đẹp

Hai bình bông kết tụi lan xèo

Rượu "song chưng" mua lấy mười ve

Trà "đơn tử" dùng chơi ít cặp

Trên bàn thờ chưng làm nhị cấp

Sư cổ đồ, trướng liễn treo lên

Gối cổ đồ trẻ lót hai bên

Mượn lân cận đôi người làm chứng

Hai chéo rượu, mâm trầu cho xứng

Đồ nữ trang thì giấy đỏ niêm phong

Bỏ trong quả đừng cho động dạng

Cà rét (đèn cầy) kia phải mua cho đáng

Xe đôi đèn đặng làm lễ từ đường

Dừng các phòng cho kín bốn phương

Để con nít nó đà dòm ngó

Thỉnh cô bác thân lân đi họ.

Xông việc rồi thì mần việc tuồng thơ

Trong viên quan uống rượu đánh cờ

Ngoài tài tử đờn ca hát xướng

Cô bác đã có lòng rộng lượng

Dầu thơm kia cháu lấy xức đầu

Đặng nối tóc ở đời từng cửu ([1][84])

Trên sân khấu hát bội loại vè hề diễn chủ yếu là vè trường đoản cú. Cùng giống như vai Địa trong Chặp Địa Nàng, các vai hề hát bội, diễn xướng các bài vè này đều bộc lộ tính chất hài hước. Bài vè Bá Nghệ sau đây là một ví dụ:

Tôi nay lanh lời, rất đà lanh lợi,

Khôn ngoan rất đỗi khôn ngoan.

Đã từng trải điếm đàng

Mới sang quan nghề nghiệp.

Tài buôn bán rất đà bặt thiệp.

Xuống chợ Dinh lấm lét chỉnh ghê.

Bước vào xóm điếm tào kê

Bị gái mắng: tôi đà xếp tó

Cười chú lái rằng quê

Tôi kiếm đường lấp liếm:

Đè mui chui tuốt...

Sang nghề thầy thuốc vốn thiệt sở trường

Mạch lạc tôi rất cao cường,

Bài thuốc hay chắc chắn

Coi người nào bịnh nặng,

Tôi nhấn chứng đầu thang

Bị phong nan thì tôi định chứng thương hàn

Phục ô dược: nằm ngay cán cuốc.

Tôi thôi nghề thầy thuốc,

Đi theo học võ kinh.

Đứng đàng thảo cũng xinh

Đàng quyền coi cũng xứng.

Tôi đứng đầu voi đuôi tượng: thủ trung bình

Tánh tôi giựt mình: chúng đánh đầu lổ óc

Tôi sang nghề dạy học, theo đạo cổ kim,

Câu "giáo hóa bất nghiêm nài thị sư chi đọa"

Dạy sĩ tử trình thưa, dậm dạ,

Câu dĩ nại thành tài.

Dẫu mà ai hỏi sách, hỏi bài,

Tôi thưa thiệt: "đến rằm kiếm gạo"

Nghề dạy học hãy còn lếu láo,

Sang nghề thợ bạc tôi rất đại tài.

Tôi đậu bông đinh, bông ớt, bông mai,

Đeo ba bữa sứt ra cả đống!

Nghề thợ bạc hãy còn thiếu dụng,

Theo nghề hạ bạc, xuống sông.

Tải lưới, tải xuống sông

Chứ mấy đời thèm tải ngọn rạch.

Thợ cái giận đà phát ách

Khi đăng lưới nước chiều

Tôm cá rất nhiều, tiền đủ năm dư chục.

Tôi mua lầm lưới mục không hay

Thả đứt đổi: trôi ngay đâu mất!

Tôi sang nghề ăn ong mật,

Tay xách mác thông

Đuốc chúng đã xông.

Cọp thấy tôi còn chạy mặt

Tôi ỷ mình làm chắc (không để ý)

Nên ông sắc lộn vào.

Nó cắn không biết chỗ nào,

Tôi quăng đuốc, mác đâm đầu chạy tuốt

Tôi sang nghề ăn trộm, cũng vốn sở trường,

Nghe chủ nhà vắn dỏi thở hơi thường

Tôi khoét vách chun vô,

Bị chúng bắt trói đầu cả kiếng họ. (1)

 

III.5.2. Nói thơ ở Đồng Nai là một hình thức diễn xướng các bài vè lục bát. Việc gọi các sáng tác tự sự dân gian theo thơ lục bát là vãn, theo đó hình thức diễn xướng chúng gọi nói vãn; và rồi sau đó, tất cả thể loại này được gọi chung là thơ (cả vè 6 - 8 và truyện thơ), cách diễn xướng chúng cũng được gọi là nói thơ đã chỉ ra rằng có hai giọng không có cứ liệu về điệu nói vãn ngày trước và điệu nói thơ cũng chỉ mỗi điệu nói thơ vãn Tiên hiện tồn tại - không có đặc điểm giọng điệu gì khác so với điệu với thơ này ở các địa phương khác:

Long Tân (ơ...) tại ấp (ớ) xóm vườn (ờ...)

Có ông/ Thân Cẩn (ớ...), dị thường hơn ai (ờ...)

Già rồi/ sanh chuyện/ gái trai (ơ)

Hình như (ư) Đổng Trác (ớ...)/ thấy ai cũng thèm (ờ...)

 (vè Hương Thân Cẩn)

Hoặc:

Ngồi buồn (ơ...) lấy viết (ớ) cũng nghiêng (ờ)

Đặt thơ/ nằm dỏ (ớ) người hiền/ xem qua (ờ...)

Kể từ/ có giặc Lang Sa (ơ)

Muôn dân (ơ) thiện hạ (ớ) nhà nhà đảo điên (ờ..)...

 (vè nằm dỏ). ([2][85])

Ngoài các bài vè lục bát/thơ, ở Đồng Nai phổ biến khá rộng rãi các truyện thơ mà có lẽ xuất phát từ các ấn phẩm "thơ, tuồng, truyện tích" hồi cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷ này. Chúng được lưu truyền bằng cách nói thơ trong cộng đồng cư dân ít người đọc được chữ quốc ngữ La Tinh hồi đó. Hầu như các loại truyện thơ "bổn cũ dọn lại"/ "transoriten quốc ngữ" (Con tám - con cám, Trần Minh khố chuối, Chàng Nhái - Kiểng Tiên, Lâm Sanh - Xuân Nương, Thoại Khanh - Châu Tuấn...) cũng như các truyện thơ lịch sử - xã hội thời thuộc địa (thơ thầy Thông Chánh, thơ Sáu Trọng Hai Đẩu, thơ Sáu Nhỏ, thơ cậu Hai Miêng...) đều có mặt trong sinh hoạt nói thơ ở đây. Tuy nhiên, sự hình thành của hình thức diễn xướng này lại không sản sinh ra điệu nói thơ nào mới mà độc một điệu là nói thơ Vân Tiên. Đặc điểm này cũng thấy trong sinh hoạt nói tuồng.

III.5.3. Trong bài vè đám cưới dẫn trên, đã đề cập đến sinh hoạt nói tuồng cùng với đờn ca tài tử trong lễ cưới thời thuộc địa:

... Thỉnh cô bác thân lân đi họ,

xong tiệc rồi mần việc tuồng thơ

trong viên quan uống rượu, đánh cờ,

ngoài tài tử đờn ca hát xướng.

"Tuồng thơ" ở đây hiểu là hình thức diễn xướng các bản "thơ tuồng" - một hình thức văn học kết hợp những đoạn thơ lục bát với các kịch bản thể văn của kịch bản tuồng (hát bội) mà phổ biến dưới dạng văn bản ổn định gồm: Thơ pha tuồng Văn Doan (Chàng Lía) thơ tuồng Ông Trượng - Tiên Bửu... hoặc là những trích đoạn các kịch bản tuồng để diễn dưới dạng hát chặp: Các nghệ nhân vừa hát vừa làm điệu bộ - có hoặc không gõ trống phách và không vẽ mặt hóa trang cũng không dùng mũ mãng, xiêm áo như diễn viên hát bội. Loại này phổ biến có các trích đoạn Tống tửu Đơn Hùng Tín, xử bá dao Từ Hải Thọ...

Nói tuồng không chỉ trình diễn trong lễ cưới mà trong các cuộc tiệc vui mừng, lại có lúc diễn cả trong các đêm dài ở nhà tang chủ hay trong các dịp cúng miễu đình. Người diễn có thể là nghệ nhân dân gian, song đa phần là một hai đào kép hát bội lẻ, hay các đào kép hát bội đã về già. Do vậy, nói tuồng là hình thức diễn xướng cơ động và hấp dẫn: nó không đòi hỏi qui mô của sân khấu mà ở đâu diễn cũng được và hơn nữa, nội dung câu hát nôm na - ít từ Hán, và pha phách các đoạn nói lối, hát khách, hát nam lẫn những đoạn thơ lục bát để nói thơ giàu chất tự sự: trình bày diễn tiến các sự kiện, nối kết chúng vào mạch truyện lưu loát dễ theo dõi.

Xin dẫn chứng đoạn thơ tuồng Văn Doan: Lúc Văn Doan bị cùng quẫn, đến nhà ông Tiều để xin ăn:

(Xướng viết/ Nói Thơ):

Văn Doan ngủ ước một canh,

Phút nghe lửa cháy sơn thành hãi kinh.

Thành trì nay đã tan tành,

Vợ con chết hết không còn sự chi:

"Ân tu ra khỏi rừng ni,

kiếm cơm đỡ dạ chờ thì sẽ hay"

anh hùng gặp lúc chẳng may,

trong non hiu quạnh thảm thay cơn nghèo.

Văn Doan

(Viết/ Nói lối):

Tôi nghĩ lại, thuở trước tôi bắt được nó, tôi thương tôi

 không giết. Đến nay nó hại vợ con tôi chết, chủ tướng

cũng không còn, hèn chi thánh nhơn có nói rằng:

(Hát khách):

Vật di sảng khẩu chung vi bịnh

Nữ sắc hồng nhan tiện sát nhân

(Nói thường):

Như tôi cùng con Nghĩa Nương

(Nói lối):

Túng tiền ân ái, giả thành chân,

Hậu đáo cựu thù chân hóa giả.

Chư đệ ơi! Thống chư đệ hai hàng lụy hạ

Ta ngu huynh nhứt sự vô thành, chi nữa!

Bước lần qua khỏi non xanh,

Chiêu binh mã dĩ đồ tái phát.

(Vãn viết/ Hát nam):

Binh mã đãi thời như phát,

Binh mã đãi thời như phát,

Cuộc đời thường cũng đạt dinh hử.

 

(Văn Doan diễn ca, in lần thứ ba,

của Huỳnh Tịnh Của, Sài Gòn, 1906).

Nếu ở bản thơ pha tuồng Văn Doan, truyện có nhiều tình tiết phong phú thì ở thơ tuồng Ông Trượng - Tiên Bửu: Cô gái chèo đò Tiên Bửu, sớm tối chèo chống lấy tiền nuôi thân và nuôi mẹ già. Một hôm, có một khách qua đò, râu tóc bạc phơ - Ông Trượng, tán tỉnh. Bổn thơ tuồng ghi lại cuộc đối thoại bằng lối nói thơ, nói lối, hát nam, hát khách. Nội dung, khiến liên tưởng như một ghi chép về một cuộc hò đối đáp ở đồng ruộng hay trên bến ssông rạch nào đó.

Dẫn đoạn Ông Trượng ghẹo Tiên Bửu:

- Tiên Bửu

(Nói thường):

Bớ Ông Trượng ơi!

Sao ông không biết mắc cỡ, cứ theo ve con nít hoài vậy, a ông?

(Nói thơ):

Ông già kia hỡi ông già,

Bảy mươi còn muốn gái mà mười lăm.

Lão Trượng

(Nói thường):

Áo dài chẳng nệ quần thưa,

Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm.

Tiên Bửu

(Nói thường):

Bớ Ông Trượng ơi, ông đừng nói vậy mà mắc cỡ lắm mà!

(Nói thơ):

Thoàn (thuyền) tôi chở lưới chở câu,

Thoàn đâu có chở hàm râu ông già.

 - Lão Trượng

(Nói thường):

Bớ ông Bửu ơi!

 Già như ai kia mà rằng, chớ còn già như ông lão đây,

 ít ai dám bì a bậu.

(Nói thơ):

Già thời già mặt già mày,

Chơn tay già hết lòng này còn non.

 - Tiên Bửu

(Nói thường):

Ông Trượng ơi! Ông đừng nói vậy chẳng nên đó a ông Trượng.

(Nói Thơ):

Thân tôi như trái mãng cầu,

Ở trên bàn án hạc chầu, lọng che

 - Lão Trượng

(Nói thơ):

Bớ Bửu!

Thân ta như thể con dơi,

Bay lên bàn án (mà) chơi mãng cầu.

 - Tiên Bửu

(Nói thường):

Bớ ông Trượng!

Thân tôi như thể chuông vàng,

Ở trong thành nội cả ngàn quân canh.

 - Ông Trượng

(Nói thường):

Bớ Bửu ơi!

Có chắc chi đâu mà bậu hòng nói, như lão làm vầy

 mới làm vui cho chớ:

(Nói thơ):

Thân qua như thể cái chày,

Bỏ lăn bỏ lóc, chờ ngày động chuông.

 - Tiên Bửu

(Nói thơ):

Ông Trượng ơi! Thân tôi như thể cái giường ngà,

Thân ông như manh chiếu rách ngồi đà ngồi trên.

 - Lão Trương

(Nói thường):

Cha chả! Con Tiên Bửu nó thị già dữ bây!

(Nói thơ):

Nhờ trời cho thổi gió lên,

Cho manh chiếu rách nằm trên giường ngà.

(...)

Trong thực tế sinh hoạt nói tuồng là diễn xướng các "kịch bản" có nội dung hài hước (Ông Trượng - Tiên Bửu) hay dân dã và phi chính thống, không đề cao trung hiếu như tuồng pha, tuồng Tàu (Văn Doan - Chàng Lía)... Về sau, theo xu hướng tính chất tuồng đồ này, thơ tuồng Bảy Tài (1913) cũng đã nhận được sự hâm mộ của công chúng vì tác phẩm bình dân này đã phô bày cái xấu xa của một tay cờ bạc trong bối cảnh đầy tệ nạn thời thuộc địa: Bảy Tài đánh me bị thua đến nghèo mạt. Hắn vẫn không chừa; lại gạt con, cạy rương ăn ắp tiền của vợ đi đánh me, Bảy Tài bảo chủ cái là Bang Trưởng người Hoa gầy sòng.

 - Bảy Tài:

Nầy ông Bang, lâu nay ông Bang không biết hay sao: còn con vợ ăn, hết con vợ nhịn, không may giằng xay ở bụi. Thôi thôi, ông Bang thay tay bớt cho tôi đánh một chén nữa: Một ngàn mấy trăm tôi đánh hết, không thèm để một đồng điếu cạo gió!

(Nói thơ):

 - Ông Bang cầm chén đẩy ra

Bảy Tài cần đũa hỏi mà các anh:

"Đánh nhồi bổn lợi đã đành,

Buông lời dám hỏi các anh luận bàn?"

Mấy ảnh

(Nói thường):

Không anh Bảy! Điệu cờ bạc tuy là chân úp. Không soi, thì mạc làng: cô hồn dắt đâu đánh đó; phải vận thì trèo, đánh tiền ròng bạc chảy thằng nào dám nói chi?

(Nói thơ):

Bảy Tài tính toán me đi:

Ngàn ngoài đánh "túc", hết thì "cầu âu".

Ông Bang cầm chén khui nhầu,

Bảy Tài cầm đũa gặc đầu coi hay:

Hai mươi đồng "túc” quả này,

Điếm đàng liếc mắc xem nay vào sòng.

Trong chén không còn một đồng,

Hai mươi đồng "túc" thiệt lòng ông ơi!

"Phá hỏa" thôi mới xem rồi,

Cầm tiền hô lại một thời phân minh:

(Nói thường, tiếng Quảng Đông):

Dầu hầy xây tháng, xây cô xình, chung hồng pháo; túc cô xình, chung hắc mai; xám co xình, chung hồng xương

(Nói thơ):

Tính thôi đặng bốn trăm ngàn,

Bổi lợi rõ ràng có lẽ sáu trăm.

(Thơ Bảy Tài, 1913)

Nói chung, nói tuồng là hình thức diễn xướng dân gian có tính chất tổng hợp cả giọng điệu hát bội, nói thơ và trong chừng mực nào đó là hát đối đáp. Cơ động, một hai người diễn, một cái trống, một cây đàn hay một chiếc kèn là đủ "Dàn đờn thổi" cho cái "sân khấu" tại gia này. Nó đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn nghệ và so với việc rước gánh hát bội thì mắc tiền và khó hơn nhiều.Tuy nhiên, điều này cho thấy rõ thị hiếu mê hát bội của người dân ở đây vào thời đó.



([1][84]) Bà Nguyễn Thị Mạnh (Nhứt Hòa, Hiệp Hòa, Biên Hòa) kể.

([2][85]) Dỏ: Võ, nhà; ở đây hiểu là nhà võ (trụ sở của ấp và là điếm canh và là nơi thờ Tiên Sư)

Comments