4.2.2. Nghệ thuật điêu khắc gỗ

Lê Quí Đôn trong Phủ Biên tạp lục (biên soạn hồi năm 1776) chép rằng: “Phủ Gia Định sẵn có nhiều gỗ tốt. Xét sổ Cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên kê thì hai nguồn Đồng Môn và Quang Hóa thuộc huyện Phước Long có nhiều gỗ sao, gỗ trắc, gỗ giáng hương và gỗ gụ; nguồn Ba Can thuộc huyện Tân Bình, có gỗ sao, gỗ trắc, gỗ giáng hương(1). Như vậy, gỗ từ các đầu nguồn ở đây đã được biết đến và khai thác. Có lẽ Bến Gỗ (An Hòa) là một nơi tập kết gỗ khai thác từ rừng sâu đem về từ thuở xưa nên đã được thành danh.

 Không có tư liệu nào nói về ngành mộc và ngành chạm khắc gỗ ở Đồng Nai. Nhưng căn cứ vào việc xây dựng các phố xá đền miếu, biết rằng nghề mộc và nghề chạm trổ ở đây đến cuối thế kỷ XVII đã phát đạt. Miếu Quan Đế xây dựng năm 1684 là công trình kiến trúc được coi là “miếu điện nguy nga” và có lẽ đây là cái mốc phát triển của Cù Lao Phố theo đó nghề mộc và nghề chạm khắc gỗ cũng bắt đầu hưng thịnh. Năm 1700, đền Lễ Công được thành lập, năm 1715 Văn miếu Trấn Biên và sau đó chùa Hộ Quốc cũng được xây dựng, song kiến trúc như thế nào thì không rõ. Đến năm 1794, Văn Miếu được trùng tu và đây là công trình kiến trúc có qui mô và được tác giả Gia Định Thành thông chí miêu tả là: “...rường cột chạm trổ, qui chế tinh xảo, đồ thờ có thần bài, khám vàng ve chén và đồ phủ quĩ biên đâu (đồ dùng đựng vật cúng tế) đều chỉnh nhã tinh khiết” (tập Hạ, tr. 108). Chi tiết được trích dẫn này là một chứng cứ cho thấy rằng cuối thế kỷ XIX, trong bối cảnh xây dựng hòa bình sau một thời gian dài chiến tranh liên miên, nghề chạm khắc gỗ Đồng Nai lại phục hồi và đạt một trình độ nghệ thuật được coi là “tinh xảo”. Ở đó, thấy có các công trình điêu khắc trang trí kiến trúc, các đồ thờ, khám thờ... Đó là những loại sản phẩm điêu khắc gỗ mà mãi sau này vẫn là chủng loại còn được yêu cầu.

Các cứ liệu hiếm hoi trong thư tịch Hán Nôm cổ được trích dẫn trên đây cốt để làm rõ các mốc lịch sử của nghề điêu khắc gỗ ở Đồng Nai vào thế kỷ XVII, XVIII. Còn trong thực tế việc xác định niên đại các sản phẩm điêu khắc gỗ hiện tồn là một điều khó khăn vì không có cứ liệu chính xác. Do vậy nổ lực tìm hiểu đối tượng này theo một cái nhìn hệ thống chỉ có thể dựa trên phương pháp đồ tượng học so sánh, theo đó căn cứ trên những đặc điểm tạo hình chung nhất để xếp những hiện vật tương đồng vào một thế hệ, một phong cách. Đó là phương pháp chỉ cho những kết quả có tính chính xác tương đối. Mặt khác, điêu khắc gỗ ở Đồng Nai, cũng giống như mọi xứ, có đủ các chủng loại sản phẩm: chạm lộng, chạm nổi (phù điêu), chạm chìm (khắc) và tượng tròn.

a) Chạm lộng là chủng loại điêu khắc gỗ phổ biến nhất, so với chạm nổi chạm chìm.

Chạm lộng là kỹ pháp đắc dụng cho các bao lam cột (bao lam thần vọng), bao lam trang thờ (khám thờ) và các ô lồng (khuôn bông). Qua quan sát các đình, miếu, đền, chùa và các ngôi nhà cổ rất dễ nhận ra sự phong phú của các kiểu thức ở các sản phẩm chạm lộng gỗ ở Đồng Nai: chạm lộng ở mặt bẹt, chạm lộng ở kênh boong, chạm lộng một mặt, hoặc chạm lộng trên mặt hoa văn trổ thủng và rất phổ biến là các khuôn lồng chỉ có cưa lộng các dạng hồi văn (qui bối, bát kiết, kim đính, song tiên...) được bố trí xen với các khuôn bông chạm lộng thành các mảng trang trí lớn xuyên suốt diện tích lớn trên các đầu cột cái.

Chạm nổi thường thấy trên các dạ kèo bông tượng, các tấm lá dung đầu kèo, các mảng trang trí trên các khuôn bao cửa và đặc biệt được đắc dụng trong việc tạo nên các phần trang trí của các tấm biển đại tự, các tấm hoành, các câu đối, bài vị, bài thờ.

Chạm chìm thường thấy ở các panô lớn của cửa đền, miễu, chùa, đình; các mảng chính của các hương án ở đình, cùng với các dải viền trang trí liễn đối và cột.

Về đề tài, cả ba kỹ pháp chạm lộng, chạm nổi và chạm chìm đa phần là các đề tài cổ điển, thảng hoặc mới thấy các loại trái, có tính chất dân dã: khế, măng cụt, xoài. Các đề tài cổ điển thường thấy là Tứ linh (long, lân, qui, phụng) về đề tài con rồng có long ám (rồng ẩn trong mây), long phúng thủy (phun nước), lưỡng long tranh châu, cây lá hóa rồng, rồng ổ, rồng cuộn... Nói chung là đa dạng, thể hiện bằng nhiều hình tượng, bố cục khác nhau.

Lân có Lân mẫu xuất lân nhi, Lân hí cầu (còn gọi Sư tử hí cầu), Lân giỡn tiền điện...

Rùa được thể hiện các phần đơn điệu, thường được đặt trong bối cảnh của các bụi sen hoa lá mọc lên trên một mảng sóng nước dạng hoa văn “hồi ba” cách điệu.

Phụng là đề tài tích hợp hoặc Mẫu đơn - Phụng, hoặc Phụng bay trong mây hay Phụng vũ.

Ngoài đề tài Tứ linh, phổ biến là các đề tài cảnh vật cặp đôi truyền thống: Trúc - Tước, Tùng - Lộc, Liên -Ạp, Cúc - Kê, Dương - Mã... Cũng có nơi, như ở Phước Lư cổ miếu, tích hợp Chim sẻ - Nai - Công và Khỉ vào một bao lam biểu ý chúc tụng Tước - Lộc - Công - Hầu.

Ở chùa, ngoài các đề tài trên có các đề tài Ngũ hiền trên các tấm xám bài; Bát Tiên, Thập bát La Hán trên các bao lam. Nói chung, ở Đồng Nai, việc chạm trổ trang trí kiến trúc, cột kèo ít được chú ý hơn gấp nhiều lần so với các ngôi nhà từ đường và đình miếu. Dường như ở chùa, tượng tròn là chủng loại trọng tâm.

b) Tượng gỗ ở Đồng Nai, tưởng như từ buổi đầu đến những thập niên gần đây là một tiến trình song hành của hai dòng phái: dân gian và chuyên nghiệp.

b.1) Bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở chùa Thủ Huồng và kế đó là pho tượng Di Đà ở chùa Đại Giác là những pho tượng ở xứ Biên Hòa được thế nhân nhắc đến nhiều nhất so với các tượng thần, Phật hiện tồn ở chùa, miếu Đồng Nai. Bộ Di Đà Tam Tôn nổi tiếng vì gắn với Sự tích Thủ Huồng; theo đó bộ tượng do vua Đạo Quang (1821 - 1851) - người được coi là do Thủ Huồng tái sinh - tặng cho chùa. Còn pho tượng A Di Đà là pho tượng do công chúa Nguyễn Thị Ánh dâng cúng cho chùa Đại Giác vào năm 1820. Nói chung, đây là hai trường hợp tiêu biểu cho sự ngoại nhập tượng gỗ vào đất Đồng Nai: một từ Trung Quốc và một có thể từ Huế và cũng có thể là được đặt làm tại Đồng Nai.

Một điều khác dễ nhận ra là phần lớn các tượng Di Đà lớn - có thể coi là tượng chính của phật điện - ở các chùa trên đất Biên Hòa (Bửu phong, Thủ Huồng, Long Thiền, Thanh Lương, Phước Thạnh, Thanh Long...) đều đạt chuẩn mực chân phương, thể hiện khá nghiêm túc các yêu cầu cơ bản của đồ tượng học Phật giáo: tóc óc, tai dài, đầu có nhục kế unisha, tọa thức (kiểu kim cương tọa: vajrô - sana), thủ ấn thiền định (Phyâna mudra)... Nói chung, tình hình này cho thấy tính chất chuẩn mực của pho tượng phật Di Đà ở chùa Đại Giác không phải là trường hợp cá biệt. Điều này cho thấy rằng đã có một đội ngũ thợ điêu khắc gỗ/nghệ nhân tạo tượng chuyên nghiệp hoạt động ở đất Đồng Nai từ đầu thế kỷ XIX.

Giả định như trên, cũng gặp phải nhiều trường hợp không phù hợp. Hiện tượng đó phải chăng, đội ngũ thợ điêu khắc tượng gỗ chuyên nghiệp không định cư lập nghiệp ở đây lâu dài để từ đó đào tạo nên một đội ngũ kế tục.Trong khi đó, nhu cầu tạo tượng để thờ ở chùa chiền lại là đòi hỏi thường xuyên và trong tình hình đó đã được thỏa mãn bằng các pho tượng tự tạo do những tay thợ không chuyên. Chính vì vậy, ở các chùa thường bắt gặp nhiều pho tượng được tạo tác một cách rất dân dã, biểu hiện sự thô vụng ở thế dáng, ở đường nét, nếp áo và thần thái nét mặt. Bộ tượng Di Đà tam tôn (lớn) ở chùa Thiên Long, cũng như các tượng gỗ ở chùa Đại Phước là những tượng gỗ do Đỗ Hữu Tín phát tâm đục đẽo để dâng cúng cho chùa hồi năm 1930. Đây là những ví dụ tiêu biểu cho loại tượng gỗ tự tạo ở Đồng Nai. Ở loại tượng này, cái đẹp là sự ngây ngô độc đáo nằm trong tính chất “vô qui thức” của nó. Tính chất dân dã của nó khá gần gũi với đặc điểm tạo hình của tập hợp “tượng mục đồng” - những tượng mà theo truyền thuyết là do bọn trẻ chăn trâu/ bò lấy đất sét nặn nên. Tập hợp tượng tự tạo là bộ phận của mỹ thuật dân gian. Nó biểu hiện không chỉ lòng sùng tín mà là cả thiên hướng nghệ thuật của người dân ở đây. Đó là điểm khởi phát của những thành tựu mỹ thuật chuyên nghiệp. Tất nhiên, ngoài giá trị lịch sử chúng cũng phát biểu bằng thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng và chứa đựng cảm thức nguyên sơ chưa bị ràng buộc bởi các khuôn mẫu lý trí.

b.2) Tập hợp tượng Âm binh Âm tướng ở am Chư vị chùa Hóc Ông Che là một ví dụ độc đáo về khả năng tưởng tượng của người tạo tác, mà đặc điểm tạo hình của nó khác xa với khuôn mẫu truyền thống của đồ tượng học Việt - Hoa và lại khá gần gũi với tượng nhà mồ Tây Nguyên. Kỹ pháp tạo hình của nó, trong chừng mực nào đó, là kiểu cách của tượng hình nhân của giới phù thủy: Thân và đầu là bộ phận chính. Được tạc bằng một khúc gỗ và tứ chi nếu có được kết dính bằng dây (sợi bông vải, hay dây đay, hay dây bện bằng xơ vỏ cây, xơ dừa...) vào thân tượng khiến cho tay, chân tượng có thể “cử động” được. Kỹ pháp dân dã này không rõ trước đây đã đắt dụng tạo tượng như thế nào, song dấu tích còn để lại trong pho tượng bà Thiên Hậu Nguyên quân/ Thánh Mẫu ở chùa Ông Cù Lao Phố (được thành lập hồi 1684, trùng tu 1743, 1817...) mà có lẽ pho tượng đây là pho tượng cổ ở cơ sở tín ngưỡng này - muộn nhất là niên đại 1817. Tượng chỉ là một khúc gỗ dùng làm đầu và thân việc điêu khắc chỉ thực hiện ở đầu tượng, thân tượng gần như là để nguyên khúc gỗ và tứ chi chỉ chú ý ở hai bàn tay và hai bàn chân (nhỏ xíu, bất xứng với kích cỡ của tượng) gắn vào khúc thân thô thiển ấy. Do vậy, tượng này luôn được mặt y phục trùm kín để che đậy phần thân và cẳng tay, cẳng chân.

Pho tượng Thiên Hậu là di tích của kỹ pháp tạo tượng gỗ theo kiểu cách dân gian mặc dù đầu tượng đã có phần chuyên nghiệp. Ngoài ra, ở ngôi chùa Ông/ Thất Phủ Cổ Miếu thuộc hạn xưa nhất ở Nam bộ này, còn bảo lưu các pho tượng gỗ được tạo tác bằng kỹ pháp thô sơ: Tượng ngồi còn dựa vào ngai ghế rời, tách riêng không là một chỉnh thể duy nhất - tạm gọi là kỹ pháp “tượng ngồi - ngai”. Nói chung, kỹ pháp này cũng thấy phổ biến trong loại tượng ngồi ở nhiều chùa miếu khác (Quan Công, Minh Vương, Ngọc Hoàng, Nữ Thần...) ở nhiều chùa miếu khác của người Việt (cũng như để dấu ấn một cách sâu đậm trong các tượng gốm đất nung), nhưng đây là kỹ pháp tạo tượng sở trường của nghệ nhân tạo tượng người Hoa. Nói cách khác, trong lịch sử tạo tượng của xứ Đồng Nai, có một khối lượng tượng do chi phái nghệ nhân điêu khắc gỗ người Hoa tạo tác. Đặc trưng của tượng thần Phật của chi phái thợ này ngoài kỹ pháp tạo tác còn biểu hiện rõ ở nhân diện, nhân dạng và kiểu thức trang phục, hoa văn trang trí... nói chung là bản sao khá trung thực của hình tượng của tập hợp thần Phật Trung Quốc mà thấy khá phổ biến ở Nam bộ - đặc biệt là ở các chùa Hoa Thành phố Hồ Chí Minh.

Tập hợp tượng gỗ do người Việt tạo tác, ngoài loại tượng tự tạo đã nói, số còn lại chiếm tỉ trọng chủ đạo trong số lượng tượng gỗ hiện tồn. Một cách tổng quát có hai phong cách chính: Một là, loại tượng hình khối chân phương và hai là, loại tượng tròn trịa, hoa văn trang trí rườm rà và huê dạng.

Loại tượng thứ nhất, tính chất hình khối đã tạo nên vẻ đĩnh đạc, và sự chân phương biểu hiện ở khuôn mặt tượng vuông vức hình chữ “điền” và y phục, nói chung là giản dị với nếp gấp lớn bố cục đăng đối theo trục đứng. Đại biểu cho loại tượng này là các tượng ở chùa Đại Giác, kế đó là các chùa Thanh Lương, chùa Hội Phước (Tân Triều), chùa Phước Hưng (tên cũ Phước Lai, Hiệp Phước, Nhơn Trạch)... Sự tiến hóa của loại tượng này là đạt đến già dặn hơn: khuôn mặt được gia công hơn, chuyển từ chữ “điền” (chữ Hán) thành chữ “dụng” (chữ Hán), tức từ dạng vuông vức thành khuôn mặt có thần hơn và thực hơn, được xử lý dụng công hơn; do đó, thần thái toát ra vẻ sinh động. Mặt khác, thế dáng tượng đĩnh đạc mà không quá nặng nề, tỉ lệ tượng đạt được sự ổn đáng, hợp lý. Đó là các bộ tượng Ngọc Hoàng - Nam Tào - Bắc Đẩu, Minh Vương - Phán Quan ở chùa Phổ Quang (núi Đất, Bình Hòa) và chùaVĩnh Hưng (Cẩm Vinh, Tân Triều). Có thể coi đây là các tượng gỗ đạt trình độ nghệ thuật hoàn hảo nhất của nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ ở Đồng Nai.

Loại tượng thứ hai mà tìm hiểu là loại tượng tròn trịa có khuôn mặt bầu bĩnh, thân thể mập mạp do quá dụng công trong việc cạo láng để hoàn chỉnh tác phẩm điêu khắc và mặt khác là quá lạm dụng kỹ thuật sơn xe để trang trí hoa văn dày đặc trên trang phục. Nói chung, loại tượng này mang tính chất phô trương huê dạng, còn tỉ lệ tượng luôn bất xứng, thế dáng thì quá thô cứng vụng về. Tiêu biểu cho loại tượng này các bộ tượng, nhất là tượng Bà - Cô - Cậu, và kế đó là các vị Minh Vương, Quan Công và Châu Thương - Quan Bình ở chùa Long Thiền, Hoàng Ân, Long Sơn Thạch Động... Nói chung loại tượng này tuy do đội ngũ thợ chuyên nghiệp tạo tác, nhưng rõ ràng sự quá chú trọng đến các chi tiết ngoại hình/ trang phục đã không chú ý đến cái cơ bản là thế dáng tỉ lệ của tương ứng đã là cho tượng trở nên huê dạng cầu kỳ rất tầm thường.

Ngoài hai phong cách chính nói trên đây, ở Đồng Nai còn phổ biến loại tượng cỡ vừa (chiều cao kể cả bệ từ 32 cm - 45 cm) do nghệ nhân điêu khắc gỗ Dĩ An tạo tác. Loại tượng này, tuy có sử dụng kỹ thuật sơn xe để trang trí hoa văn y phục và tô điểm ngoại hình tượng (lông mày, mí mắt, tóc xoắn ốc...) ở mức độ cần thiết cho yêu cầu tạo hình và kế đó là các hoa văn cho trang phục.

Đặc điểm chính yếu của loại tượng này là người tạo tác chủ vào thủ pháp dùng nhát đục để hoàn chỉnh tượng, tức dừng lại ở các mảng “chặt” lớn nhỏ mà không cạo láng. Thủ pháp này đã tạo nên vẻ thô phác, nhưng đồng thời lại thể hiện sự tài hoa trong việc làm chủ nhát đục của người tạo tác. Các tượng này, có thế dáng trang nghiêm mà sinh động, tỉ lệ tượng khá ổn đáng và trong nhiều trường hợp các qui tắc về ấn quyền tọa thức, đài bệ... được tuân thủ nghiêm túc mà cũng có phần dung dị... Nói chung, tập hợp tượng gỗ cỡ vừa này đã xác lập một phong cách nghệ thuật có tính mẫu mực mà lại thô phác hồn hậu như tích hợp cả vẻ phóng túng dân dã và vẻ trang nghiêm có tính chất chuẩn mực “cổ điển” của nghệ thuật tạo tượng thời kỳ sau này.

Loại tượng này thấy nhiều ở chùa Hoàng Ân (Cù Lao Phố), kế đó là chùa Tịnh Lâm (Hiệp Hòa) và có thể kể thêm là các chùa vùng Tân Uyên, Hóa An - Châu Thới (chùa Phước Sơn) - Dĩ An thuộc tỉnh Biên Hòa cũ. Loại tượng này, có lẽ được các cơ sở điêu khắc gỗ tạo tác hàng loạt để bán; do vậy ngoài nhiều loại tượng Phật là tượng Bồ Tát Chuẩn Đề (8 tay), Bồ Đề Đạt Ma (đứng và ngồi), tượng các nữ thần và Cô - Cậu, tượng Ông Địa cỡi cọp, Tử vi cỡi hẫu,... Nói chung tập hợp tượng gỗ cỡ vừa này đã thực sự biểu thị cho trình độ tài hoa của nghệ nhân điêu khắc gỗ Dĩ An.

Nhìn chung, trên 300 năm lịch sử qua, đất Đồng Nai là vùng đất nhiều gỗ, nhưng không để lại một đội ngũ, một làng nghề điêu khắc nào. Chính vì vậy nơi đây là nơi tụ hội các dòng phái thợ chạm khắc gỗ tứ xứ mà nổi rõ nhất là cánh thợ Thủ và thợ Hoa. Cũng từ điều kiện đó mà người dân ở đây có xu hướng tự tạo thần, Phật để thờ (cả tượng gốm, lẫn tượng gỗ và tượng hợp chất) và mặt khác, các tượng gỗ hiện tồn là một tập hợp có phần đa tạp. Do đó, nổ lực tìm hiểu đối tượng này theo một cái nhìn hệ thống như trên đây chỉ có thể được coi là phương cách tiếp cận có tính chính xác tương đối.



(1) Lê Quý Đôn toàn tập, tập I. Nxb Khoa Học Xã Hội, H, 1971, Tr 319  -  320

Comments