4.2.3. Nghề đá và nghệ thuật điêu khắc đá

a) Nghề đá ở Biên Hòa bao gồm đá ong và đá hoa cương là nghề truyền thống, có lịch sử khá lâu đời. Cù Lao Phố hồi cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII đã có đường phố lót đá trắng, lót đá ong. Đời vua Thế Tông (1738 - 1764), Cai cơ đội Lê Văn Hòe đã kiến trúc cầu đá (thạch kiều) “ở phía tây bắc trấn nửa dặm, đá ong dài lớn chất chồng cấn lợi cùng nhau, gát ngang trên ruộng, dưới mở 3 cửa cho thông đường nước, cầu dài 25 trượng(1).

Năm Gia Long 15 (1816), thành Biên Hòa xây dựng lại có hào bao quanh rộng 4 trượng 6 thước và ngoài bốn cửa “đều xây cầu đá ngang qua hào để đi lại”. Năm 1834, thành đắp bằng đất và năm 1837, “xây lại đá ong(2).

Đá ong đã được khai thác khá sớm để dùng cho nhu cầu xây dựng. Từ đầu thế kỷ XVIII, đá ong được dùng làm cầu, xây thành. Qua kết quả điều tra thực tế, làng nghề làm đá ong tập trung ở Bình Đa và chở đi bán tứ xứ bằng ghe, tụ tập ở bến sông, nay còn địa danh là Bến Đá. Theo những khai quật năm 1936 và gần đây, cho thấy rằng thành Gia Định (xây 1890) cũng bằng đá ong Biên Hòa. Điều này cho thấy, khối lượng đá khai thác là khá lớn và làng đá tồn tại mãi đến nay - mặc dù giờ đây đã là thời suy tàn.

Theo truyền thống, đá ong được khai thác chủ yếu là sản xuất ra 2 loại đá: đá lá bài đá nô (đá chẻ thành cây dài ngắn không chừng để làm thành và trụ mộ; có cây đá dài đến 2,5 mét, đáy 40m x40cm). Trên khu vực này, một sở làm đá có khi rộng từ 5 đến 10 héc ta; có chỗ đá lộ thiên, có chỗ đá phải đào sâu 3 mét. Chất lượng đá chia 3 loại: loại nhất là đá ong nhuyễn (gọi là trét) là loại đá có lỗ nhỏ như con ong nút màu đỏ sẫm; loại nhì là đá xấu, có lội đất và lỗ lớn; và loại 3 gọi là đá bỏ: sườn lỏng, lỗ lớn, đục thường bị gãy. Đá loại nhất, là đá tốt chủ yếu dùng làm mộ và đá loại nhì làm đá lá bài dùng cho việc xây dựng (30cm x 60cm, dày 12cm).

Công trình kiến trúc bằng đá ong nổi tiếng, thể hiện tập trung tài nghệ của thợ đá ở đây là ngôi đình làng Bình Đa (bị phá sập hồi năm 1946) mà di tích còn lại là những tấm đá lớn (1,2 m x 0,8 m) rải rác ở quanh ngôi nhà thờ mới dựng trong những năm gần đây. Theo các thợ đá lớn tuổi kể lại, đình được xây dựng bằng đá ong, có qui mô lớn nhất so với các đình khác ở xứ Biên Hòa hồi đó. Bờ rào dựng tường đá ong lớn, cổng chính dạng nóc lầu (cổ lầu) tạc bằng đá ong rất công phu; các cổng phụ có trụ cao, trên gát đà cong hình vòm cũng tạo bằng đá ong.

Tiếc thay, ngày nay, công trình đá ong qui mô này không còn nữa. Tuy nhiên các ngôi mộ đá ong ở rải rác trong tỉnh Đồng Nai cho những chứng liệu về kiến trúc đá ong.

Một cách tổng quát, mộ đá ong có 2 dạng chính:

 - Mộ “bát giác” có 3 cỡ: lớn, vừa và nhỏ. Gọi là “bát giác”, nhưng thật ra loại mộ này hình chữ nhật, vạt xéo 4 góc, tức có hình bát giác nhưng không đều cạnh, và căn bản vẫn là hình chữ nhật và thường có 8 trụ cột chính. Do đó từ “bát giác” có thể được hiểu là “bát trụ”. Đây là loại kiến trúc mộ thuộc loại “trúc cách” - hiểu là có kiểu thức như một công trình xây dựng, tức có qui mô nhất định. Quan sát các ngôi mộ đá ong có qui mô lớn ở Đồng Nai, có diện tích mặt bằng 20 x 40mét. Phía trước là bình phong tiền (án gió), hai bên có hai trụ biểu cao theo kiểu trụ trắp hay trụ búp sen hoặc trụ tráp trên chót có búp sen.

Phần chính đặt trên một uynh thành hình chữ nhật, gọi là khuôn thành, mối kết bằng những phiến đá ong dài với các trụ mộ liên kết nhau bằng mộng, chính giữa cạnh đáy là bình phong hậu, tức phần giữa uynh thành xây cao lên dạng cổ lâu mái chồng diêm từ một đến 3 cấp mái, bờ nóc đục chạm theo kiểu thức tam sơn, đà ngang dưới mái chạm nổi các ô lồng với hoa văn kỷ hà, hoa lá, hay một trong bát bửu (thường thấy là “bức họa”, “sách” hay “cổ đồ”).

Diện tích bên trong uynh thành thường có các bờ tường ngăn chia thành chiều ngang thành 2 hoặc 3 phần: trước là tiền đình, kế đó là bái đình và trong cùng là mộ. Các bờ tường ngăn là một chỉnh thể kiến trúc nghệ thuật: giữa là cổng hoặc dạng cửa vòm (gọi là vòng nguyệt) hoặc dạng cổ lâu chạm trổ khuôn bông và khuôn đó bằng những ô trang trí ngang và dọc với hoa văn kỷ hà hay hoa lá, mái chồng diêm một đến ba cấp, bờ mái tạo dáng tam sơn với những rãnh chạm tạo hình như lớp ngói ống. Đối xứng hai bên cổng là hai mang đá dài, đục dật cấp dần ra phía ngoài, mặt trước chạm thành 1 ô lớn, nhỏ bố trí cạnh nhau đối xứng. Cuối ngoài mang là trụ mô (trục tráp, hay trụ búp sen)...

Mộ “bát giác” thường là mộ một, song cũng có nhiều mộ song hồn: an táng vợ chồng người quá vãng. Qui mô những mộ này có diện tích lớn hơn, song kiểu thức về cơ bản là như kiểu thức mộ một trình bày trên.

 - Mộ tứ trụ là kiến trúc mộ đá ong đơn giản, gồm một lớp uynh thành hình chữ nhất với 4 trụ mộ (trụ tráp hoặc trụ sen) ở 4 góc, nối kết nhau bằng 4 thanh đá dài đặt ở 4 cạnh. Cấu trúc cơ bản của mộ tứ trụ là như vậy, song trường hợp đặc biệt, uynh thành chồng hai thanh đá tạo nên độ cao gần một mét, khiến ngôi mộ có hình hộp chữ nhật. Trong thực tế, phần lớn các mộ tứ trụ ở mặt đáy luôn là phiến đá cao, chặt góc thành hình bán nguyệt (vòng cung) và đầu mộ là một tấm bia - hương án: bia (hình chữ nhật; hay chặt góc, gọt bầu giả hình đầu sòi dạng nấm linh chi, hay cánh hoa; có khi ốp hai bên trụ biểu nhỏ hai bên) đặt sát thành mộ, trên bệ nhô ra ngoài tạo một mặt bằng tương đối rộng có thể bày lư nhang và lễ vật cúng kiến; mặt trước bên xoi chỉ trang trí dạng bàn chân quì, có diềm là những cánh hoa bố cục như chiếc bao lam của gỗ chạm. Vì đá ong không cho phép chạm chìm hay chạm nổi các hoa văn, họa tiết tinh tế: bề ngang cho phép các đường nét là từ 2cm trở lên, nhỏ hơn đá sẽ bị vỡ nát, hỏng kiểu. Do đó, các hoa văn chạm trổ trên đá nói trên thường đứng ở mức tạo dáng. Riêng về mặt bia loại mộ tứ trụ nỗ lực tăng cường vẻ đẹp của nó thường là các mảng chạm thủng sâu như mặt bia đá, và phổ biến là chạm nổi chữ “Thọ” cách điệu trong khuôn hình tròn, hình bầu dục, hình chữ nhật chặt góc, hiếm hoi ở tấm “bình phong hậu”có chạm cặp nai và hai cội tùng. Nói chung mộ tứ trụ có kết cấu đơn giản, nhưng ở cụm hương án - bia lại thể hiện tài nghệ của nghệ nhân đục chạm đá ong. Điều cần lưu ý là nghệ thuật đục chạm đá ong thực hiện toàn bộ công việc khai thác đá, đục chạm đá chỉ bằng 3 dụng cụ chính: cái chỏi, cái mương và cái cù móc. Để tạo hình hoa văn, tự dạng trên mặt đá nghệ nhân dùng cái chỏi dài (cán 2,2m) lưỡi thép (dài 0,5m như mũi giáo) đứng thẳng người mà chỏi xuống để loại bỏ phân đá “hạ cát”, làm nổi “tác phẩm” mà mình muốn thực hiện. Nói thêm về kỹ thuật đục chạm tạo hình đá ong như vậy, để hiểu rằng việc tạo một hoa văn, họa tiết trang trí trên đá ong là sự dụng công đòi hỏi sự khéo léo đến là dường nào; và mặt khác, thợ đục chạm đá ong cũng khác với thợ đục chạm đá hoa cương về cả qui trình khai thác, chế tác và tạo hình cũng là đá, nhưng đá ong và đá hoa cương lại là hai thứ đá có tính chất khác nhau một trời một vực.

b) Nghề làm đá ở Đồng Nai có từ bao giờ? Căn cứ vào việc tác giả Gia Định Thành thông chí viết về Cù Lao Phố rằng “đường lớn lót đá trắng, đường ngang lót đá ong...” (Chúng tôi nhấn mạnh - HNT) thì dường như “đá trắng” lấy từ đá hoa cương vùng Châu Thới và như vậy, nghề làm đá đã xuất hiện vào hồi Cù Lao Phố thịnh đạt. Tuy nhiên, suốt từ đó đến nửa đầu thế kỷ XIX, không thấy có sử liệu nào nói về nghề đá ở Biên Hòa. Qua điều tra thực tế có được một số niên đại liên quan đến nghề làm đá Bửu Long.

 - Miếu thờ Tổ nghề đá ở Tân Bửu (sau gọi là Chùa Bà Thiên Hậu) được thành lập vào năm Giáp Thân (1884) và trên chiếc lư gốm men màu có niên đại Quang Tự 20 (1894).

 - Các bức chạm nổi trên hương án làm bằng đá do Thạch Hãng tạo, có niên đại Quang Tự Tân tị niên (1881) và Quang Tự Giáp ngọ (1894).

 - Cột đá chùa Bửu Phong do Hương trưởng Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Văn Tâm cúng, có niên đại năm Ất Sửu (1905) (1).

Như vậy, thấy rằng các sản phẩm đá của làng nghề đá Bửu Long có niên đại sớm nhất vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước. Nói cách khác, nghề làm đá ở Biên Hòa - Đồng Nai có thể có từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII; nhưng thời điểm khởi phát thực sự là cuối thế kỷ XIX. Kết luận này cũng được kết quả điều tra về gia phả của các nhóm thợ làm đá ở Tân Bửu Hòa cho thấy là khá trùng hợp.

b.1) Thoạt tiên, những người thợ đá người Hẹ từ Quảng Đông, Hồng Kông sang làm đá ở đây đó: Cầu Ông Lãnh, Châu Thới, Tây Ninh... Song vì đá xanh ở khu vực Bửu Long có chất liệu tốt hơn so với các nơi khác nên dần dần họ tụ hội về đây khai thác đá nguyên liệu để chế tác thành các sản phẩm đá xây dựng và làm đồ gia dụng, làm các sản phẩm mỹ thuật đá thuộc loại sản phẩm “công nghệ miếu vũ”...(1) Trong nghề làm đá, từ đầu đã có sự phân công thành hai loại thợ: thợ đá sốngthợ đá chín.

Thợ đá sống là những người chuyên khai thác đá nguyên liệu. Họ là những người có kinh nghiệm trong việc tìm ra mạch đá tốt, có trữ lượng đáng công khai thác và giỏi việc khai thác đá: chẻ đá, bẩy đá, vận chuyển đá...

Một số thợ đá sống cũng tham gia vào việc sơ chế đá thành khối theo kích thước của từng loại sản phẩm mà người thợ đá chín cần dùng. Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm đá đơn giản dành cho việc xây dựng như đá gối (cạnh từ 40cm đến 100cm) xây móng, đá xây tường; đá lát sân, lát đường và lề đường; đá thềm để làm các bậc cấp, ngạch cửa và bờ lề đường nhựa... đá táng kê cột, đá cột (thẳng hay chạm rồng...) đều do thợ đá chín thực hiện.

Ngoài các sản phẩm đá xây dựng là các đồ gia dụng: cối xay lúa, cối xay bột, cối giã gạo, cối giã nhỏ dùng cho việc bếp núc, lư hương...

Bia, mộ, cột trụ và đà mặt tiền các đền miếu và các loại tượng thú (lân, sư tử, rồng, cọp...) và tượng thờ là những sản phẩm nghệ thuật của thợ đá chín. Có thể nói phần lớn các ngôi mộ đá, các sản phẩm đá thuộc loại sản phẩm “công nghệ miếu vũ” ở Nam bộ, từ Đồng Nai đến Cà Mau là sản phẩm của thợ đá Bửu Long. Ở Biên Hòa miếu Tổ sư (nay gọi là chùa Bà Thiên Hậu, Tân Bửu, thành phố Biên Hòa) là một tập đại thành của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc của nhóm thợ đá này. Bên cạnh đó, quần thể các ngôi mộ đá của Đốc phủ Thanh ở dưới chân núi Bửu Phong là tập họp những thành tựu tiêu biểu cho trình độ và tài năng của thợ đá Bửu Long đầu thế kỷ này. Ngoài ra, các sản phẩm đá ở chùa Ông Cù Lao Phố, chùa Bửu Phong và các ngôi mộ đá rải rác đây đó cũng như các sản phẩm hiện tồn ở các cơ sở điêu khắc đá ở Tân Bửu là những thành tựu nghệ thuật của hơn 100 năm lịch sử của ngành điêu khắc đá Bửu Long.

b.2) Kiến trúc đá thông thường chủ yếu là kiến trúc miếu vũ, đình chùa và kiến trúc thật sự hoàn toàn bằng đá là mộ: đối với các công trình công ích hay nhà ở, đá chỉ tham dự vào một phần nhỏ.

Như trên đã nói, ngôi miếu thờ tổ nghề đá “Tổ Sư Miếu” (Tân Bửu) là kiến trúc đá, trừ kết cấu đòn tay và mái. Ở đây, các cột đều làm bằng đá, bạt láng và chạy chỉ, đặt trên các đá táng dạng con lơn hay trụ tráp. Bộ phận đá tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của kiến trúc đá là hàng cột hiên kết với bộ xà ngang hình chữ “miên” (mái vòm).

Ở đây, cột và đà thường là trụ vuông kinh, bạc phẳng và xoi chỉ dọc chiều dài tạo nên vẻ đẹp của sự dụng công trau chuốt; trên đà ngang là tượng con lân đội một cụm “tường vân” hình nấm linh chi như đỡ lấy diềm mái. Trên đầu cột chính, một cụm tiểu tường như đầu trính giả xuyên qua cột đá, nhô hẳn ra ngoài, thường là cụm tượng Lưu Hải câu cóc (Thần Tài của giới buôn bán), Hòa Hợp nhị tiên (Tài thần của giới làm lò nung), hoặc Ngũ lô Tài thần (ngồi trên xe đẩy)... Nói chung, ở công trình kiến trúc này, việc chạm trổ trang trí kiến trúc tinh xảo, nhưng số lượng và đề tài chạm khắc không phong phú so với các kết cấu xà - cột của các cơ sở tín ngưỡng do thợ đá Bửu Long thấy ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chẳng hạn kiểu cột long trụ ở các chùa miếu ở Đồng Nai cũng không thấy có. Trụ cột ở chùa Bửu Phong là trụ vuông kinh và mặt ngoài chạm nổi thấp con rồng từ sóng nước vút lên cao, với vài cụm mây nhỏ. Nói chung, đây là trụ cột có chạm nổi rồng chứ không phải là long trụ - hiểu theo nghĩa là trụ cột tròn chạm rồng quấn quanh theo kiểu chạm kênh bong (rồng là phù điêu cao 3/4, đầu rồng là tượng tròn).

b.3) Mộ đá, đại thể phổ biến gồm 2 loại chính như mộ đá ong: tứ trụ và bát giác; và có thể kể thêm một loại mộ phổ biến ở các nghĩa địa của người Hoa là kiểu mộ ngưu manh.

Mộ ngưu manh (ngưu miên): hiểu là có dáng giống như con trâu nằm ngủ, đơn giản là nấm mộ giống hình cái yên ngựa và từ đầu mộ mở ra hai mang dài tỏa ra theo hình chữ V dạng như một cuộn giấy lớn chưa xổ ra hết và phần còn lại là hai trụ đầu mộ có dạng xoắn nhọn đầu gọi là trụ ốc, phần ngoài đầu “tờ giấy” đá ấy là hai trụ sen cao; giữa hai trụ ốc là tấm bia. Loại mộ này đơn giản, nhưng có kiểu thức riêng của mộ người Hoa.

Kiểu mộ đá tứ trụ cũng gồm trụ trắp, trụ sen hoặc ngũ quả kết nối với 4 thành mộ; đầu mộ có bia và phổ biến chân mộ, chỗ hồi đầu có cổ lâu và bia tâm

Kiểu mộ đá bát giác có bình phong tiền, để đó là bái đình, đền, cổng dạng cổ lâu hay long đình mô và sau cùng là bia tâm nằm trong phần hồi đầu.

Nói chung, điêu khắc trong kiến trúc mộ đá là tập thành khá đầy đủ các kiểu thức và kỹ pháp của ngành điêu khắc đá.

Tượng tròn có thể tượng lân, rồng, cột long trụ với đầu cột là tượng lân, đầu cột búp sen hay sen nở từ 12 đến 24 cánh, đầu cột ngũ quả - theo cách gọi chung là “lựu, lê, bình bát, mãng cầu, phật thủ”. Còn ở hầu hết các mảng chạm khắc trên bình phong, thành mộ, tấm đá “vai” và “nối cổ”, bia chủ yếu là chạm nổi, rất hiếm các mảng đá “nối cổ” được chạm lộng (trổ thủng) hồi văn, trên đó chạm nổi rồng lá, phụng lá.

Chạm nổi cao thường thấy ở các bức bình phong tiền với đề tài phổ biến là Tùng - Lộc và Thư - Hùng (anh hùng hội và nôm na gọi là Gấu - Ó) và Tùng Hạc. Nói chung là có ý chúc tụng sống lâu và có tước lộc hoặc chỉ biểu ý là người nằm dưới mộ khi bình sinh đã từng trải việc đời, có cuộc sống oanh liệt.

Các phù điêu thường có xu hướng cách điệu nhằm mục đích trang trí và đề tài đặc biệt phong phú, song hầu hết là các đồ án hoa văn cổ điển. Điều đáng lưu ý rằng ở hầu hết mọi trường hợp, các bức phù điêu cùng đề tài đều có những sáng tạo riêng: hoặc thay đổi về thế dáng, các chi tiết ngoại hình hoặc gia thêm các thành tố phụ trợ để tạo một kết cấu bố cục hoàn chỉnh theo hình dạng của phiến đá - bộ phận của kiến trúc ngôi mộ.

Chẳng hạn như con rồng một trong đề tài tứ linh quen thuộc, ở đây dạng rồng bay lên, rồng đáp xuống, có con rồng chân con đạp trên hoa văn sóng nước vươn cao đầu chầu mặt trời, hoặc với lấy viên ngọc châu, lại có dạng rồng lá, rồng phúng thủy, rồng đoa (với mặt nhìn trực diện) ẩn trong những cụm mây, rồng trong đồ án cá vượt vũ môn hóa rồng (rồng và cá); trên các đầu bia hay ở hội đầu (phần trên bia tâm/ bình phong hậu) đề tài lưỡng long tranh châu, hay lưỡng long triều nguyệt là một tập thành cực kỳ đa dạng: hoặc hai con bố trí đối xứng trên nền sóng nước hồi ba, uốn cong thân hình mình dạng hình “sin”, với cặp chân trước ghì chặt viên ngọc châu; hoặc hai con rồng, chân gát trên đỉnh hoa văn “tam sơn” (3 đỉnh sóng cao/trên nền hồi ba thấp) và ngẩng đầu lên cao...

Đối với các đề tài cảnh - vật đi đôi truyền thống như Liên - Áp (Sen - Vịt), Mai - Điểu (hoa mai - chim), Trúc - Tước (trúc - chim sẻ), Tùng - Hạc (cây tùng - chim hạc), Liên - Lộ (sen - cò), Dương - Mã (cây dương liễu - ngựa), Liên - Giải (sen - cua), Đơn - Phụng (mẫu đơn - chim phụng)... thì phần lớn đều tích hợp thêm hoa cỏ, điểu thú khiến các phù điêu này có tính phong cảnh và ít nhiều đã tăng cường sự sinh động có tính hiện thực.

Sen - Vịt có thêm bụi cỏ và cọng lá, và bông cỏ vươn lên phủ lấp khoảng trống bên đối diện của bụi sen um tùm hoa, lá, gương sen và búp sen; cũng có bức phù điêu sen vịt, lại có thêm cá lội nấp dưới gốc buội cỏ như tránh khỏi cặp vịt đang tìm mồi;...

Đề tài Mai - Điểu lại thấy ở góc kia một bụi chuối với cặp nai tơ;

Đề tài Tùng - Hạc, trên cành cây có con bướm lượn; hoặc tích hợp thêm con nai...

Các hoa văn trang trí trên đá chủ yếu là hoa văn cổ, bao gồm các loại dây lá triền chi, các dạng hồi văn, lôi văn, các loại cổ đồ bát bửu (quạt vả, bầu trói, lẳng hoa, bức họa, bút, sách, gươm phất trần...); hoặc đồ án cũng xoay quanh bộ tứ thời (mai, lan, cúc, trúc), hoặc tứ thú phong lưu (cầm, kỳ thi, họa)... Nói chung là chưa thấy một tác phẩm điêu khắc đá nào có tính chất hiện thực. Đó là đặc điểm chung của điêu khắc đá Bửu Long - kể cả các bức phù điêu ở chùa Ông Cù Lao Phố chứ không riêng gì ở các mộ đá.

Về kỹ thuật chạm chìm dường như chủ yếu dùng cho việc chạm chữ: văn bia, câu đối liễn, và các đại tự ở bia tâm (bình phong hậu của mộ. Kiểu chữ chân là phổ biến, chữ thảo hiếm hoi hơn và hiếm hơn nữa thể chữ triện, lệ. Tập đại thành “thư pháp” của nghệ thuật điêu khắc đá Bửu Long có lẽ là ở ngôi mộ của bà Dương Thị Hương - dưỡng nữ của Bình Tây đại nguyên soái Trương Định, hiện tồn ở khuôn viên chùa Long Thiền ở Giồng Nâu (Gò Công, Tiền Giang). Tất nhiên các đại tư liễn đối ở khu mộ gia đình Phủ Thanh (Tân Bửu, Biên Hòa) và khu mộ của gia đình ông Phủ Lỗ (chùa Bùi Bửu, Dĩ An) cũng là những tập thành đáng chú ý.

Nói chung đến những năm 70 của thế kỷ này, làng đá Bửu Long đã mang hầu như phần lớn các sản phẩm kiến trúc - điêu khắc đá cho đền miếu, chùa chiền và lăng mộ toàn Nam bộ và sau 1975, nhất là trong những năm gần đây bên cạnh các sản phẩm đá truyền thống là các đồ mỹ nghệ - trong đó tượng tròn và đèn đá trang trí sân vườn chiếm khối lượng đáng kể.

Đèn đá đến nay có nhiều kiểu loại và kích cỡ; có loại đèn Nhật Bản, có loại đèn Trung Quốc, lục giác, bát giác, vuông tròn khác nhau; đặt trên các loại chân trụ khác nhau có nhiều sáng tạo.

Tượng tròn của thợ đá Bửu Long trước nay là tượng lân. Tượng thần đầu tiên có lẽ là tượng ba vị Tổ thờ ở miếu Tổ sư (Tân Bửu) và kế đó, tượng Phước Đức Chính Thần (Thổ Địa) ở nghĩa địa Chú Hỏa (Châu Thới). Đến nay có thêm các loại tượng Phật (Phật Tọa Thiền, Phật ngồi trên rắn năm đầu, Phật Di Lặc, Bồ Tát Quan Thế Âm) có nhiều loại - đặc biệt xuất sắc là tượng Bồ Tát Quan Âm 11 mặt do nhóm nghệ nhân Lý Dũng thực hiện cho chùa Quán Thế Âm (ở Phú Nhuận, TP HCM), Bố Đại Hòa thượng... Ngoài các tượng Thần, Phật, cũng đã có những tượng mỹ nghệ theo mẫu tượng cổ Chăm, Thái Lan, Trung Quốc và tượng người, tượng thú mang tính chất hiện thực và sinh hoạt đời thường...

Nhìn chung hơn 100 năm qua, nghề đá Biên Hòa đã tạo tác nên một khối lượng sản phẩm điêu khắc đồ sộ và tuy trong những năm gần đây có những thay đổi so với nếp sản xuất và truyền nghề truyền thống, song thực sự chưa có sự biến chuyển lớn lao trong đội ngũ thợ điêu khắc đá Bửu Long.



(1)  Gia Định Thành thông chí, tập Hạ, Tr 116.

(2)  Đại Nam nhất thống chí, Tỉnh Biên Hòa, tập Thượng, Tr 20.

(1) Ất Sửu có thể 1865 hoặc 1905. Chúng tôi xác định năm 1905 là căn cứ vào lịch sử truyền thừa của chùa này. Theo đó, đời tổ Pháp Truyền   -   Chơn ý (1893   -   1992) là thời kỳ chùa Bửu Phong hưng thịnh, và tổ Pháp Truyền trùng tu/trùng kiến chùa qui mô vào đầu thế kỷ.

 

(1)  Theo các nghệ nhân thì đá Bửu Long đa phần đều có cấu tạo đồng chất, có màu xanh và xanh nhạt; hạt cấu tạo có loại hạt to và loại hạt nhuyễn   -   mỗi loại đều thích hợp cho việc tạo các sản phẩm theo ý muốn của khách hàng.

 

Comments