4.1. Tổng quát về lịch sử kiến trúc Đồng Nai

IV.1.1. Đồng Nai là địa đầu của cuộc Nam tiến, chính vì vậy, ngoài nhà cửa của cộng đồng lưu dân khai hoang cùng với các thiết chế văn hóa - tín ngưỡng của thôn, lân, nậu thuộc (đình, chùa, miễu, võ...) thì các công trình kiến trúc có qui mô nhất định vào buổi đầu là các đồn lũy, kế đó là dinh trại - công sở, đồn bảo rồi sau đó mới đến thành lũy, các kiến trúc công sở, các kiến trúc phục vụ công ích, các công trình văn hóa - tín ngưỡng của nhà nước phong kiến.

a) Về các đồn lũy buổi đầu ấy và phát triển về sau này, trước hết là lũy Phước Tứ, có trước năm 1674. Đó là lũy đất ở địa đầu Mô Xoài, ngoài trồng tre gai. “Lũy ấy, trải mấy đời sau cũng nhân theo đó làm yếu địa đồn trú cho đạo Mô Xoài. Nay (đầu thế kỷ XIX - HNT) tứ bề không còn đồn lũy, tuy tường thành đã đào phá làm ruộng vườn mà bờ tre còn xanh tốt, còn nhận được dấu lũy xưa” (Gia Định Thành thông chí, Hạ, tr 104).

 - Lũy Trúc Giang ở thượng lưu sông Trúc Giang thuộc tổng Chánh Mỹ. Lũy này đắp nên từ khi mới khai thác đất này để chế ngự sơn man, tên cũ (đầu thế kỷ XIX) nay vẫn còn (Gia Định Thành thông chí, Hạ 103).

 - Lũy tre Đông Giang (Rạch Đông) ở phía nam sông Phước (sông Đồng Nai), cách phía tây - nam trấn 50 dặm rưỡi, lại cách phía nam cuối Rạch Đông 4 dặm rưỡi. Nguyên trước trồng tre gai làm rào (...) lâu ngày thành rừng tre sum suê mù mịt dài đến 10 dặm (Gia Định Thành thông chí, Hạ, 104).

 - Lũy Tân Hoa (Tân Ba?), lập ở thôn Tân Hoa vào năm 1771. Lúc đó, trấn Hà Tiên thất thủ, quan Đốc thị Nguyễn Đàm đắp lũy để phòng ngự. Việc chuyển quân của địch từ phía rừng núi Băng Bột xuống. (Gia Định Thành thông chí, Hạ, tr 103).

 - Lũy Trảo Trảo ở phía đông Trấn 80 dặm rưỡi (nay thuộc Thủ Đức). Năm 1790, đầu thời trung hưng, sửa sang nội trị, xây thành lũy, đóng ghe thuyền... phàm những chỗ trọng yếu trên đường lục lộ lo ngăn chặn trước nên đắp lũy đất này dài 3 dặm triệt ngay đại lộ (Gia Định Thành thông chí, Hạ, 104).

 - Lũy Sông Ký vốn trước ở đây là đồn, đến 1792, mới “đắp sửa lũy ở phía tây sông Ký, ngang giữa đường lớn, dọc theo bờ sông ra phía bắc, dài 12 dặm rưỡi. Sông ấy chảy ra phía bắc, đến suối lớn rồi chảy quanh vô nam hiệp với sông Đảo Thủy, lấy Trường Giang làm hào chiếm cứ nơi hiểm ấy” (Gia Định Thành thông chí, Hạ tr. 106 - 107).

 - Lũy Đồng Môn lập năm 1798 ở huyện Long Thành, gồm 5 cái đồn: phía bắc đại lộ 4 đồn, phía nam đại lộ 1 đồn, hình như răng chó, khiên chế lẫn nhau. Bốn mặt đều có trồng tre dày khít, xanh tốt. Năm Gia Long thứ 10 (1811), những tre ở lũy Đồng Môn, Trảo Trảo và Ký Giang đều ra trái rồi chết, nay đã mọc lại (Gia Định Thành thông chí, Hạ, tr. 105 - 106).

b) Thành Biên Hòa: Thoạt đầu, khi lập dinh Trấn Biên ở đất Đồng Nai thì dường như lỵ sở của nó còn đặt ở vùng Mỗi Xuy nên đến nay ở miệt Bà Rịa còn lưu lại các địa danh “sông Dinh”, “núi Dinh”; và rồi sau đó dinh Trấn Biên mới dời về thôn Phước Lư. Có lẽ cơ quan gọi là dinh này chỉ là một thành lũy sơ sài của một chính quyền địa phương còn đậm tính chất quân quản. Do vậy, năm Gia Long 15 (1816), lỵ sở trấn Biên Hòa lại “dời qua gò cao ở thôn Tân Lân, hoạch định ra thành sở ngang dọc đều 200 tầm, trong chia làm đường chữ “tỉnh” (hiểu là chia ô như bàn cờ - HNT); giữa dựng Vọng cung, hai bên tả hữu có lầu chuông trống; chỗ chính giữa sau Vọng cung làm 3 công dinh, rộng 80 tầm mà chia ra làm 3 phần, duy có chính giữa rộng thêm 5 tầm, dài 60 tầm, 2 con đường tả hữu đều 7 tầm; chu vi xây tường gạch. Phía sau là dãy nhà kho 31 gian lợp ngói, xây gạch dày chắc; hai bên tả hữu làm Thừa ty và quân trại, có chia khu vực chỉnh tề” (Gia Định Thành thông chí, Hạ, tr. 104).

Những điều miêu tả trên đây là kiến trúc trấn thành Biên Hòa thời Gia Long. Theo Đại Nam nhất thống chí (Lục tỉnh Nam Việt) thì năm Minh Mạng thứ 15 (1834) lại cho đắp thành đất và năm 1837 lại xây lại bằng đá ong. Đó là “tỉnh thành Biên Hòa” cũng đặt ở chỗ cũ (thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh): “Chu vi dài 388 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng; hào rộng 4 trượng 6 thước; có 4 cửa, 1 kỳ đài. Ngoài mỗi cửa đều xây cầu đá ngang qua hào để đi lại”. Đây là thành Biên Hòa bị quân Pháp tấn công chiếm hồi cuối thế kỷ XIX.

c) Ngoài thành (trấn, tỉnh) và các công sở ở đất Đồng Nai, tất nhiên còn có các phủ tự, huyện tự và kế đó là các kho điền tô là những kiến trúc có phần qui mô của hệ thống hành chánh thời đó.

 - Phủ tự Phước Long: Chu vi dài 30 trượng, rào cây ở địa phận thôn Bình Lợi, huyện Phước Chánh, dựng trong niên hiệu Gia Long

 - Huyện tự Bình An: Chu vi dài 30 trượng, rào cây, ở địa phận thôn Phú Cường (nay thuộc Thủ Dầu Một - HNT) dựng trong niên hiệu Gia Long. Ban đầu, đặt hai chức Tri huyện và Huyện thừa, có hai tòa Đông đường và Tây đường. Niên hiệu Minh Mạng, giảm chức Huyện thừa, còn Tây đường để làm Học xá Huấn đạo.

 - Phủ tự Phước Tuy: Chu vi dài 30 trượng, rào tre, ở địa phận thôn Phước Lễ, huyện Phước An. Nguyên huyện lỵ Phước An ở thôn Long Điền, năm Minh Mạng 18 (1837) đặt Phủ nha.

 - Huyện tự Long Thành: Chu vi dài 30 trượng, rào tre, ở địa phận thôn Phước Lộc trong huyện hạt, dựng trong niên hiệu Gia Long.

 - Kho điền tô đặt ở phía Bắc sông Hậu, làm dựa theo núi để làm chỗ trưng thu thuế trọng hạt, địa điểm này có lẽ ở phía Tân Mai vì từ Cù Lao Phố có bến đò “bến đò Kho”. Ngoài kho còn có 3 trường biệt nạp là Tân Thạnh, Cảnh Dương và Thiên Mụ, xưa đặt làm chỗ cho dinh Trấn Biên trưng thâu tô thuế chở về kinh, ở bờ phía Đông Tam Giang Nhà Bè.

d) Các kiến trúc có tính chất phòng thủ, bảo vệ trật tự trị an và thu thuế của nhà nước thời Nguyễn ở Đồng Nai - Biên Hòa xưa còn có đồn bảo, tấn, thủ, tuần, ải.

Đồn bảo có: Bảo Phước Thắng, pháo đài Tả Định (đối với pháo đài Hữu Định ở Gia Định), bảo đất Tam Kỳ, đồn Thị Tính;

 - Tấn có tấn Long Hưng;

 - Ải có ải Phước Châu, ải Phước Lễ;

 - Thủ có thủ Phước Bửu, thủ Phước Khánh, thủ Tân Định, thủ Tân Lợi, thủ Tân Bình, thủ Tân Thuận.

Nói chung, các loại kiến trúc đó như thế nào thì tài liệu thư tịch Hán Nôm không nói cụ thể. Chỉ được biết những nét cơ bản của một vài cơ sở mà qua đó, chúng có qui mô lớn nhỏ không chừng làm bằng vật liệu kiên cố hoặc đắp bằng đất và hình dạng cũng khác nhau. Chẳng hạn Bảo Tam Kỳ gọi là “bảo đất” chu vi 80 trượng 7 tấc (đắp năm 1848); trong khi đó Bảo Phước Thắng ở núi Ngọa Ngưu bên Gành Rái thì năm 1839, “xây đắp hình nguyệt viên (trăng tròn), chu vi 44 trượng 8 tấc, cao 6 thước 3 tấc, mở một cửa, trong có pháo đài” (Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) Thượng, tr. 31). Còn pháo đài Tả Định ở bờ phía Đông sông Bình Giang có “chu vi 207 trượng 6 thước, cao 5 thước, mở 1 cửa, có 4 pháo đài... Năm Minh Mạng 15 (1834) có đặt súng trong đồn và năm Thiệu Trị thứ 2 (1882) bồi đắp thêm hai núi đất, chia đặt pháo xưởng” (ĐNNTC, Thượng, tr 31).

e) Các công trình phục vụ công ích thời phong kiến này, đáng kể là các dịch trạm, trường học, chợ phố, cầu và bến đò.

 - Dịch trạm ở tỉnh Biên Hòa vào thời Gia Long đặt 4 trạm: Thuận Biên, Mũi Riêng và Nhà Bè. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) cải định làm 5 trạm: Thuận Biên, Biên Thạnh, Biên Long, Biên Phước, Biên Lễ và đến năm 1841, đặt thêm một trạm phụ Biên Lộc (1). Dịch trạm là một kiến trúc như thế nào đến nay không sao phỏng đoán được, nhưng có lẽ những dịch trạm lớn quan trọng là một kiến trúc có qui mô nhất định để các trạm phu có chỗ nghỉ chân và làm việc. Chẳng hạn trạm Thuận Biên ở chỗ giáp giới Bình Thuận và Biên Hòa và theo lệ mỗi tỉnh có đến 40 người phụ trách, chia làm 3 ban, tức luôn luôn có 20 người trực.

 - Trường học ở Biên Hòa bao gồm tỉnh học Biên Hòa (nguyên ở xã Tân Lại, niên hiệu Minh Mạng dời qua Tân Lân), phủ học Phước Long (ở phía Đông phủ tự, dựng vào đời Minh Mạng), phủ học Phước Tuy (dựng năm 1837, ở đông bắc phủ tự). Sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Biên Hòa) chỉ cho biết có 1 trường tỉnh và 2 trường phủ và không kể ra các trường ở cấp huyện (2).

 - Về chợ, tác giả Gia Định Thành thông chí (GĐTTC) nêu ra một danh sách gồm 4 chợ. Đó là chợ Bến Cá (cũng gọi là chợ Bình Thảo, nay thuộc xã Tân Bình) là một chợ miền núi khá thạnh mậu:”thương khách tụ hội, trên cả đường thủy và đường bộ, ngoại hóa, thổ sản cùng gia hào mỹ vị ở sông núi không thiếu vật gì” (GĐTTC, Hạ, tr. 115).

Một “chợ núi” khác là chợ Băng Bột (miệt thị xã Thủ Dầu Một): “nhà cửa trù mật, ghe thuyền đi đến nơi, có nhiều sản vật ở núi rừng thôn dã” (GĐTTC, Hạ, tr . 115).

Ở miệt dưới có chợ Bà Rịa (còn gọi là chợ Long Thạnh) “Nhà cửa liền lạc, giao thông cả đường thủy và đường bộ, là một chợ lớn ở miền biển” (GĐTTC, Hạ, tr. 115).

Về phía thành Gia Định (Trấn Phiên An) có chợ Bình Quới: “ghe thuyền sông biển đến đậu nối đuôi nhau; người ở đấy chuẩn bị đò dài hoặc vắn, đi theo dòng nước bán đồ hoa quả, thức ăn” (GĐTTC, Hạ, tr. 115).

Bốn ngôi chợ này (nay chỉ có chợ Bình Thảo là thuộc tỉnh Đồng Nai và 3 chợ kia đều thuộc các tỉnh lân cận: Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy một kết cấu cơ bản của hoạt động thương mãi đầu thế kỷ XIX về trước và là những chợ đầu mối của Cù Lao Phố - một trung tâm thương mãi quốc tế đầu tiên ở đất phương Nam. Thật ra, ở địa bàn thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai hiện nay ngoài chợ Bến Cá, Bình Thảo còn có các chợ: Lộc Dã (tục danh chợ Đồng Nai), chợ Tân Lân (tục gọi chợ Bàn Lân) chợ Bình Long (tục gọi chợ Lò/chợ Đồn), chợ Long Thành (tục gọi chợ Đò), chợ Phước Lộc (chợ Đồng Môn), chợ An Hòa (Bến Gỗ), chợ Phước Thiền, chợ Thiết Tượng (Lò Thiếc). Trong các chợ đó, có chợ Tân Lân và chợ Bình Long là có “phố xá trù mật” (GĐTTC, Thượng, tr. 35 - 36).

 - Phố xá: Các chợ có “phố xá trù mật” nói trên rõ ràng là không thể so với Cù Lao Phố, một cảnh sông sâu được hình thành vào lúc đầu khai thác (1679) “Trần Thượng Xuyên tướng quân chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông liền lạc tới 5 dặm, chia vạch làm 3 đường phố: đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót gạch xanh. Đường rộng bằịng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu neo, có những xà lan liên tiếp nhau. Ấy là một chỗ đại đô hội, những nhà buôn bán to lớn đều đến đây là chỗ nhiều hơn” (GĐTTC, Hạ, tr. 174).

 - Về cầu cống, thì cây cầu khá quan trọng nối phố xá “đại đô hội” Cù Lao Phố với khu vực hành chính Trấn Biên là cây cầu bắt qua sông Đồng Nai (khúc Rạch Cát, Sa Hà): đó là chiếc cầu ván,rộng rãi bằng phẳng, đi thông đến lỵ sở” (GĐTTC, Thượng, tr. 20). Cầu này bị đốt cháy vì cuộc bạo loạn của nhóm khách thương Phước Kiến do Lý Văn Quang cầm đầu vào năm 1747.

Chiếc cầu đá thạch kiều ở phía tây - bắc trấn nửa dặm là công trình xây dựng đáng chú ý: “đá ong dài lớn, chồng chất cắn lợi chùng nhau, gác ngang trên ruộng, dưới mở 3 cửa cống cho thông đường nước, cầu dài 25 trượng do thuộc Trấn trung bộ Cai cơ đội Lê Văn Hòe kiến trúc vào đời Thế tôn Hoàng đế bản triều (1733 - 1764)” (GĐTTC, Hạ, tr. 116; ĐNNTC, Thượng, 37).

Ở địa bàn thuộc tỉnh Đồng Nai hiện nay, bấy giờ còn có một số cầu khác. Cầu Ván/ bảo kiều cầu Đỉnh, cầu Tân Hóa (ở huyện Phước Chánh), cầu Đồng Nai/ lộc kiều (Long Thành), cầu Quán Thủ (Long Thành) cầu Thanh Thủy (Long Thành), cầu Phụng (Long Thành), cầu Chùa (Long Thành), cầu Hỗn Thủy (Long Thành), cầu Phước Lạc (Long Thành), cầu Phước Vĩnh (Long Thành)... Nói chung các cầu này ngắn nhất 4 thước (# hơn 2m) và dài nhất là cầu Phước Vĩnh (7 trượng 3 thước tức khoảng hơn 30 mét).

f) Trong các loại kiến trúc thời kỳ khai hoang nhà Nguyễn, thì loại kiến trúc thuộc thiết chế văn hóa - tín ngưỡng chính thống của nhà nước phong kiến (đàn, miếu, đền, từ) và các thiết chế văn hóa tín ngưỡng làng xã (Đình, Chùa, Miếu, Võ) là bộ phận quan trọng về số lượng và qui mô.

f.1) Trong tiến trình xây dựng các kiến trúc của thiết chế văn hóa - tín ngưỡng chính thống của nhà nước thì đền Lễ Công thờ Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh là kiến trúc thờ tự chính thức của nhà nước được xây dựng đầu tiên ở đất Đồng Nai vào năm 1700.

Ngôi đền dựng ở phía nam Cù Lao Phố (thôn Bình Hoành, huyện Phước Chánh) này được tác giả Gia Định Thành thông chí ghi nhận là “miếu võ trang nghiêm”. Đến cuối thế kỷ XIX, do chiến tranh nên “hương khói lãnh đạm” và đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) thì bị “mục nát lại bị ngọn nước xói lở nên được cấp 400 quan tiền cho dân sở tại lựa mua cây gỗ, cất lại ở sau đền cũ cách 10 trượng để phụng sự” (ĐNNTC, Thượng, tr. 42).

Những đền thờ công thần khác thuộc loại này được xây dựng sau này, có đền Diên công, đền Giáp công, đền Hiên Ngọc hầu, đền Châu Quận công, đền Trung Tiết. Các đền thờ này trừ đền Trung Tiết ở thôn Bình Thành xây năm 1833 là thuộc địa phận Đồng Nai hiện giờ, còn các đền khác thì thuộc về Bà Rịa - Vũng Tàu, Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh).

Trong loại kiến trúc được gọi là đền này ở Đồng Nai có loại thờ nhiên thần như đền Hỏa Tinh ở Phước Thiền (Long Thành cũ, nay là Nhơn Trạch) có loại thờ Rồng như đền thờ Long Vương (nhất nhị tam lang long vương) ở thôn Long Sơn, huyện Long Thành. Đây là các cơ sở tín ngưỡng dân gian được các quan lại cầu đảo và cho rằng có linh ứng trong việc chinh chiến hồi đầu thế kỷ XVIII nên công nhận chính thức, tức đồng hóa vào hệ thống tín ngưỡng quan phương.

Một ngôi đền khác là đền thờ Quan Công của người Hoa lập ở Cù Lao Phố hồi năm 1684. Ngôi đền (gọi theo ĐNNTC) này, thực ra gọi là Quan Đế miếu (GĐTTC) và hiện nay tên chính thức là Thành phủ cổ miếu và được dân gian gọi là “Chùa Ông Cù Lao Phố”. Đây là công trình kiến trúc miếu vũ Hoa thuộc loại sớm nhất ở Nam bộ.

Ngôi miếu này tọa lạc ở “phía đông đường tam giai, ngó ra sông Phước”. Đó là công trình kiến trúc được tác giả Gia Định Thành thông chí nhận xét là: “miếu điện nguy nga, có đắp tượng cao hơn một trượng, phía sau là Quán Quan Âm, ngoài bao tường gạch, có lân đá ngồi ở 4 góc”. Ngôi miếu này vì chiến tranh và rồi bị lụt làm hư hỏng nên đến năm 1816 lại được tái thiết dần; và sau đó lại được trùng tu trùng kiến, nhiều di tích hiện tồn có niên đại 1894.

f.2) Cơ sở tín ngưỡng - văn hóa chính thống được gọi là miếu ở Đồng Nai, quan trọng nhất là Văn miếu Trấn Biên, ngôi Văn Thánh miếu đầu tiên ở Nam bộ, được xây dựng từ năm 1715, tức 17 năm kể từ ngày thiết lập phủ Gia Định, chính thức đưa vùng đất phương Nam này vào bản đồ của nhà nước Việt Nam, đến năm Giáp Dần (1794), Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô khâm mạng giám đốc trùng tu: giữa làm Đại Thành điện và Đại Thành môn; phía đông làm Thần Miếu; phía tây là Dục Khánh từ, trước xây tường ngang; phía tả có cửa Kim Thanh; phía hữu có cửa Ngọc Chấn; chính giữa sân trước dựng Khuê Văn Các, treo trống chuông trên đấy; phía tả có Sùng Văn đường; phía hữu có Duy Lễ đường. Chu vi bốn mặt ngoài xây thành vuông, mặt tiền làm cửa Văn miếu, phía tả hữu có hai cửa Ngọ môn, rường cột chạm trổ, qui chế tinh xảo. Đồ thờ có những thần bài, khám vàng, ve chén và đồ phủ quỹ biên đậu (đồ dùng đựng vật cúng tế) điều chỉnh nhã tinh khiết. Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam, quít, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và hồng xiêm đầy rẫy, xum xuê, trái sai lại lớn” (GĐTTC, Hạ, tr. 108).

Tập hợp các công trình văn hóa tín ngưỡng được định danh là đàn miếu ở các trấn/ tỉnh có tính chất hệ thống qui cũ bắt đầu từ đời Gia Long về sau. Đó là miếu Hội đồng và miếu Thành Hoàng, đàn Xã Tắc, đàn Thần Nông/Tiên Nông.

 - Miếu Hội đồng trấn Biên Hòa được lập ở thôn Bình Thành (huyện Phước Chánh) để thờ các linh thần bổn cảnh và 28 văn thần võ tướng có công khai quốc. Hồi đầu, miếu xây ở Tây Bắc thành; năm Gia Long thứ sáu (1809) mới dời về nơi đây và đến năm Tự Đức thứ hai (1849) trùng tu.

 - Miếu Thành Hoàng (thờ thần Thành Hoàng tỉnh) cũng xây dựng ở thôn Bình Thành vào năm Thiệu Trị nguyên niên (1841).

 - Đàn Xã Tắc cũng được đắp ở thôn Bình Thành, thờ Xã Tắc bản tỉnh, được xây vào năm Minh Mạng 13 (1832). Thường năm đến ngày mậu tháng 2 và tháng tám cúng tế. Qui chế của đàn này giống y như đàn ở Gia Định (vuông vức, mỗi cạnh hơn 4 trượng, cao hơn 2 thước 5 tấc).

 - Đàn Tiên Nông đắp ở phường Bình Trước (huyện Phước Chánh), phía Đông tỉnh thành vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) để thờ Tiên Nông: vuông vức 3 trượng 6 thước, cao 2 thước 7 tấc có kho thương lẫm (chứa lúa) và ruộng tịch điền ở phía tả.

IV.1.2. Nhờ tài liệu lịch sử cho biết, Đồng Nai buổi đầu khai hoang đã nhanh chóng trở thành vùng đất thạnh mậu, nhà giàu có mỗi nơi có đến vài chục hộ và lúa thóc đã trở thành hàng hóa, Cù Lao Phố là xứ đô hội, trung tâm giao dịch với các luồng thương mãi bên ngoài. Do vậy, các công trình kiến trúc dân sự cũng đã phát triển ở một mức tương xứng. Vả lại, Đồng Nai là vùng đất có nhiều vật liệu xây dựng: từ mây, tre, gỗ, đá trong thiên nhiên đến gạch, ngói đều là sản phẩm được sản xuất tại chỗ với số lượng dồi dào. Đây là một điều kiện thuận lợi cho công việc xây dựng nhà ở, các công trình kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng (đình, chùa, miễu, võ...).

a) Nói chung, thư tịch cổ không cung cấp cho những dẫn liệu về kiến trúc dân dụng thời trước. Các ngôi nhà cổ ở đất Đồng Nai thực tế chỉ là những kiến trúc có niên đại từ cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, chúng được gọi là nhà cổ đều được xây dựng theo kiểu thức kiến trúc chung ở Đàng Trong. Nói cách khác, các ngôi nhà cổ hiện tồn cho hình ảnh của nhà cửa của lớp người giàu có ở Đồng Nai thời trước.

Mật độ của loại nhà cổ tập trung ở vùng Cù Lao Phố và một số thị tứ cổ Bến Gỗ, Phước Thiền. Chẳng hạn như nhà ông Nguyễn Văn Lộ (1891), nhà bà Nguyễn Bạch Liên (khoảng 1895), nhà cô giáo Nguyễn Thị Hòa (1914), từ đường họ Tống Đình (1897), nhà ông Đinh Văn Toan (1933)... Các nơi khác đều có những ngôi nhà cổ qui mô lớn, chạm trổ tinh tế và mỹ thuật: Ở Tân Vạn có nhà ông Sáu Son, nhà Nguyễn Văn Thôn; ở Nhơn Trạch có khu phố cổ ở chợ Phước Thiền, có nhà ông Tư (ở Hiệp Phước), nhà ông Ba Lãnh, nhà ông Đào Mỹ Thiền, nhà ông Nguyễn Lục Yểm (Phú Hội); vùng Bến Gỗ có nhà ông Nguyễn Văn Long và các nhà phố cổ ở khu chợ; ở Vĩnh Cửu có nhà ông Ba Hảo (Thạnh Phú); ở Biên Hòa có từ đường Phùng phủ đường (ấp Thới Sơn, Bình Hòa), từ đường Đào phủ đường (Thới Sơn, Bình Hòa)...

Nói chung, nhà cổ ở Đồng Nai về cơ bản cũng có những đặc điểm chung với các nhà cổ ở Nam bộ trừ những ngôi nhà còn bảo lưu ở những dãy phố ở Bến Gỗ và Phước Thiền có được chút ít “phong cách” phố cổ Hội An. Đó là những căn phố gỗ lợp ngói âm dương, thường là 3 gian cho mỗi hộ, liên tiếp nhau (tức là các căn nhà xông - không có chái) Biểu hiện đặc trưng của loại nhà phố cổ này là giàn cửa chạy suốt mặt tiền của căn nhà có khung bao lắp vào cột thường được cách điệu hình Sòi (hình đầu bia, tức hình nấm linh chi hay tường vân) chạm nổi các mô típ hoa văn trang trí trên dải khuôn bao và đố khá mỹ thuật. Không gian nội thất, từ dãy cột hàng nhì (hay hàng nhứt) về phía trước dùng để bày hàng hóa và khoảng giữa làm nơi thờ tự và phía sau làm nơi sinh hoạt, kho tích trữ hàng hóa... Nói chung, mặt bằng sử dụng vẫn còn được phân chia theo nguyên tắc “ngoại khách nội tự”, song khách ở đây hiểu rộng là cả khách hàng mua bán và sau phần để thờ tự ở khu vực trung tâm là khu vực sinh hoạt. Khu vực sinh hoạt có thể nằm trong sâu của căn nhà phố đó hoặc được mở rộng thêm bằng cách di một nếp nhà song song (sắp đọi) khác. Phần “nội tự” được trang trí bao lam, liễn đối, trang thờ, tủ thờ trang nghiêm. Trong các căn phố cổ còn tồn tại, nhà của ông Trần Văn Long (ở chợ Bến Gỗ) là căn nhà rường ba gian độc đáo; có gác lửng chạy suốt cả khu vực giữa hai hàng cột nhứt dành làm khu vực “nội tự”. Các gác lửng này được trang trí bằng các bao lam, thủ quyển, liễn đối, bình phong, bức thờ chạm trổ thoáng và công phu khiến cho nó thành một căn phố cổ tiêu biểu cho kiến trúc phố chợ này.

Ngoài các căn phố đó, nhà cổ ở Đồng Nai nói chung được kiến trúc theo kiểu thức truyền thống phổ biến chung cho cả Nam bộ - mà nguồn gốc của nó là thức kiến trúc Đàng Trong. Cụ thể là có hai kiểu kết cấu bộ khung chính là nhà rường (gọi là xiên trính/ xuyên trính) và nhà rội (nọc ngựa, nhà cột giữa) và bố trí mặt bằng của các căn nhà phổ biến là theo thức chữ đinh (một ngang - một dọc), hoặc chữ nhị (thường gọi là sắp đọi, hiểu là song song nhau như úp bát) hầu như nhà ở Đồng Nai không thấy kiểu bố trí 3 dãy song (gọi là chữ tam) hay bố trí 4 nếp nhà đâu mặt vào nhau theo hình chữ khẩu; và rất hiếm là nhà chữ công (hai nếp nhà song song, cách nhau một khoảng được nối liền bằng một nhà cầu dọc).

Nhà chữ đinh là kiểu thức phổ biến và việc sắp xếp nhà trên và nhà dưới theo bên thuận hay bên nghịch, ở Đồng Nai là tùy thuộc vào đặc điểm của cuộc đất thổ cư cụ thể và hầu như không có quan niệm đắn đo và kiểu nhà chữ đinh thuận hay chữ đinh nghịch. Mặt khác kết cấu nhà chữ đinh cũng không ràng buộc bởi qui tắc “trên + rường - dưới rội” hay ngược lại “trên rội - dưới rường). Nói cách khác, quan niệm “lưỡng hợp/ một âm - một dương” không quá chú trọng vào chi tiết: hễ nhà trên là kiểu nhà rường thì nhà dưới buộc phải là nhà rội hay ngược lại. Ở đây có trường hợp trên rường - dưới rườngtrên rội - dưới rội và được giải thích rằng nhà chữ đinh tự nó đã là một ngang - một dọc, tức đã hội đủ một âm - một dương (cái đạo của vợ - chồng, hiểu rộng ra là của càn - khôn, trời - đất. Phải chăng đây là triết lý của kiểu nhà chữ đinh - một kiểu nhà khá phổ biến ở Nam bộ, ở Đồng Nai nói riêng.

Một biến thái đáng chú ý trong kiểu nhà chữ đinh ở Đồng Nai, được coi là một kiểu thức độc đáo của phái thợ mộc Phú Hội (Nhơn Trạch) - một “xóm Huế” ở xứ Đồng Nai (1) - là một nếp nhà dưới của các ngôi nhà chữ đinh (như nhà ông Đào Mỹ Thiền và di tích còn lại của ngôi nhà ông Ba Lãng) được tạo tác theo kiểu nhà tứ trụ. Kiểu nhà tứ trụ là kiểu nhà rường mà bốn cột cái được bố cục vuông vức, bốn cạnh đều bằng nhau và mở rộng không gian nội thất đều ra bốn hướng với các bộ kèo đấm và kèo quyết. Đây là thể thức kiến trúc, theo qui tắc đã thành điều cấm kỵ là chỉ dùng cho các công trình kiến trúc thờ tự (đình, đền, chùa, miễu) và không bao giờ áp dụng cho kiến trúc nhà ở. Sự có mặt của thức nhà tứ trụ trong các ngôi nhà chữ đinh ở Phú Hội là trường hợp hết sức cá biệt mà việc không chấp vào điều cấm kỵ đã thành thể lệ phổ biến nói trên có thể coi là một sự phóng túng.

Qua điều tra thực tế ở Đồng Nai, cũng thấy rằng việc chọn kiểu nhà rường hay nhà rội để làm nhà ở là tùy thuộc vào sở thích của chủ nhà mà không tùy thuộc vào tuổi tác hay địa vị xã hội của họ. Tuy nhiên, phổ biến thì người ta thích nhà rường hơn nhà rội. Thực tế, ngôi nhà rường có không gian nội thất khu vực trung tâm vắn, giới hạn bởi hai cột hàng nhứt, thoáng đãng và vuông vắn, tạo nên sự “cân xứng mỹ quan” cho phần không gian thờ tự - một chức năng quan trọng của nếp nhà chính.

Câu tục ngữ “Sống cái nhà, già cái mồ” là cách nói phổ biến; song thực tế, ngôi nhà của người Việt ở Đồng Nai đặc biệt là từ đường - dành cho việc sống/ sinh hoạt rất ít mà ưu tiên cho việc thờ tự ông bà, tổ tiên cùng với việc tiếp đón khách, thân tộc trong các ngày lễ tiết, giỗ chạp. Chính vì vậy, thành phần gọi là trang trí kiến trúc được tập trung ở đây.

Các thành tố của bộ khung nhà được chú ý về mặt mỹ thuật, trước hết là kèo và kế đó là trính và bộ chày cối (trỏng/trổng). Kèo gọi là kèo đoạn tức gồm nhiều đoạn nối từ đòn dông ra cột nhứt, từ cột nhứt ra đầu cột nhì, cột ba. Kèo đoạn còn gọi là kèo vỏ đậu vì nó được tạo dáng cong vồng lên với các đường bào xoi dọc theo chiều dài của nó tạo thành những đường gần hao hao như cái vỏ quả đậu. Kèo đoạn/vỏ đậu còn được gọi là kèo hông tượng (tượng: voi) khiến cho hiểu rằng nội thất được coi là cái bụng con voi to lớn và kèo là những cặp xương sườn nối từ xương sống là chiếc đòn dông của con voi. Sự định danh dựa theo hình dạng bộ xương voi này đã cho thấy đường cong vồng lên của dạ kèo và trính đã đưa đường cong vào một kết cấu mà đường thẳng chiếm tỷ lệ chủ yếu. Sự tạo dáng theo đường cong của kèo và trính đã điều hòa sự đơn điệu của các thành tố kiến trúc “thẳng thớm” của bộ khung nhà - và cố ý để lộ ra mà không làm trần để che đậy. Nói cách khác sự kết hợp cong thẳng tự nó đã biểu lộ rằng người thợ mộc khi dựng nhà không chỉ nghĩ đến công dụng của các yếu tố cấu thành bộ khung nhà mà đã tính đến dáng vẻ của nó, tức đã quan tâm đến mỹ thuật kiến trúc và dáng vẻ của cái vòm khum phải chăng đó là sự thuận theo khum cái vòm trời biểu kiến của đại và trụ chứ không phải cái trần phẳng của không gian hình lợp của kiến trúc hiện đại.

Trong thực tế, mỗi đoạn kèo/ xương sườn voi đa phần đều gợi nên dáng vẻ một con rồng - hiểu ở mức độ không nghiêm ngặt như kèo đầu rồng ở các đền chùa và đuôi kèo thường là đuôi kèo thứ ba, tính từ nóc xuống hiên là một cái lá dung (hiểu là lá dong để gói bánh chưng) cách điệu mà hình dạng của nó gợi cho một cái đầu rồng; ở đó, luôn được chạm nổi những đồ án trang trí thuyền thống: dây lá hóa rồng (hai con giao đầu, thường gọi là giao long, long bồi đầu), dây lá hóa phụng, phù dung - phụng, hoa điểu, tùng lộc... Một số trường hợp, dạ trính và dạ kèo được chạm các mảng phù điêu hoặc mai - lan - cúc - trúc - hoặc các dây lá triền chi, hoa lá cách điệu cùng với các hoa văn trang trí cổ điển: bồi văn, lôi văn, bát kiết, dây liên.. hay bát bửu.

Ngoài các mảng trang trí trên các thành phần của bộ khung là các thành tố thuần chức năng trang trí được gá lắp vào: khuôn bông (ô lồng), khuôn đố, bao lam, khuôn cửa giả, chân quì (ốp vào chân cột) hoặc các sản phẩm chạm trổ rời dùng để treo liễn (treo ở mặt tiền cột hay vách) hoành, thủ quyển...

Các khuôn bông/ ô lồng vuông và chữ nhật được ghép liền với nhau thành nhiều dải chiếm ít nhất một phần tư đến một phần ba phía trên giáp mái, diện tích tạo bởi 4 cột hàng nhất tiền hoặc hậu của các ngôi nhà rường hay tạo bởi 4 cột cái hoặc 4 cột hàng nhì bậu sau của nhà rội. Như vậy 4 cột đã phân ra làm 3 mảng chữ nhật bố trí các ô lồng/ khuôn bông và do vậy, mảng giữa luôn được chú ý hơn và hai mảng bên thường luôn luôn là đối xứng nhau, lấy mảng giữa làm trục. Tất nhiên, ở từng mảng, từng khuôn bông/ô lồng v.v... đều tuân thủ nguyên tắc đăng đối làm chuẩn. Khuôn bông/ô lồng là các đơn tố được lắp ghép thành dải trên các ô cấu tạo bằng đà và đố thường được bào xoi thành các đường gờ nổi. Khuôn bông là các bức chạm lộng mặt bẹt hay kênh boong, cao nhiều tầng nhiều lớp, có hay không có nền hoa văn da qui, bát kiết và ô lồng (đôi lúc được hiểu đồng nghĩa với khuôn bông) là để chỉ các bức gỗ được cưa lộng, tức trổ thủ để tạo một số chi tiết của một hoa văn, đồ án trang trí, hình kỷ hà (vuông tròn, thoi, bàn cờ, lát chả, tréo trả, kết hợp nhiều dạng hình...) hay các đề tài về hoa điểu, dây lá, cây - thú: sen vịt, trúc tước, tùng lộc... Thật ra, các đơn tố trang trí ở đây đa dạng hơn nhiều, bao gồm cả những bức phù điêu, những bức chấn song con tiện, những tấm gỗ chạy chỉ cẩn gỗ màu khác, hay các bức cẩn xà cừ...

Trong một số trường hợp mảng giữa không trang trí khuôn bông/ ô lồng mà thay vào đó là cái trang thờ gia thần (Quan Thánh Đế quân, Đông Trù Tư Mệnh, Phước Đức chính thần, hoặc thêm Tổ nghề thuộc, nghề mộc, hay Thần tài). Cái trang thờ như vậy trở thành một thành tố trang trí ở mảng giữa gắn bó hữu cơ với hai mảng khuôn bông/ ô lồng hai bên; nó biểu hiện ra mặt tiền của cái trang thờ với trán thượng lưỡng long tranh châu và buông xuống 2 dải bao lam trang thờ, cùng với câu đối, thần vị, đồ tự khí... Tất cả tạo nên cái nghi dung của chốn nội tự.

Cột để trơn, treo các tấm liễn phẳng hay cong lòng máng ấp sát thân cột tròn; hoặc gắn các khuôn đố làm khung bao giả, có tính chất trang trí để gắn bao lam cột (còn gọi bao lam thần vọng). Liễn cũng như các bức hoành/đại tự biểu thị cái tâm tính của chủ nhà, phô bày những khuôn phép gia phong, những xu hướng, những ước vọng mà chủ nhà muốn coi đó là chuẩn tắc xử thế. Đứng về khía cạnh trang trí nội thất thì đó là sản phẩm tăng thêm tính trang nghiêm, biểu thị cái gia phong và nghệ thuật thư pháp.

Khuôn đố cột thường được bào xoi tỉ mỉ để tạo nên những dải gỗ viền bởi những đường gờ nổi, ở đó là những mảng phù điêu được chạm trổ công phu theo đề tài cảnh vật cặp đôi có ý nghĩa biểu trưng: liên - áp (sen - vịt), tùng - lộc (tùng nai), trúc - tước (trúc chim sẻ), lan - thố (hoa lan thỏ), kê - cúc (gà - hoa cúc)... hay các đồ án hoa điểu, dây liên, song tiền, bát bửu, tứ thú (cầm - kỳ - thi - họa) hoặc là những hoa văn truyền thống: bát kiết, dây lá hóa rồng/phụng, lá lật, hồi văn, sòi như ý (dạng nấm linh chi) lựu khai, phật thủ, sen, hoa mai, trúc...

Bao lam thần vọng đa phần đều là đề tài Mẫu đơn - Trĩ hay Phù dung - Phụng tích hợp với Dơi hàm thọ hay Dơi - thủ quyển có chạm nổi chữ thọ. Các bao này được tạo tác bằng trình độ chạm trổ tương đối cao. Các sản phẩm ở từ đường họ Tống Đình (Cù Lao Phố) là đặc sắc; ở nhà ông Ba Hảo là tinh tế; ở nhà ông Long (Bến Gỗ) là sắc sảo có góc cạnh sinh động già dặn... Dấu ấn kỳ pháp tạo hình ở đây là đa dạng và một số trường hợp đã cho phép đoán định là thuộc phong cách chạm gỗ Bắc, Huế, Thủ Dầu Một; các cánh thợ chạm Dĩ An (Bình Dương) và đặc biệt là Phú Hội (Nhơn Trạch) là còn rất thô phác. Các khung bao cửa hình vòm ở Bến Gỗ, và đặc biệt là nhà ông Ba Hảo (Thạnh Phú, Vĩnh Cửu) tuồng như đậm dấu ấn của thợ chạm gỗ Kim Bồng (Hội An).

Nói chung, kiến trúc nhà cổ ở Đồng Nai chủ yếu là sự biểu hiện bằng ngôn ngữ của gỗ mà sự tạo hình của kèo cột, của bộ khung cũng như những sản phẩm trang trí kiến trúc nội thất đã xác lập nên một kiểu cách định hình của cái gọi là nhà cổ và một sự thêm thắt mới mẻ vào đó sẽ trở nên lố bịch không phù hợp. Nói cách khác, cố kết đó là một chỉnh thể. Ở đó vừa đã phân bố không gian, đáp ứng nhu cầu văn hóa - tín ngưỡng, nối kết hiện tại và quá khứ, người sống và tổ tiên quá vãng, nối kết gia đình với họ hàng, thân hữu, và nơi sinh hoạt và trú ngụ của các thành viên trong gia đình có qui định rõ cho thứ bậc, cho giới tính. Trên bộ khung gỗ ấy là mái ngói âm dương lớn và hơi dốc. Có thể nó tìm sự vững chãi ở bề rộng nhưng không tìm sự đồ sộ ở bề cao. Đó là xét về bản thân của ngôi nhà. Còn trong thực tế, các ngôi nhà ít khi chú ý đến độ cao của nền đã thực sự hòa lẫn vào không gian của cảnh quan. Đó là những khu nhà vườn, có phần nào chú tâm tới cây cối, tới vị trí của ngôi nhà trong diện tích thổ cư và hầu như không mấy chú ý đến địa hình, địa vật: sông, rạch, gò, đồi... Điều đó có phần khác với các kiến trúc văn hóa tín ngưỡng của nhà nước phong kiến như việc chọn đất dựng Văn miếu Trấn Biên hay như đền lễ công thờ Nguyễn Hữu Cảnh mà đã trích dẫn từ tài liệu thư tịch Hán Nôm ở phần trên; và việc không chọn đất theo chuẩn mực phong thủy này cũng có khác với việc xây dựng các kiến trúc văn hóa - tín ngưỡng của thôn làng.

b) Thiết chế văn hóa - tín ngưỡng của thôn làng truyền thống là một phức thể tam giáo cộng với các tín ngưỡng dân gian, bao gồm đình, chùa, miếu, võ. Ở kết cấu kiến trúc văn hóa - tín ngưỡng này, đình là cơ sở văn hóa tín ngưỡng mang tính chất công hữu của thôn/ làng. Nó là đơn vị trung gian giữa thiết chế văn hóa - tín ngưỡng chính thống (đàn - miếu - đền - từ) với tín ngưỡng dân gian. Tuy vậy, về bản chất nó không thuộc vào hệ thống chính thống mà sự biểu hiện cụ thể là thần Thành Hoàng là đại diện cho thiên tử, được vua sắc phong (bổ nhiệm) với chức vụ là “bảo vệ dân đen” cho vua và mặt khác, là nghi lễ của nó thuộc qui thức tế lễ cung đình. Theo đó, kiến trúc đình làng cũng phải tuân thủ những yêu cầu nhất định để đảm bảo yêu cầu thờ tự và tế lễ - hội hè. Tất nhiên, nhà nước phong kiến hầu như chưa ban bố qui định cụ thể nào về điều này và trong thực tế, việc xây dựng đình là do dân làng thực hiện và kiểu thức kiến trúc của đình là không thống nhất nhau, mỗi đình mỗi kiểu.

Không có tư liệu thư tịch nào chỉ rõ đình làng thôn ở Đồng Nai được xây dựng đầu tiên là bao giờ. Song đình là một thành tố của thiết chế văn hóa tín ngưỡng của thôn làng, nên sau khi khai hoang lập làng, hẳn là đình phải được xây dựng. Như vậy, ở Đồng Nai muộn nhất là đầu thế kỷ XVIII sau mốc lịch sử 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh chính thức thiết lập bộ máy hành chính - cai trị ở vùng đất này, thì đình đã được thành lập ở các thôn làng đã phát triển vượt khỏi quá trình khai hoang. Ở thời điểm này, hay cả trong buổi đầu khai phá (thế kỷ XVII, XVIII) đình làng ở Trung Bắc đã định hình trên dưới 200 năm rồi. Nói cách khác, những lưu dân Thuận Quảng vào đây đã sở đắc khuôn mẫu đình làng (và chùa, miễu...) từ bản quán Trung bộ và họ có thể dựng một ngôi đình làng theo mô thức đã thành truyền thống đó. Tất nhiên, đình làng buổi ban sơ ấy còn hạn chế về khả năng vật chất và vật liệu xây dựng chưa dồi dào; và kế đó, cũng bị chi phối bởi kiểu thức và quan niệm kiến trúc các cơ sở thờ tự của người Hoa mà ngày nay còn tồn tại khá phổ biến việc gọi đình là miếu/cổ miễu (tồn tại trên phần lớn các tấm biển ở đình làng Đồng Nai - nhất là vùng Cù Lao Phố, thành phố Biên Hòa)(1). Hơn nữa, cặp rồng chầu mặt nguyệt (hay tranh châu) hay cả một quần thể tiểu tượng sành cứng men màu trên bờ nóc và bờ giải (2) và khá phổ biến là tượng Ông Nhựt - Bà Nguyệt là những dấu tích hiển nhiên của sự ảnh hưởng kiểu thức kiến trúc của “nghệ thuật miếu vũ” người Hoa mà ngày nay còn quan sát được. Tuy nhiên, những chứng tích đó là những biểu hiện vào thời cận đại của một kiểu thức đã ăn sâu thành nếp trong tư duy người tạo dựng đình; còn mô hình kiến trúc đình làng thời kỳ xa xưa đó như thế nào là vấn nạn không có lời giải đáp.

Ngay cả đình “An Hòa, miếu vũ” một ngôi đình còn tồn tại ít nhiều chứng tích để xác định niên đại xây dựng vào năm 1792, nhưng lại cũng đã trùng tu nhiều lần mà gần đây là 1944, 1953 và 1994, tức là không phải còn nguyên trạng để làm cơ sở đối chứng hầu tìm hiểu sự tiến hóa của kiến trúc đình. Qua nghiên cứu thực tế, rất dễ nhận ra yếu tố truyền thống được bảo lưu bền vững nhất trong kiến trúc đình là kiểu nhà tứ trụ mà nguồn gốc của nó được xác định tháp thờ Stupa/phù đồ của Ấn Độ, được đạo Phật du nhập vào xứ ta. Kiến trúc Phật giáo này trong quá trình phát triển của lịch sử đã trở thành kiểu thức chung cho các kiến trúc thờ tự thần linh (đình, miễu, võ...).

Nhà tứ trụ có kết cấu bộ khung hệt như nhà rường, chỉ khác là bốn cột chính nối kết lại bằng trính và đà có độ dài bằng nhau tạo ra một thể vuông vức; và đầu 4 cột này các kèo đấm và kèo quyết tỏa đều ra bốn phía để đến với các hàng cột hàng 2, hàng 3 bố trí theo chu vi một hình vuông thứ hai và hình vuông thứ 3 đồng tâm với hình vuông giữa tạo bởi 4 cột cái/ tứ trụ (sẽ nói rõ ở phần sau).

Kết cấu kiến trúc chính của đình đa phần đều bố trí các nếp nhà theo sắp đọi: hoặc chữ nhị (=), hoặc chữ tam (º), thẳng hoặc là nối các nếp nhà song song ấy bằng nhà cầu để tạo ra thức chữ công (I) và việc xây dựng các nếp nhà phụ dùng cho nhu cầu thực dụng: dọn cỗ bày tiệc hay nấu nướng, nói chung là tùy theo từng cuộc đất và không theo một nguyên tắc nào, nhưng luôn là dựng ở phía sau hoặc hai bên hông các nếp nhà thờ tự. (Kiểu nhà tứ trụ bắt buộc cho kiến trúc chính điện, song có nơi là cho cả chính điện nhà hậu). Việc nối kết các nếp nhà song song theo thức sắp đọi nói trên có khi là liên tiếp nhau gọi là “trùng thềm trùng lương” (hay trùng thềm điệp ốc) và có khi có một nếp “thảo bạc” làm “nhà cầu” nối liền các nếp nhà chính. Một cách khá phổ biến, thảo bạc cũng được ghép vào trước hiên chính điện để tạo thành một nếp nhà dài gọi là tiền điện/ tiền sảnh để bày trống, mõ và hương án Hội đồng ngoại và tăng phần không gian cho nơi thực hành nghi lễ cúng tế - gọi là Bái đường. Mái trước của tiền điện được sử dụng như cái bè trước với hàng cột gạch bề thế đẩy không gian nội thất vào sâu, tạo nên không khí thâm nghiêm cho khu vực thờ tự bên trong.

Thật ra, phần chính điện thường chỉ chiếm 2/3 phần trước của nếp nhà tứ trụ; và vách tường ngăn cách với phía sau thường được xây ngang qua dãy hai cột nhứt hậu hoặc lõm vào ô giữa hai cột giữa hàng hai hậu: nơi đó đặt khán hay xây hương án thờ thần. Phần còn lại, phía sau vách khán thờ thần là nơi thiết lập bàn thờ tiên sư (ở giữa đâu lưng với khán thờ thần) và hai bên là bệ thờ Tiền hiền - Hậu hiền (hay tiền vãng - hậu vãng hay Tiền bối - Hậu bối, hoặc Hương chức lịch đại quá vãng...).

 Nếp nhà hậu bắt đầu từ đây, hay nối thêm với một dãy nhà “thảo bạc” - thường gọi là nhà cầu. Nhà hậu còn gọi là vô qui (nhà khách) thường không xây vách mà để trống thoáng đãng. Đó là nơi qui tụ dân làng đến dự lễ hoặc họp hội (khi có việc cần thảo luận) và cũng là nơi sửa soạn lễ vật, dọn tiệc... Sau chót là nhà trù (nhà bếp, nhà khói). Nói chung, bố cục các nếp nhà theo trục dọc như vậy là “nguyên tắc”; còn trong thực tế, nhà hậu (nhà khách), nhà trù được bố trí khá tự do: hoặc liền sau nếp nhà tứ trụ như nói trên hoặc cách xa ra một khoảng, hoặc ở bên phải hay bên trái đình - đối xứng hay không đối xứng theo trục, đều được chấp nhận.

Phía trước nếp nhà tứ trụ - tiền đường, trước sân đình là võ ca, hiểu là nhà hát: nơi diễn hát bội cúng thần và thực hiện nghi thức xây chầu - đại bội vào dịp lễ kỳ yên. Loại “rạp hát” kiên cố như vậy không phổ biến nhiều ở đình làng Đồng Nai, chừng 10 phần trăm và đa phần thì dựng rạp tạm, hết lễ thì dỡ. Võ ca thường chia làm sàn diễn buồng hát (hậu trường: nơi hóa trang, sửa soạn cho cuộc diễn) và rất hiếm là có “khán phòng” bày biện ghế ngồi cho người xem, chỗ cho hương chức, người cầm chầu như một số đình lớn.

Ở các sân đình, ngoài võ ca là một tập hợp các kiến trúc tín ngưỡng phối tự của đình:

 - Bình phong - trụ biểu đặt ngoài cùng ngay chính giữa trục dọc của nhà tứ trụ. Bình phong đắp nổi hay vẽ cọp vàng, rồng và phụng, hay Long mã phụ đồ. Hai bên bình phong là trụ biểu: dạng trụ đăng hay trụ búp sen, trụ thủ quyển (hai trụ là 2 cuộn giấy đứng, bình phong là tờ giấy căng ra từ cuộn giấy đó).

 - Phía trong bình phong, có thể là đàn Thần Nông; có nơi đắp 2 bên đối xứng nhau: một đàn Thần Nông, một đàn xã tắc; hoặc một đàn Thần Nông và một đàn thờ Bạch Hổ.

 - Dọc 2 bên sân là miễu thờ thần linh dân gian. Đối tượng thờ trong miễu không nhất định mà tùy theo từng đình. Có nơi một bên là miễu thờ Năm Bà Ngũ Hành, và bên đối diện thờ Chúa Sơn quân (cọp); có nơi là Thiên Phủ, Chúa lồi - Chúa Sắt, Chúa Xứ, Cô - Cậu và đối diện là Thổ thần hoặc Bạch Mã Thái giám...

Nói chung, bố cục các đàn miếu này trên nguyên tắc là bố cục đối xứng theo trục dọc. Tuy nhiên, trong thực tế thì đổi thay không dừng, thậm chí một số nơi đàn miếu được bố trí rất tùy tiện, hoặc thuận tiện theo địa hình, địa vật của khuôn viên của đình. Nói chung, kể từ cuối thế kỷ XIX, trong chế độ thuộc địa, đình bị mất chỗ dựa thế quyền sản sinh ra nó nên nỗ lực bảo lưu phong hóa, trong đó có đình và lễ hội đình, tuy có được tiếp tục; song qui cũ chính thống bị phai lạt và nếu có được tuân thủ thì cũng chỉ sự bảo thủ tự phát - tức không theo qui tắc nào. Điều đó đã giải thích đặc điểm pha tạp trong kiến trúc đình, chùa hiện tồn ở Đồng Nai, những kiến trúc đa phần là tái thiết hoặc trùng tu hồi đầu thế kỷ XX và một số ít hơn là cuối thế kỷ XIX.

IV.1.3. Đồng Nai là vùng đất Phật giáo du nhập sớm của Nam bộ. Các ngôi chùa làng trở thành một thành tố trong cơ cấu văn hóa - tín ngưỡng truyền thống thôn làng bên cạnh đình, miễu, võ; nhưng đến nay không biết rõ chính xác được niên đại xây dựng của các ngôi chùa làng như vậy vì chúng thường làm bằng vật liệu thô sơ đến nay đã nhiều lần tái thiết và mặt khác, lịch sử truyền thừa cũng không rõ ràng hoặc đứt đoạn nên không có cơ sở để truy cứu. Tư liệu thư tịch chỉ cho vài ngôi chùa lớn ít ỏi. Sự thiếu sót của các tác giả Gia Định Thành thông chí đã tạo ra những lỗ hổng khiến cho việc nghiên cứu về lịch sử Phật giáo cũng như lịch sử kiến trúc chùa chiền ở Đồng Nai gặp phải nhiều ẩn số không dễ giải đáp. Chẳng hạn câu hỏi “Ngôi chùa nào được xây dựng đầu tiên ở Biên Hòa?” cũng có nhiều lời giải đáp khác nhau và cách giải đáp cũng chỉ dựa trên những cứ liệu không chắc chắn và sự đoán định.

a) Căn cứ vào tài liệu thư tịch thì chùa Sắc tứ Hộ Quốc quan tự được Nguyễn Cửu Vân xây dựng vào đầu thế kỷ XVIII theo Đại Nam liệt truyện tiền biên năm 1705, Vân được chúa Nguyễn cử làm Chánh Thống suất quân thủy bộ Gia Định và đến năm 1715 thăng làm Phó tướng dinh Trấn Biên. Như vậy, có lẽ ông đã lập chùa vào những năm sau 1715. Đây là một trong hai ngôi chùa được tác giả Gia Định Thành thông chí nhắc đến.

Ngôi chùa kia là chùa Bửu Phong trên núi Bửu Phong (nay là chùa Bửu Long) mà thuở ấy được xưng tụng là “đệ nhất thắng cảnh của trấn thành” Biên Hòa. Theo Đại Nam nhất thống chí thì do “khi xưa có sư tăng hiệu là Bửu Phong Hòa thượng lập chùa trên núi nên gọi tên núi là Bửu Phong”. Đây là kiến giải mà tác giả Gia Định Thành thông chí không đề cập tới và như vậy cũng chưa lấy gì làm bằng cứ xác thực vì Bửu Phong có nghĩa là “Đỉnh núi báu”, có thể hiểu đây là sự định danh có tính chất tôn vinh mà thôi. Mặt khác cứ theo mô tả trong sách Gia Định Thành thông chí Đại Nam nhất thống chí thì thành tố danh thắng chiếm tỉ trọng lớn hơn thành tố danh lam; tức nơi đây được chú ý vì cảnh đẹp hơn là kiến trúc ngôi chùa. Về niên đại lập chùa, có tài liệu khẳng định là đầu thế kỷ XVII, nhưng điều đó cũng không lấy gì làm bằng cứ. Ở vùng núi này, ngoài Bửu Phong còn có chùa Long Ẩn do Thiền sư Pháp Thông - Phước Hỉ thuộc tông phái Tào Động, đời 36, khai tạo vào năm Quí sửu (1733 hoặc 1793) (1). Thời điểm này có thể coi cái mốc để đoán định về niên đại khai sơn chùa Bửu Phong: có lẽ được lập trước đó.

Một hệ thống chùa khác có liên hệ đến lịch sử hoằng hóa của tông phái Lâm Tế/ tổ Nguyên Thiều là chùa Kim Cang và chùa Đại giác... Căn cứ vào “phát hiện” bảo tháp tổ Nguyên Thiều và tháp Phổ Đồng ở chùa Kim Cang (ấp Bình Thảo, xã Bình Phước), Nguyễn Hiền Đức cho rằng: “Trong khoảng thời gian 1694 - 1695, có thể Tổ sư của Nguyên Thiều đã từ chùa Hà Trung vào Đồng Nai lập chùa Kim Cang và viên tịch ở chùa Kim Cang ngày 19 - 10 năm Mậu Thân (1728), đồ chúng lập tháp thờ vào năm Kỷ Dậu (1729)” (2). Đây là giả thiết và nếu “có thể” thì chùa Kim Cang hẳn là một ngôi chùa Tổ Đình của dòng phái Lâm tế ở phương Nam.

Đệ tử của Tổ Nguyên Thiều là Thành Đẳng - Minh Lượng (1686 - 1769) là vị trụ trì đầu tiên được nhắc đến của chùa Đại Giác. Nói cách khác, chùa Đại Giác được khai sơn truớc 1769. Mặt khác, căn cứ vào việc thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc - đệ tử của Thành Đẳng Minh Lượng - khai sơn chùa Từ Ân ở Gia Định năm 1744, và năm 1769, trở về kế tục thầy làm trụ trì chùa Đại Giác nên có thể suy đoán là chùa Đại Giác có trước 1744 (3). Chùa Đại Giác là ngôi chùa gốc, đào tạo nhiều cao tăng và từ đó, tỏa xuống hoằng hóa và thành lập nhiều chùa chiền khác ở Gia Định. Trong những năm cuối thế kỷ XVIII, công chúa Ngọc Anh - chị của vua Minh Mạng, đã đến tu ở chùa Đại Giác. Do đó, khi Gia Long lên ngôi đã ban lệnh cho quan ở Trấn Biên Hòa tái thiết chùa và dâng cúng pho tượng A Di Dà bằng gỗ rất lớn. Đến nay, chùa Đại Giác hiện tồn là kiến trúc của những năm 1958 - 1960; tuy vậy, pho tượng A Di Dà cổ vẫn còn và chùa còn tấm biển “Đại Giác tự” do công chúa Ngọc Anh tặng vào năm 1820 (4).

Một ngôi chùa tư nổi tiếng của xứ Đồng Nai về sau cũng thuộc vào hệ thống Đại Giác là chùa Chúc Đảo (Chúc Thọ) tục danh là “Chùa Thủ Huồng”. Căn cứ vào việc Thủ Huồng làm ngôi Nhà Bè ở ngã ba sông Tam Giang bị Tây Sơn phá bỏ khoảng 1776 - 1788, đoán định rằng Thủ Huồng sống vào khoảng cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII. Theo đó, chùa Thủ Huồng có lẽ được khai tạo khoảng đầu thế kỷ XVIII. Mặt khác, do công đức từ thiện, theo truyền thuyết, Thủ Huồng đầu thai làm vua Đạo Quang (Trung Quốc) và ông vua này khi làm vua (1821 - 1851) có gởi cúng cho chùa bộ tượng Di Đà Tam tôn (nay vẫn còn). Chi tiết này cũng khá phù hợp với thời điểm đoán định trên.

Một hệ thống chùa khác thuộc hệ thống Châu Thới. Chùa Châu Thới (nay thuộc tỉnh Bình Dương) do Hòa thượng Thành Nhạc - Ẩn Sơn (? - 1776) - một trong các đệ tử của tổ Nguyên Thiều - Siêu Bạch. Lâm Tế đời thứ 34 Tục truyền, Hòa thượng Thành Nhạc - Ẩn Sơn thường xuống Bến Ngựa (sông Đồng Nai) để tắm. Do vậy, sau này, các đệ tử của Hòa thượng mới lập ra Chùa Long Thiền (xã Bửu Hòa). Thành Nhạc Ẩn Sơn viên tịch năm 1776 ở chùa Châu Thới, các đệ tử lập tháp an táng gần chùa, sau tháp đổ nên các đệ tử lại lập tháp mới ở Long Thiền để thờ vọng. Như vậy, chùa Long Thiền sau thời điểm 1776. Cũng có lời truyền khẩu cho rằng, Tổ Kim - Từ Chơn, Lâm Tế đời 36 (pháp tôn của Hòa Thượng Thành Nhạc) ngồi thiền trên bàn thạch ở núi Châu Thới, hướng mặt về Long Thiền mà an nhiên thường tịch; do đó, về sau, các đệ tử lập chùa Long Thiền. Nói cách khác, chùa Long Thiền được lập và niên đại muộn hơn thời điểm nói trên hai thế thứ. Nói chung, từ Hòa thượng Thành Nhạc đến mãi sau này, các thế hệ tăng chúng đều tiếp tục lập các chùa mới ở các thôn làng ở Biên Hòa - thậm chí tận Thủ Đức.

Nói chung, các cổ tự nổi tiếng ở Đồng Nai được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII là sớm nhất. Cứ liệu tương đối chính xác chỉ có mỗi chùa Hộ Quốc: sau 1715; còn các cổ tự khác chưa có thể xác định chắc chắn; và mặt khác, các ngôi chùa làng có qui mô nhỏ bé không được sách vở nhắc đến, nhưng cũng có thể có những ngôi chùa được xây dựng từ buổi đầu khẩn hoang. Thoạt tiên, những ngôi chùa làng được xây dựng đơn sơ như một thành tố của thiết chế văn hóa - tín ngưỡng của thôn làng truyền thống: đình - chùa - miễu - võ; rồi dân làng mời chư tăng về làm trụ trì và sau đó, lại trùng tu hay tái thiết thành ngôi chùa có qui mô lớn hơn, kiến trúc kiên cố hơn. theo đó, ngôi chùa làng thuộc vào hệ thống chùa thuộc một tổ đình nào đó, tùy theo dòng phái truyền thừa của vị sư được dân làng thỉnh về làm trụ trì. Đó là trường hợp của nhiều ngôi chùa làng ở Đồng Nai.

Đến nay, trong thực tế những ngôi chùa làng ấy còn bảo lưu kiểu thức kiến trúc cổ nhiều hơn so với các chùa lớn, các danh lam cổ tự ở Đồng Nai, đa phần đều tái thiết mới; dấu tích kiến trúc xưa cũ hầu như đã thay đổi hoàn toàn. Tuy nhiên, cũng có chùa tuy làm bằng vật liệu mới (bê tông cốt sắt) những cũng bảo lưu kết cấu cơ bản của kiến trúc chính điện truyền thống: kiểu nhà tứ trụ.

c) Đặc điểm phổ biến của kiến trúc thờ tự - bao gồm đình, chùa, miễu, võ ở Đồng Nai và rộng hơn là ở Nam bộ phân biệt rõ rệt với kiến trúc dân dụng là ngôi nhà tứ trụ. Nói cách khác, nhà tứ trụ là kiến trúc để thờ thần, thờ Phật và không một ai cả gan làm một ngôi nhà theo kiểu nhà tứ trụ để ở. Tại sao lại có điều kiêng kỵ này? Đây là câu hỏi mà ở bài này, chúng tôi thử tìm cách giải đáp.

Kiểu nhà tứ trụ là kiểu kiến trúc nhà rường (còn gọi là nhà xiên - trính/xuyên trếnh) - một trong hai kiểu kết cấu phổ biến của nhà tứ trụ và nhà rường dân dụng là bốn cây cột cái bố trí cách đều nhau ở bốn góc một diện tích hình vuông, và từ 4 cột cái đó, các kèo đấm và kèo quyết đưa đều ra 4 hướng tạo thành một ngôi nhà vuông vức. Nhà tứ trụ khác nhà rường dân dụng là ở chỗ gian trung tâm hình vuông thay vì hình chữ nhật; và như thế không gian nội thất được mở rộng đều ra bốn phía và xác lập một không gian trung tâm - hiểu là ở giữa và quan trọng nhất, vuông vắn và không thiên lệch về kích cỡ cho bốn phương, tám hướng.

d) Vấn đề tiếp theo là tại sao không gian vuông vắn ấy được coi là thiêng, dành cho việc thờ tự thần Phật?

Một cách trực quan, rất dễ nhận ra đó là kiểu thức của một ngôi tháp. Nhiều nhà nghiên cứu đã giải lý từ “chùa chiền” của tiếng Việt bắt nguồn từ âm của từ ngữ Stupa và Caitya.

Stupa (Sanscrit) hay Dagoba (Pali) dịch âm hán là phù đồ, tháp... nguyên nghĩa là gò, đống, ụ đất cao và tháp đài để chứa đựng hài cốt người chết, đặc biệt là xá lợi của Phật.

Caitya cũng có nghĩa gần như Stupa, tức cũng là nơi để hài cốt, xá lợi nhưng lại hàm nghĩa rộng hơn: là nơi để kinh tạng, ảnh tượng - hiểu là nơi thờ, chùa, miếu (1).

Nói chung Stupa/ Caitya du nhập vào xứ ta gọi chung chung là chùa chiền hay gọi nghiêm túc hơn là chùa tháp với sự phân biệt chùa khác với tháp mặc dù đều nằm trong tổng thể một cụm kiến trúc Phật giáo - gọi chung là chùa. Rồi trong tiến trình lịch sử chùa là kiến trúc có nhiều canh cải và ngày càng biến đổi khác xa với kiểu thức của stupa/ caitya nguyên thể. Và trong sự tiến hóa đó, ngôi nhà tứ trụ là kiểu thức kiến trúc thờ tự còn bảo lưu được những đặc trưng cơ bản của Stupa/Caitya - kiến trúc thờ tự truyền thống của Phật giáo mà ngày nay có thể tìm thấy ở các di tích cổ của Phật giáo ở khắp châu Á - đặc biệt nhất là tháp Sãn chi (thế kỷ I trước Công Nguyên - thế kỷ V sau Công Nguyên, ở Madya Pradesh/ Ấn Độ). Nói cách khác, việc sử dụng kiểu nhà tứ trụ để làm chánh điện thờ Phật như một chuẩn tắc phổ biến và duy trì mãi đến nay (trong một số chùa mới làm bằng bê tông cốt sắt) có thể được coi là sự bảo lưu truyền thống kiến trúc Stupa/Caitya; và mặt khác, việc chọn kiểu như tứ trụ để làm đình, miếu, võ để thờ tự các thần linh khác ở Nam bộ là chứng tích chỉ ra sự ảnh hưởng của kiến trúc Phật giáo đối với kiến trúc miếu vũ của các tín ngưỡng dân gian và truyền thống khác ở mảnh đất này. Đó là một ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa phương Nam (hay rộng hơn là Đàng Trong).

 Về kiểu nhà tứ trụ, có ý kiến cho rằng đó là kiểu thức kiến trúc bắt nguồn từ dịch lý gọi là nhà tứ tượng: thái âm - thiếu dương - thái dương - thiếu âm. Đây là kiến giải tư biện pha chút màu sắc phong thủy và quan niệm định vị ngũ phương theo thuyết ngũ hành mà thế nhân đời sau, do ảnh hưởng của đạo gia/ nho gia, đề xuất ra.

d.1) Trở lại ngôi chính điện của chùa Phật ở Nam bộ để quan sát, thấy rằng việc thiết lập Đại hùng bửu điện ở khu trung tâm ngôi nhà tứ trụ và cách bài trí tượng thờ ở bửu điện là sự tái lập có tính chất tượng trưng ngọn núi Tu Di - Một ngọn núi trung tâm của thế giới, theo vũ trụ luận Phật giáo. Theo đó, bốn hướng của Tu Di là 4 cõi: 1) Bắc Cu lư châu/ Uhara - kuru; 2) Nam Thiện Bộ châu/ Jambhuoipa; 3) Tây Ngưu hóa châu/ Godana; và Đông Thắng thần châu Purva - Videha. Bốn cõi ấy bao quanh núi Tu Di có bốn vị Thiên vương (Tứ Đại Thiên vương) thống quản: 1)Trì Quốc Thiên vương/ Dhrtarastra, 2) Quảng Mục Thiên vương/ Virùpàka, 3) Tăng trưởng Thiên vương/ Virùdhaka) và 4) Đa Văn Thiên vương/ Dhanada. Theo Phật thoại, Phật Bổn sư Thích Ca đã có ngự đến núi Tu Di để thuyết pháp và bốn vị Tứ Thiên vương cùng với Chư Phật, Bồ Tát, Long Thần Hộ pháp... đều đến nghe pháp và rất hoan hỉ, nguyện hỗ trợ Phật pháp với các bậc tu hành. Đây là một trong những căn cứ để từ đó biện sự bài trí Phật điện cũng như kiểu thức kiến trúc chính điện của chùa. Mô hình tượng trưng như vậy rất dễ nhận thấy ở các chùa Nam bộ mà đặc biệt là chính điện chùa Giác Viên với các tượng Tứ Đại Thiên vương được đặt ở 4 góc trên trính của gian trung tâm nếp nhà tứ trụ. Nói cách khác, ngôi chính điện tứ trụ, trong chừng mực nhất định được coi là hình ảnh tượng trưng cho núi Tu Di và Phật điện là ảnh tượng tái hiện cuộc pháp hội lớn đã từng diễn ra ở đó.

Tất nhiên, điều này cũng bị tác động bởi ở những quan niệm khác mà rõ rệt nhất là sự kết hợp với các thành tố khác nhằm biểu thị của một đàn tràng (Man đà la/Mandâra: linh phù, đàn, đạo tràng).

Man đà la, theo cách hiểu trực quan và đơn giản, là một đồ án (diagram) hay một sơ đồ biểu hiện về thế giới/ vũ trụ. Nó được căn cứ vào đó để tạo dựng một điện thờ tròn hay vuông, nhiều lớp đồng tâm. Ở đó, đặt tượng Phật, Bồ Tát thành nhóm, hay nhiều nhóm.

Bôrôbudun (Inđônêxia) là một kiến trúc tiêu biểu. Nó vừa là một Caitya (Chandi/ tháp) vừa là một đàn tràng mà tất cả tượng và tranh khắc/ vẽ điều hướng về trung tâm; hay nói cách khác, Bôrôbudun là những cụm kiến trúc - nghệ thuật hướng ra 4 hướng (và cái tâm trống rỗng). Theo Mật giáo/ chơn ngôn tông, Man đà la là một tập hợp những thế lực linh thiêng đủ loại có khả năng bảo hộ nhà cửa, tịnh thất... Còn đàn, hay đạo tràng, theo quan niệm thông thường được coi là chỗ tu hành (một cuộc đất, một chỗ ngồi) nơi ấy người tu học dùng thiền - định mà thâu nhiếp sự linh thiêng của chư Phật, chư Thánh, chư Tiên, chư Thần bảo hộ cho nơi ấy. Như vậy sự kết hợp giữa một Stupa (hay Caitya) và Man đà la đã mở ra khả năng dung nạp nhiều đối tượng thờ tự vào ngôi chính điện và ngôi nhà tứ trụ ấy cũng được phân bố mặt bằng ra những khu vực thờ tự riêng, bao quanh bửu điện/ Tu di sơn.

Nói chung, kiểu nhà tứ trụ đã tích hợp những nguyên lý khác nhau để tạo nên ngôi chính điện có tính chất vừa khế lý vừa khế cơ. Đó là đặc trưng đáng chú ý của bộ phận chính yếu trong tổng thể chùa Đồng Nai, chùa Nam bộ nói chung.

Chùa Đồng Nai, ngoài chính điện còn có giảng đường, nhà trù (thêm vào mới là các dãy tăng phòng và các kiến trúc phụ dùng cho mục đích sinh hoạt). Có phần khác với các cổ tự ở Gia Định, chùa Đồng Nai hiếm thấy sự liên lập hai nếp nhà tứ trụ theo kiểu “trùng thềm điệp ốc” (hay còn gọi là “trùng thềm trùng lương”) mà nếp nhà tứ trụ sau thường dùng làm giảng đường. Ở đây, nếp nhà sau liên lập phổ biến là căn nhà rường (hay rội) ba gian hai chái; một số trường hợp, giữa hai nếp nhà sau liên lập là dãy nhà cầu, nối kết chính điện và giảng đường.

Sự bảo lưu kiểu thức nhà tứ trụ ở Đồng Nai coi ra khá dai dẳng, nhưng ngược lại việc gia cố mặt tiền chính điện thành một “bình phong mặt dựng” lại phổ biến kể từ đầu thế kỷ này. Chùa Bửu Phong, chùa Long Thiền là những ví dụ.

Mặt khác, trong các chùa mới trùng tu hay tái thiết trong những năm 1950 - 1970, lại thì tạo dựng ở mặt tiền, hai “lầu chuông” và “lầu trống” ở hai bên. Điều đó cho thấy ít nhiều xu hướng chọn kiểu chùa Huế làm mẫu. Ảnh hưởng Huế càng thể hiện ở dải bờ nóc lớn bảng đắp gắn rồng phụng bằng viền hở hay khép sành kiểu bờ nóc và bờ dải theo kiểu chùa và cung điện Huế như vậy dường như được đưa vào Đồng Nai bởi nghệ nhân gốm của trường Mỹ nghệ Biên Hòa mà chứng tích là các bờ nóc gốm men màu ở Nhà trưng bày sản phẩm của trường này và ở chùa Long Phước (Cù Lao Phố). Nói chung, trong việc trùng tu và tái thiết chùa cổ ở Đồng Nai trong nửa đầu thế kỷ này phần lớn vẫn còn bảo thủ lối kiến trúc truyền thống và sự canh cải vẫn còn giới hạn trong kiểu cách của kiến trúc Huế. Một kiểu thức kiến trúc chùa mới mẻ đáng chú ý là chùa Một Cột, Bửu Sơn tự. Đây là ngôi chùa cổ, được sách Đại Nam nhất thống chí ghi nhận “cũng là một danh thắng” không rõ kiến trúc cũ như thế nào nhưng đến năm 1937 thì bị hư hỏng nặng. Phật tử góp công của xây lại một ngôi chùa với một số cột lớn chính giữa và từ đầu cột tỏa ra tám hướng những cây kèo cấu thành một ngôi chùa bát giác với ba cấp mái như một ngôi tháp ba tầng. Ngôi chùa Một Cột này là một kiểu thức kiến trúc chùa mới mẻ có thể coi là phát kiến đầu tiên mà sau này, là “mẫu” của các tịnh xá của hệ phái Ni bộ khất sĩ được xây dựng khắp Nam Trung.

Nếu chùa Một Cột, Bửu Sơn tự là kiểu thức kiến trúc chính điện có nhiều sáng tạo thì những ngôi chùa mới trong những thập niên gần đây là những kiến trúc tích hợp những kiểu thức đa tạp và chưa có ngôi chùa nào đáng được coi là mẫu mực tiêu biểu cho kiến trúc chùa thời hiện đại.

IV.1. 4. Kiến trúc miễu ở thôn làng của người Việt ở Đồng Nai nói chung là không có kiểu thức định hình mẫu mực thống nhất. Ngược lại, theo một vài ngôi nhà võ (thường gọi là “Dỏ”) còn tồn tại, thấy rằng đó là một ngôi nhà vuông theo kiểu nhà tứ trụ mà đã đề cập trên đây. Có điều võ khác với đình chùa là nó chỉ có một ngôi nhà tứ trụ duy nhất mà không có kiến trúc phụ nào khác. Ngôi nhà võ ở chợ Phước Thiền là di tích tiêu biểu của kiến trúc nhà võ truyền thống. Đây là một cơ sở công ích (trụ sở của xóm ấp, điếm canh của đinh tráng) vừa là nơi thờ Tiên Sư (hiểu là tổ nghề/ bậc thầy đời trước). Do đó, ở đây luôn có trang khám thờ trên “rầm cao” và bên dưới có “rầm hạ” (sạp) để đinh tráng canh gác làm chỗ ngủ nghỉ, hay tụ hội tiệc tùng theo lệ cúng Tiên Sư hàng năm.

Nói chung, kiểu nhà tứ trụ là kiểu thức chung cho kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo của người Việt ở Đồng Nai. Các miếu/ tự của người Hoa thì không tuân thủ kiểu thức vuông vắn này mà theo kiểu thức riêng. Miếu Quan Đế và Miếu Tổ Sư (Bửu Hòa) là hai kiến trúc tiêu biểu.

a) Miếu Quan Đế mà ngày nay có tên chữ là Thất phủ cổ miếu, tục gọi là “chùa Ông Cù Lao Phố” là một cơ sở văn hóa - tín ngưỡng được xây dựng sớm và có qui mô lớn. Theo Gia Định Thành thông chí thì đây là một “miếu điện nguy nga, có đắp tượng cao hơn một trượng, phía sau là quán Quan Âm, ngoài bao tường gạch, có con lân đá ngồi bốn góc, cùng với Hội quán Phước Châu đầu phía Tây đường lớn và Hội quán Quảng Đông là 3 cái đền lớn. Từ khi có loạn Tây Sơn hai đền kia đều bị hủy bỏ, duy miếu này là công cộng bản phố riêng được bảo tồn. Nhưng đến mùa thu năm Ất Vị, ở Trấn Biên có lụt lớn, tượng bị ngâm rã, còn rường cột, mái ngói nhiều chỗ mục nát. Năm Đinh Sửu (1817) niên hiệu Gia Long 16, người làng hội họp bàn định trùng tu mời tôi (tức Trịnh Hoài Đức) làm chủ việc ấy vì tôi là người sở tại nơi miếu cũ (...) Nên tôi quyết chí kêu gọi chúng nhân hợp tác làm lại miếu mới, đắp lại pho tượng, sửa sang đồ thờ, nay cũng tạm được gọi là đầy đủ” (1). Theo ghi chép này, thấy rằng miếu Quan Đế là một cơ sở tín ngưỡng tồn tại với hai hội quán của người Hoa, nhưng sau những biến cố xảy ra vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, Nông Nại Đại Phố suy tàn, người Hoa đã bỏ đi gần hết, Hội quán cũng tiêu hủy và nổ lực duy trì miếu Quan Đế cũng không đủ vật lực mà trùng tu, phải nhờ đến Trịnh Hoài Đức - một ông quan đương chức, hỗ trợ. Điều cần lưu ý di tích hiện tồn không hẳn là kiến trúc được trùng tu năm “Gia Long 16”. Kết quả điều tra thực tế cho thấy rằng tấm bia đá ghi tên việc đóng góp tiền trùng tu (hay trùng kiến) ghi niên đại “Đồng Trị Mậu Thìn” (1868). Và đây cũng chưa là niên đại trùng tu/ trùng kiến cuối cùng vì trên tấm bia đá đề tên “Thất phủ cổ miếu”, trên bàn đá, trên đỉnh gan... đều ghi niên đại “Quang Tự Mậu Ngọ”, tức 1894. Đây có lẽ là niên đại của di tích hiện tồn. cũng thấy các bao lam ghi niên đại “Trung Hoa dân quốc 57” hay “Trung Hoa dân quốc 58”, tức năm 1967 - 1968; đây là niên đại của những năm trùng tu nhỏ, thêm những phần trang trí cho nội thất (1). Riêng “Quan Âm các”, kiến trúc hai tầng ở sau chính điện được tái thiết năm 1927. Nói tóm lại, ngôi chùa Ông là một di tích gồm những thành tố không đồng nhất về niên đại và theo đó, cũng không thuần nhất về phong cách và kiểu thức kiến trúc nghệ thuật.

Kiểu thức của di tích này là một cụm kiến trúc được bố trí theo kiểu “nội công ngoại quốc” - nếu không kể Quan Âm các tách rời tương đối riêng biệt ở phía sau. Đặc điểm kiến trúc Hoa cũng biểu hiện ở kiểu vì kèo “Chồng rường giá chiêng” và đặc biệt là quần thể tiểu tượng sành cứng men màu của gốm Cây Mai với hai tượng Ông Nhựt - Bà Nguyệt trang trí trên bờ nóc và mái đã tạo nên nghi dung đặc trưng của ngôi chùa Hoa. Thêm vào đó, các thành phần kiến trúc đá, do thợ đá Bửu Long tạo tạc, ở mặt tiền đã tạo nên kiểu thức riêng của kiến trúc Minh Hương này.

Nói chung, xét về mặt lịch sử khai tạo thì Miếu Quan Đế là ngôi “chùa Hoa” sớm nhất ở Nam bộ. Điều này đã làm nên giá trị lịch sử của nó. Mặt khác, di tích này có thể được coi như một tập thành của nhiều loại sản phẩm mỹ thuật, bao gồm các hiện vật điêu khắc gỗ, chạm đá, tượng gốm đất nung và sành men màu Cây Mai, tượng giấy bồi...

b) Tổ Sư miếu là cơ sở tín ngưỡng của những thợ chạm khắc đá người Hẹ ở vùng núi Bửu Phong - Long Sơn (xã Bửu Hòa) mà rồi, gần đây được cải đổi tên là Thiên Hậu cổ miếu. Niên đại di tích hiện tồn là năm 1894.

Vì đây là miếu thờ Tổ của thợ đục chạm đá nên công cuộc xây dựng đều do các thợ đá đóng góp và mặt khác, họ cũng muốn đem tài nghệ của mình để tạo nên một kiến trúc đặc trưng cho nghề nghiệp; do đó, Tổ Sư miếu thật sự là một tập đại thành kiến trúc - nghệ thuật đá: cột, vách, lan can, tường rào đều là đá; các tượng thờ, lư hương các tiểu tượng trang trí đều là sản phẩm điêu khắc đá. Trên bờ nóc là một quần thể tiểu tượng gốm Cây Mai, do lò Bửu Nguyên sản xuất, đã tạo nên cái nghi dung đặc trưng “chùa Hoa” của công trình kiến trúc này. Nói cách khác, mặc dù là một kiến trúc được tạo dựng toàn là “thạch liệu”, nhưng kiểu thức vẫn là kiểu thức chùa Hoa: Hành lang - Tiền điện - Trung điện - Chính điện kết hợp với hai dãy nhà dọc bao quanh tạo nên bố cục hình chữ “khẩu” [ ]. Chính điện, trong cùng bày ba khám thờ: 1) giữa thờ Tam Vị Tổ Sư: chính vị là Thánh Tổ nghề đá được tôn là Thái Tử Thiếu bảo; hai bên là Tiên Sư/ tổ của nghề sắt và nghề mộc. 2) Khám bên tả thờ Quan Thánh đế quân cùng Châu Thương và Quan Bình. (3) Bên hữu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Nói chung, cái độc đáo của ngôi miếu này là ở đây như một biểu hiện của toàn bộ kỹ năng và nghệ thuật của nghề đá Bửu Long. Điều đó đã làm cho ngôi “chùa Bà” này trở thành độc nhất vô nhị ở Đồng Nai và có thể ở cả Nam bộ.

Ngoài miếu Quan Đế và miếu Tổ Sư các kiến trúc Hoa đặc trưng ở Biên Hòa còn có chùa Ông Phước Thiền (tạo dựng năm 1895), công sở Quảng Triệu (1919) và Phụng Sơn tự (1960). Tuy nhiên, các kiến trúc này chỉ có tầm cỡ vừa phải hoặc quá mới mẻ.

Nói chung, kiến trúc truyền thống ở Đồng Nai đã xác lập một cơ cấu khác đầy đủ các kiểu thức. Ở đó ngoài thành lũy, đồn bảo, công thự là đình, chùa, miếu, võ, kiến trúc dân dụng cùng với kiểu thức kiến trúc Hoa. Đến nay phần lớn đã hư hại, nhưng đây đó vẫn còn bảo lưu được những di tích minh chứng cho lịch sử kiến trúc - mỹ thuật đáng chú ý. Bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, Đồng Nai mà trước hết là thành phố Biên Hòa đã xuất hiện các công trình kiến trúc thuộc địa: Tòa Bố (Bureaux de l’In spection 1903.1930 tái thiết như hiện tồn), Tòa án (Tribunal de paix et Compitence Enten de, 1903) Kho bạc, Trường học (Trường nữ tiểu học, Trường Collège, Trường mỹ nghệ Biên Hòa, Trường nữ công gia chánh...) Bệnh viện (xây lớn 1939 - 1940), Câu lạc bộ dưới nước và thư viện (Cercle Mix te Biblio thèque et Club nautique), sân vận động (đầu là sân nhỏ gần thành săn đá, năm 1941 lập sân vận động điền kinh và bóng đá “Strade Z’eane D’Arc”), khu nhà khách (Bunga low), Bến đậu Thủy phi cơ (Hydvo - Avion), rồi Phi trường Biên Hòa, trụ sở Công ty khai thác lâm sản (B.I.F, ở Tân Mai), các cơ sở đồn điền cao su... Nói chung, sau khi chiếm Biên Hòa, giặc Pháp phá thành Biên Hòa được xây vào thời nhà Nguyễn chỉ giữ lại một trong 8 góc thành để làm căn cứ cho bộ binh - dân chúng gọi đây là “thành kèn” (Clairon) hay “thành săn đá” (Soldet)... Bước qua giai đoạn khai thác thuộc địa, cùng với việc xây dựng công sở, các công trình phục vụ công cộng, các công trình kỹ thuật đô thị, các sở giáo dục, y tế... là việc mở mang đường sá, lập cầu, đường sắt, chợ theo sự qui hoạch đô thị kiểu châu Âu và đã làm thay đổi bộ mặt của khu vực trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa - nơi thức kiến trúc châu Âu đã chiếm được phần chủ đạo. Trong thời gian này, kiểu thức truyền thống còn được bảo lưu ở nột vài kiến trúc biểu thị sự kết hợp truyền thống và hiện đại đáng chú ý: Nhà hội Bình Trước, nhà triển lãm sản phẩm của Trường mỹ thuật Biên Hòa. Hai công trình kiến trúc này đánh dấu bước trưởng thành của đội ngũ nghệ nhân được đào tạo từ trường mỹ thuật bản xứ này, đặc biệt là khả năng hiện đại hóa kiến trúc mỹ thuật truyền thống.



(1) Xem Đại Nam nhất thống chí, tập Thượng, tr. 54. Thông thường, từ đời Minh Mạng tên gọi các dịch trạm là ghé chữ đầu của tên gọi tỉnh ấy với chữ đầu tên thôn, nơi đặt dịch trạm.

(2) Khi viết về huyện tự Bình An (đã dẫn trên) lại nói lấy Đông đường của huyện này làm Học xá Huấn đạo.

(1) Qua xem xét gia phả của các tộc họ lớn ở Phú Hội, thật ra những người trước năm 1979 định cư ở đây có cả Huế và Quảng Bình.

(1) Ở Trung Quốc, thần bảo hộ các đơn vị hành chính cơ sở (hương lý,ổ, ấp...) là thần Thổ Địa/ Phước Đức chính thần và trú sở của vị thần này gọi là miếu. Thần Thành Hoàng được hiểu chính danh là thần bảo hộ cho các khu vực có thành lũy (thành) và hào (hoàng) tức ở cấp châu huyện, tỉnh, kinh đô. Và ở hương lý, ổ, ấp không thờ thần Thành hoàng. Mặt khác, ở Trung Quốc, đình là đình trạm: cơ sở công ích chứ không là cơ sở tín ngưỡng. Do vậy, những lưu dân gốc Hoa đến Biên Hòa, với nếp nghĩ đã thành tập quán đó, đã không gọi trú sở của thần bảo hộ thôn/ làng là đình mà gọi là miếu. Do ảnh hưởng đó, đình ởí đây được gọi danh là miếu/ cổ miếu   -   mặc dù khẩu ngữ thông tục hàng ngày vẫn gọi là đình.

(2) Đình Bình Thạch (Bình Sơn), đình Tân Lân (thành phố Biên Hòa) là những ví dụ.

(1) Theo Nguyễn Hiền Đức: Lịch sử Phật giáo Đàng Trong. Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tập II, tr 194. 

(2) Nguyễn Hiền Đức, sđd, tập II, tr 198

(3)  Nguyễn Đức Hiền (sđd, tập II, tr 256) cho rằng chùa Đại Giác có lẽ được xây dựng vào “ hậu bán thế kỷ XVII).

(4)  Xem Đại Nam nhất thống chí, tập thượng, tr 47.

(1) A dictionary of the chinese Bud hist terms. Broasway house xb, London, 1937. Stupa xem các trang 342a, 343a, 359a; Caitya xem các trang 152b, 227b, 250b, 336b, 342a, 444b.

(1) Gia Định Thành thông chí, tập Hạ, Tr.10 

Comments