2.2. Lân và võ lân

* Múa lân: Lân là kỳ thú không có trong thực tế mà sống động trong trí tưởng tượng của dân gian; có nhiều huyền thoại giải thích về nguồn gốc xuất hiện của lân (do linh khí đất trời tụ thành hoặc vốn là thú dữ được con người thuần phục), tuy giải thích nguồn gốc có khác nhau nhưng thảy đều chung quan niệm: Lân là biểu tượng của thái bình, thịnh vượng, may mắn và tấn phát, là một trong “tứ linh” (long, lân, qui, phụng) trong quan niệm cổ truyền; cho nên những ngày vui như lễ hội, Tết Nguyên đán người ta có tục múa lân để vui và cầu mong đạt được những nội dung gắn với biểu tượng lân.

        Nguồn gốc tục múa lân phát sinh từ Trung Quốc, theo chân người Hoa du nhập vào Nam bộ từ thế kỷ XVII, lâu dần hòa nhập vào văn hóa dân gian của người Việt. Đồng Nai - Gia Định là địa bàn xuất hiện tục múa lân khá sớm, cùng thời với công cuộc khai khẩn, lập làng. Người múa lân thường là con nhà võ, có sức khỏe, nhanh nhẹn, lập thành đội nhóm (thường là người trong gia đình, trong họ, xóm), mua sắm đạo cụ, tập luyện bài bản. Con lân gồm đầu lân và thân lân dài ngắn khác nhau, thường khoảng 5 đến 10 mét. Đầu lân làm bằng giấy bồi thể hiện mặt mày dữ tợn: Mắt lồi, răng nhọn, sừng to, râu dài... Thân lân bằng vải, nhiều màu sắc thể hiện vảy cứng, đuôi ngắn. Khi múa, một người nâng đầu lân bằng hai tay thể hiện các động tác xoay, lắc, nâng, hạ, giật, tiến, lùi, điều khiển cho mắt lân chớp mở; một người khom mình nâng giũ đuôi, theo bước tiến, lùi của người nâng đầu; cả hai kết hợp nhịp nhàng, sinh động trông rất đẹp mắt. Trong cuộc múa, không thiếu vai trò của Địa. Một người mang mặt nạ Địa với nụ cười vui tính, bụng độn to, thường mặc áo đỏ, tay cầm quạt mo, thể hiện các động tác dẫn dắt, chọc ghẹo, tranh giành với lân. Địa và lân vui múa trong tiếng trống lân dồn dập, sôi nổi.

        Những ngày Tết, lễ hội; đội lân đi thành đoàn với cờ, phướng, trống, nhạc, võ sinh đồng phục khoảng vài chục người đến múa chào ở gia đình hoặc nơi mở hội, người xem hào hứng có thể thưởng tiền; có cách thưởng tùy tâm, cũng có kiểu thưởng bằng cách thử thách như treo tiền lên cao hoặc đặt tiền vào nơi khó lấy để lân phải ra tài.

        * Võ lân: Kỹ thuật múa lân dựa trên nền tảng võ cổ truyền. Các điệu múa: Lân lạy chào, lân ngủ, lân qua cầu, lân xuất động... đều phải thể hiện bằng trình độ võ thuật nhất định. Các bài múa kỹ thuật: Lân mẫu xuất lân nhi, lân qua cầu ăn cỏ linh chi, mai hoa thung, lân leo cây ... đòi hỏi người múa phải rèn tập điêu luyện, có khả năng leo cột trơn cao hơn 10 mét, xuống ngược đầu, hoặc thực hiện các bước nhảy khó phối hợp giữa hai người, thân thủ đều phải mềm mại, dẻo dai. Gặp trường hợp người ta khen thưởng thử thách phải dùng trình độ để vượt qua, ví dụ: Nhảy thật cao để đoạt tiền, leo nhanh và cao lấy quà, uống hết chậu nước để nhận đồng tiền trong đáy chậu, dùng tay bóp nát quả dừa để lấy tiền thưởng trong đó... Các động tác đều mô phỏng thao tác ăn mồi của lân khéo léo và đẹp mắt. Đẳng cấp của lân được công nhận thông qua trình độ võ thuật - kỹ thuật đạt được qua các điệu múa. Dấu hiệu hình thức có thể nhận ra ở màu râu của lân. Lân râu bạc thuộc trình độ cao nhất, lân râu đen, râu xanh trông thấy phải tránh đường.

        Sau những bài múa lân, thường có biểu diễn võ thuật, gồm nhiều tiết mục tùy hứng hoặc tùy yêu cầu: Biểu diễn quyền cước, song đấu, hỗn đấu (tay không và có binh khí), khí công. Các loại vũ khí cổ truyền như côn, roi, đao, kiếm, chỉa, khiên, kích... đều được sử dụng phô diễn. Nhiều đội lân biểu diễn nhanh lẹ, quyết đấu khiến người xem thích mắt, từ đó mà có cảm tình với đội.

        Trước năm 1975, lân ở Biên Hòa đã nổi tiếng nhưng ít có tài liệu ghi chép cụ thể. Theo lời kể của một số người hiểu biết, đội lân Tân Bình Đường được gia truyền từ lâu đời, những năm 1976 Bầu É phát huy, nổi danh khắp vùng, các bài: Lân qua cầu, lân xuất động, lân uống nước, mai hoa thung... đạt trình độ xuất chúng, thường biểu diễn thành công ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Đội lân của Tám Xiểng ở phường Hòa Bình được lập cũng từ lâu đời, từng biểu diễn ở Thái Lan, Campuchia và đạt nhiều giải thưởng lớn. Các đội lân có truyền thống như: Thạnh Sơn Đường (Bửu Long), Tái Khánh Đường (Hóa An), Việt Hoa Đường (Bình Trước)... được duy trì, phát triển, nổi danh trong vùng.

        Từ năm 1990, hoạt động lân và võ lân được chú ý. Hội lân ra đời gồm 30 thành viên, lần đầu tiên tổ chức hội thi lân năm 1990 tại Biên Hòa, xếp 5 đội loại A (Tân Bình Đường, Tái Khánh Đường, Việt Hoa Đường, Nhân Nghĩa Đường, Thạnh Sơn Đường), 10 đội còn lại loại B. Từ đó hàng năm, các đội lân hội diễn xếp loại một lần dưới sự quản lý của Trung tâm TDTT tỉnh và hướng dẫn nghiệp vụ của Hội lân tỉnh, ngày càng nâng cao về chất lượng và số lượng. Đến năm 1998, có khoảng 50 đội lân ở thành phố Biên Hòa và các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Long Khánh, Vĩnh Cửu, Định Quán, Thống Nhất; nhiều đội lân được khôi phục và nhanh chóng đạt lại thành tích cao như Hiệp Phước Đường của huyện Nhơn Trạch.

Comments