1.1. Thời dựng nghiệp của chính quyền

I.1.1. Năm 1698, khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, đặt dinh Trấn Biên “chiêu mộ dân xiêu tán từ Quảng Bình trở vào cho đến ở, chia đặt thôn ấp, người Thanh trú ngụ cũng biên vào sổ hộ” ([1][1]). Cả một thời gian dài sau đó, nghĩa là sau khi có “bộ máy hành chính” các cấp tại Biên Hòa, dân cư ở dây vẫn còn khá ít ỏi, cuộc sống phần nhiều khó khăn. Đến năm 1776, Lê Quý Đôn cho biết vùng này vẫn còn đầy rẫy rừng rậm. Mặt khác, nguồn nhân lực còn ít ỏi này lại phải lo nuôi tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn và chiến tranh liên tục tàn phá. Do đó, cả một thời gian dài, chí ít đến khi loạn thần Trương Phúc Loan bị diệt (năm 1776), nguồn nhân lực ở cả xứ Đồng Nai - Gia Định không hề được vun đắp. Sau sự kiện này, trước viễn cảnh bị tiêu diệt bởi phong trào nông dân Tây Sơn, các chúa Nguyễn đã chú trọng hơn đến việc phát triển giáo dục ở vùng đất mới nhưng không đáng kể.

I.1.2. Giáo dục và khoa cử dưới thời các chúa Nguyễn không khác gì so với các triều đại phong kiến trước đó. Ở một số mặt, lại không bài bản và quy củ như Đàng Ngoài. Thời này, các chúa Nguyễn không đứng ra lập trường để lo việc học mà chỉ tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài. Việc duyệt tuyển bắt đầu từ năm 1631, thời chúa Hy Tông Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1634) để lấy Nhiêu học. Nhưng mãi đến năm 1674, đời chúa Thần Tông Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648) mới mở khoa thi Chính đồ Hoa văn để lấy Giám sinh, Sinh đồ, Nhiêu học. Các kỳ thi ở thời các chúa Nguyễn về sau, như Văn chức, Tam ty... cũng không có gì khác hơn, chủ yếu vẫn là tuyển chọn những người làm công việc hành chính. Số người đi thi ít và cũng không được ghi chép lại. Lê Quý Đôn nhận xét: Họ Nguyễn trước chuyên giữ một phương chỉ mở thi Hương, song chuyên dùng lại tư, không chuộng văn học, ít thu lượm người tuấn dị. Mỗi khi có khảo thí thì lấy học sinh Hoa văn (thi viết chữ Hán - B.Q.H.) gấp 5 lần Chính đồ và những nơi quan yếu thì uỷ cho họ hàng coi giữ mà cho người đậu vào Hoa văn giúp việc. Người đậu thi Hương, bắt đầu bổ làm tri huyện, chỉ coi việc kiện tụng, thứ nữa là làm ký lục thì giữ việc đòi thu thế khóa, những kế lớn, mưu lớn thì không hỏi han gì đến, còn bọn tiểu học hậu sinh thì cũng không thấy có sự nuôi dạy tác thành ([2][2]). Đã thế, việc tổ chức thi cử không lấy gì làm nghiêm túc. Có kỳ thi như năm Tân Sửu (1721), chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) đã đánh hỏng 77 người trúng cách sau khi tự mình ra đề kiểm tra.

Đó là việc thi cử nói chung ở Đàng Trong, mà chủ yếu là vùng Thuận - Quảng. Thời này, chỉ có một sự kiện đáng lưu ý là việc chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu cho xây dựng văn miếu ở Trấn Biên (sẽ nói rõ hơn ở mục sau).

I.1.3. Giáo dục phong kiến ở vùng Đồng Nai - Gia Định thực sự tiến triển từ khi Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long sau này) xưng Đại nguyên soái, cầm đầu tàn binh chúa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777) tiếp tục chống lại Tây Sơn (Mậu Tuất, 1778). Sau khi chiếm lại vùng Đồng Nai - Gia Định lần thứ nhất (1778), Nguyễn Ánh đã dốc sức tổ chức lại bộ máy cai trị, sắp xếp các khu vực hành chính, điều chỉnh mức thuế điền thổ, khuyến khích phát triển nông nghiệp. Dĩ nhiên, tất cả những việc này đều nhằm mục tiêu duy nhất là tăng cường binh mã để đủ sức chống đỡ những cuộc tấn công như vũ bão của phong trào Tây Sơn. Nhu cầu phục vụ chiến tranh đó càng đòi hỏi đến đội ngũ quan lại nhiều hơn nữa. Vì thế, tập đoàn Nguyễn Ánh ra sức đề cao Nho giáo, trọng dụng và khuyến khích người có học. Năm Mậu Thân (1788), khi vua Quang Trung đang phải dốc toàn lực để chống lại 20 vạn quân Thanh ở phía Bắc, Nguyễn Ánh đã xua quân chiếm lại vùng Đồng Nai - Gia Định lần cuối cùng. Từ đây, Nam bộ hoàn toàn thuộc về nhà Nguyễn. Một trong những việc hàng đầu của Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Trấn Biên và Phiên Trấn là ra lệnh miễn binh dịch và dao dịch cho học trò. Cũng năm đó, Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) và Lê Quang Định - những đại thần của triều Nguyễn sau này, đi thi và được bổ chức Hàn lâm viện chế cáo. Những người có thực tài này đã thăng tiến khá nhanh (Năm sau, Trịnh Hoài Đức được cử tri huyện Tân Bình, rồi thị giảng cho Đông cung thái tử Cảnh...).

Từ đây, Nguyễn Ánh càng ra sức khuyến nông và đề cao Nho giáo hơn nữa. Tháng tư năm Tân Hợi (1791), mở khoa thi, chia làm 2 kỳ. Kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa, truyện nghĩa và thơ. Kỳ đệ nhị thi chiếu, chế, biểu. Khoa này lấy trúng cách được 12 người. Tháng chạp năm Ất Mão (1795), Nguyễn Ánh ra quy chế về thi cử. Đến năm Bính Thìn (1796), khi đại tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu vây khốn Nguyễn Văn Nhân ở thành Diên Khánh, Nguyễn Ánh một mặt phải dốc tất cả quân thủy bộ cứu viện, một mặt vẫn cho mở khoa thi, gồm 3 kỳ. Kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa và thơ. Kỳ đệ nhị thi văn. Kỳ đệ tam thi thơ phú. Khoa này lấy 273 người, trong đó có 14 người trúng tam trường ([3][3]). Chỉ trong vòng 5 năm, giữa 2 kỳ thi, số người lấy đỗ đã tăng gấp 20 lần. Điều này chứng tỏ nhu cầu tuyển dụng quan lại của tập đoàn Nguyễn Ánh, nhưng phần nào phản ánh sự phát triển của việc học ở vùng Đồng Nai - Gia Định.

I.1.4. Bên cạnh sự phát triển của Nho giáo theo con đường chính thống, trước và đồng thời là sự bùng nổ của giáo dục trong dân gian. Nếu như vào năm 1689, toàn phủ Gia Định mới chỉ có 40.000 hộ dân xiêu tán được tập hợp, song vẫn còn ở rải rác thì tới năm 1775, trên địa bàn của 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ đã có khoảng 42.500 đinh, với hơn 1.300 thôn chính thức chịu thuế. Ngoài ra, toàn vùng còn có 45.000 quân, mà chủ yếu là thuộc binh. Riêng dinh Trấn Biên có 9.500 đinh, 320 thôn và 10.320 quân. Từ những năm này, và nhất là từ sau khi Nguyễn Ánh chiếm phủ Gia Định lần cuối cùng (1788), dân cư không chỉ được tập trung, chăm lo sản xuất mà còn được liên tục bổ sung khá nhanh từ miền Thuận - Quảng trở vào. Trong những đoàn người ấy, có nhiều người là nho sĩ hoặc chạy loạn, hoặc muốn hợp tác với Nguyễn Ánh. Dĩ nhiên, họ đem theo cả nền nếp nho phong, học hành vào vùng đất mới. Vì vậy, tuy chính quyền chưa mở trường học, nhưng nhiều trường tư trong dân gian được mọc lên và tất nhiên được không chỉ người dân mà cả chính quyền phong kiến hết sức ủng hộ. Học trò có thể theo học các trường ở huyện, trấn. Muốn tiến xa hơn, theo học trường của nhà nho Võ Trường Toản, người sau này được tôn là “Thái Sơn Bắc Đẩu” của sĩ phu Nam bộ, hay trường của thầy giáo Đặng Đức Thuật nổi danh là “Đặng gia sử phái”... Trường của các danh sư này đông đến hàng trăm học sinh, nhiều người sau này đỗ đạt, thực sự là những nơi đào tạo nhân tài cho cả Nam bộ.

Ở các thôn, làng, việc học thời đó đa dạng hơn. Các trường tư ban đầu được mở ở trung tâm huyện Phước Long, sau là các thôn có đông người Kinh. Số rất ít các thầy giáo là những nhiêu học, vì hầu hết những người đỗ đạt đã được chính quyền trọng dụng. Phần đông họ là người có học từ các phương xa mới đến. Làng nào không có thầy phải lặn lội mời người biết chữ ở nơi khác về dạy. Có nơi, không thành lập trường, thầy giáo được mời đến nhà một người giàu có để dạy trẻ con trong gia đình và vài ba học trò xóm giềng. Thế nhưng, việc học được xem trọng, học trò và phụ huynh hết lòng tôn kính thầy giáo. Ban đầu, các thầy giáo dạy cho học trò Tam tự kinh, Tứ tự kinh... Dần hồi, học Dương tết, Sử thượng, rồi Tứ thư, Ngũ kinh, Thông giám. Thế nhưng, khác với Đàng Ngoài, việc học ở Trấn Biên, cũng như phủ Gia Định thời ấy, không quá bài bản, mà “thực dụng” hơn. Nếu như ở Đàng Ngoài, một học trò, sau sáu năm rèn giũa ở bậc ấu học mới học đến cách làm thơ phú, kinh nghĩa, văn sách thì ở đây, mười tuổi Trịnh Hoài Đức, lưu lạc nhiều nơi mà đã đọc cả kinh sử tử tập, tam giáo cửu lưu (Thơ Trịnh Hoài Đức: Kỳ ư kinh sử tử tập, tam giáo cửu lưu, phàm ngộ đồng văn chi thư tất cầu cánh độc). Sau này, chưa đầy 30 tuổi, các ông Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định đều được cử làm thầy dạy cho Đông cung thái tử Cảnh. Chính một nền giáo dục tự phát, nhưng gấp rút trong nhân dân đã làm cho toàn vùng, theo Trịnh Hoài Đức, chẳng mấy nho sĩ đã “học qua Ngũ kinh, Tứ thư, Thông giám, tinh hiểu nghĩa lý” ([4][4]). Và nhờ thế, dù trước đó, một thời gian dài, việc giáo dục không được chăm sóc, nhưng đúng như lời khen của Lê Quý Đôn: “Văn mạch một phương, dằng dặc không dứt ” ([5][5]).

I.1.5. Ở trên, nói đến sự hình thành nền giáo dục ở Biên Hòa - Đồng Nai buổi ban đầu mà chủ yếu là Nho học. Trong thời gian này, một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của giáo dục là Phật giáo. Từ thế kỷ XVII, trong các đoàn di dân vào Đồng Nai - Gia Định, nhiều người là tín đồ Phật giáo, các sư sãi ([6][6]). Họ xây cất chùa, am ở những vùng nay thuộc thành phố Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu, Bà Rịa... Buổi đầu, ở Biên Hòa, cũng như Đàng Trong, Phật giáo chẳng những không bị ngăn cản mà còn được khuyến khích phát triển. Nhiều vị chúa Nguyễn tôn sùng đạo Phật, đã sắc tứ các chùa, sắc phong cho các nhà sư có uy tín. Còn những nho sĩ thì không chỉ thông thạo kinh Dịch mà còn ưa thích cả kinh Phật. Nhiều người trong số họ đã nương nhờ và học hành ở cửa Phật trước khi xuất hành. Trong một bài thơ, Trịnh Hoài Đức kể chuyện của mình khi nhỏ:

Ức tích thái bình thì

Lộc Động phương thịnh mỹ

Thích Ca giáo hưng sùng

Lâm ngoại tổ phú quý

Ngã vi thiêu hương đồng

Sư tác trì giới sĩ

Tuy ngoại phân thanh hoàng

Nhược mặc khế tâm chí.

(Nhớ thuở thái bình xưa / Đồng Nai vừa thịnh mỹ / Đạo Thích được tôn sùng / Nhà ngoại còn phú quý / Ta làm trẻ dâng hương / Sư là người giữ giới / Áo tuy chia xanh vàng / Lòng vẫn chung ý khí) ([7][7]).

Câu chuyện này hẳn không riêng gì Trịnh Hoài Đức. Vì thế, có người đã nhận định rất đúng rằng thiết chế văn hóa - tư tưởng thời ấy là kiểu “Nho - Thích song hành” ([8][8]).

Thời này, đạo Công giáo cũng đã phát triển ở nhiều nơi thuộc dinh Trấn Biên. Một số vùng truyền giáo quan trọng như: Tân Triều, Phước Lễ, Bến Gỗ, Mỹ Hội... đến cuối thế kỷ XVIII hình thành nên những nhà thờ, xứ đạo lớn. Tất nhiên, sự phát triển này có ảnh hưởng ít nhiều đến giáo dục nhưng đó là việc sau này.



([1][1]) Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tập 5, tr.36. 

([2][2]) Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, 1977, tr. 242   -  243.

([3][3]) Đại Nam thực lục, Nxb. Khoa học xã hội, tập 2, 1963.

([4][4]) Gia Định thành thông chí, Nha văn hóa Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1972, tập hạ, tr.4

([5][5]) Lê Quý Đôn, Sđd, tr.243

([6][6]) Tham khảo các tài liệu: Văn Thanh, Lược khảo sử Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn, 1974; Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1993; Cao Tự Thanh, Nho giáo ở Gia Định, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1996...

([7][7]) Bản dịch của Cao Tự Thanh.

([8][8]) Cao Tự Thanh; sđd; tr.45. 

Comments