1.2. Thời ổn định của Triều Nguyễn (1808 - 1861)

I.2.1. Khi triều Nguyễn được thiết lập (năm 1802), dinh Trấn Biên (năm 1808 được đổi thành trấn Biên Hòa) do có một thời gian trên 10 năm không có chiến tranh, dân cư đã trở nên đông đúc hơn, kinh tế phát triển. Lúc đó, trấn Biên Hòa có 10.600 nhân đinh. Đến năm 1832, khi đổi trấn thành tỉnh, Biên Hòa có 20.841 người và tới thời Tự Đức đã có 12.190 đinh. Và tới khi thực dân Pháp chiếm được Biên Hòa, dân số lúc đó đã là 31.381 người. Như vậy, trong gần 60 năm dưới chính quyền triều Nguyễn, dân số tỉnh Biên Hòa đã tăng bằng 1,5 lần. 60 năm này, trừ 2 năm (1833 - 1834) bị ảnh hưởng bởi cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi, nhìn chung các mặt kinh tế, xã hội ở Biên Hòa đều ổn định và phát triển. Đây là những tiền đề tốt cho giáo dục và khoa cử ở Nam bộ nói chung, Biên Hòa nói riêng được phát triển. Dĩ nhiên, trên từng khía cạnh cụ thể không phải bao giờ cũng đơn giản như vậy.

I.2.2. Như bất kỳ một vương triều nào mới được xác lập, ban đầu, nhu cầu về quan lại của nhà Nguyễn rất lớn. Nhu cầu khách quan ấy khiến các vua đầu triều Nguyễn càng chú trọng đến giáo dục và khoa cử. Vừa mới lên ngôi, Gia Long đã nói với bề tôi: “Khoa cử là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được, phải nên giáo dục thành tài, rồi sau thi Hương, thi Hội lần lượt cử hành, thì người hiền sẽ nối nhau giúp việc” ([1][9]). Cũng năm này, Gia Long cho dời Quốc tử giám từ Thăng Long vào Huế, giao nhiệm vụ khảo khóa học trò và chọn con quan lại, những học trò giỏi để đào tạo thành người có học vấn ra làm quan. Một việc quan trọng hơn, liên quan đến sự phát triển của giáo dục trấn Biên Hòa là năm này, triều đình đã định lại học quy cho lưu trấn Gia Định (tức toàn vùng Nam bộ). Theo đó, mỗi xã được cử ra một người cho miễn lao dịch để dạy học; trẻ em 8 tuổi trở lên thì vào Tiểu học, rồi tới Hiếu kinh, Trung kinh, 12 tuổi trở lên học Tứ thư, 15 tuổi trở lên học Ngũ kinh, kèm Chư tử và sử ([2][10]). Hai năm sau, triều Nguyễn cử Trương Chí Lý, Võ Xuân Biều, Hoàng Công Xuân làm Đốc học và Giáp ất phó đốc học lưu trấn Gia Định, xây học đường Gia Định. Năm 1807, Gia Long xuống chiếu định phép thi Hương, thi Hội. Đến năm 1813, những học trò Biên Hòa có dịp thi thố trong kỳ thi Hương đầu tiên trên toàn quốc dưới triều Nguyễn. Các vị vua tiếp theo, nhất là Minh Mạng và Tự Đức càng chú trọng hơn đến việc học và khoa cử, dần hồi đưa giáo dục và khoa cử đi vào nền nếp, cho dù đó là nền nếp phong kiến chính thống. Chẳng hạn, sau khi đặt chức quan đốc học coi việc học toàn tỉnh, năm 1839, vua Minh Mạng đã cử thêm các quan huấn đạo coi việc học ở các huyện Phước Chánh, Bình An, Long Thành của tỉnh Biên Hòa cùng với một vài tỉnh khác ở Nam bộ. Những việc làm này là nguyên nhân khách quan thứ hai khiến giáo dục Biên Hòa phát triển có tính nhảy vọt như vị đại thần quê Trấn Biên,Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “...Lúc đầu trung hưng (triều Nguyễn) đặt chức đốc học, ban bố học quy, mở khoa thi, lối học cử nghiệp phát khởi, từ đấy lý học cùng văn chương đều thịnh hành tốt đẹp, mà văn phong mới trỗi dậy” ([3][11]). Sau này, Quốc sử quán triều Nguyễn cũng đã đánh giá hết sức tốt đẹp về người Biên Hòa: “Kẻ sĩ chăm học, dân sùng canh cửi, thợ ở phố mà làm việc; buôn tùy đất mà canh tác...” ([4][12]).

“...Lúc đầu trung hưng (triều Nguyễn) đặt chức đốc học, ban bố học quy, mở khoa thi, lối học cử nghiệp phát khởi, từ đấy lý học cùng văn chương đều thịnh hành tốt đẹp, mà văn phong mới trỗi dậy”([5][13]). Sau này, Quốc sử quán triều Nguyễn cũng đã đánh giá hết sức tốt đẹp về người Biên Hòa: “Kẻ sĩ chăm học, dân sùng canh cửi, thợ ở phố mà làm việc; buôn tùy đất mà canh tác...” ([6][14]).

I.2.3. Về hệ thống trường học ở Biên Hòa thời Nguyễn:

Thời Nguyễn, bên cạnh các trường cao cấp đặt tại kinh sư dành riêng cho con cháu của hoàng thân quốc thích như: Quốc tử giám, Tập thiện đường, Tôn học đường, còn có hệ thống trường công lập đặt ở tỉnh, phủ, huyện. Đây là những trường có nhiệm vụ rèn học sinh để đi thi Hương.

Trường học tỉnh Biên Hòa có từ đầu đời Gia Long, đặt ở thôn Tân Lại, huyện Phước Long. Từ đời Minh Mạng, trường tỉnh chuyển về thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, phủ Phước Long. Trường học tỉnh Biên Hòa gồm 1 giảng đường 3 gian 2 chái và 1 nhà vuông 1 gian 2 chái. Nếu so sánh với các tỉnh thuộc Nam bộ thời đó, trường tỉnh Biên Hòa được xây cất cùng thời với trường tỉnh Gia Định (vốn là trường của cả lưu trấn). Còn các trường tỉnh khác (An Giang, Vĩnh Long, Định Tường) đều xây từ thời Minh Mạng (1820 - 1840), hoặc Thiệu Trị (1841 - 1848).

Trường học phủ ở tỉnh Biên Hòa xưa có hai. Một là Trường học phủ Phước Long, ở về phía đông bắc lỵ sở của phủ (thôn Bình Lợi, huyện Phước Chánh). Trường này được xây dựng từ trước năm 1837. Hai là Trường học phủ Phước Tuy, ở phía đông bắc lỵ sở của phủ (thôn Phước Lễ, huyện Phước An). Trường học phủ Phước Tuy được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837). Biên Hòa là tỉnh thứ ba của lục tỉnh (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) thời nhà Nguyễn có 2 trường học phủ. Đến năm 1823, vua Minh Mạng cho đặt các chức giáo quan ở các địa phương đã quy định cả quy cách xây dựng các trường. Theo đó, các trường học phủ gồm 3 gian, 2 chái, được cấp 300 quan tiền để xây dựng.

Về trường học huyện ở tỉnh Biên Hòa xưa đến nay chưa thấy có tài liệu nào ghi chép rõ ràng. Song, nếu so sánh với Trường học huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường được xây năm 1835 (Minh Mạng thứ 16) là trường huyện xây sớm nhất mà Đại Nam nhất thống chí có ghi với việc năm 1839, vua Minh Mạng đặt thêm chức Huấn đạo cho các huyện Phước Chánh, Bình An và Long Thành của tỉnh Biên Hòa thì có lẽ các trường này được xây dựng khoảng từ năm 1825 - 1839. Về quy cách, trường học huyện được xây dựng như trường học phủ, nhưng quy mô và kích thước nhỏ hơn với khoản tiền là 250 quan.

Trong lịch sử của giáo dục thời phong kiến, các trường học ở cấp cơ sở (tổng, xã, thôn, ấp) hoàn toàn do nhân dân tự lo liệu. Dưới thời vua Gia Long có đặt chức tổng giáo để dạy sơ học nhưng tới năm 1824, dưới triều vua Minh Mạng, bộ Lễ tâu rằng các phủ, huyện đã có những quan giáo thụ, huấn đạo nên xin nhà vua bãi bỏ. Trường ở các tổng, thôn của tỉnh Biên Hòa xưa do các thầy đồ, nho sĩ mở như các tỉnh khác. Thế nhưng, do giáo dục ở vùng này có bề dày lịch sử hơn so với một số vùng khác (dĩ nhiên, trừ Gia Định), nên có nhiều trường thu hút đông học trò ở các tỉnh khác đến. Chẳng hạn, nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa quê ở Vĩnh Long đã về Biên Hòa năm 10 tuổi, làm học trò thầy đồ Hoành ở Phước Chánh rồi đi thi Hương đỗ Giải nguyên.

So với thời các chúa Nguyễn, thầy giáo dạy các trường cơ sở (hương học) thời nhà Nguyễn có trình độ cao hơn, mặc dù vẫn có hai loại: những người đỗ đạt và không đỗ đạt. Người đỗ đạt cũng có nhiều loại, từng làm quan rồi nghỉ hưu hay bị cách chức về quê; đỗ đạt nhưng không ra làm quan, lấy nghề dạy học nhằm truyền thụ kiến thức cho lớp trẻ, hoặc làm thú vui, hoặc để nuôi sống gia đình và bản thân. Người không đỗ đạt là những vị đã từng đi thi Hương nhưng không đỗ hoặc chỉ đỗ một, hai trường, lui về quê dạy học để tiếp tục thi khóa sau hoặc không bao giờ đi thi nữa. Chính những người này dân gian hay gọi là thầy đồ, thầy khóa, song học trò và dân chúng vẫn hết sức kính trọng.

I.2.4. Nội dung học tập:

Giáo dục thời Nguyễn kế thừa các triều đại trước. Đó là giáo dục Nho giáo, lấy tư tưởng Khổng Mạnh làm nội dung giảng dạy, hướng đến hành vi, ứng xử của kẻ sĩ. Do đó, ở trường công hay trường tư, nội dung học tập không có gì khác nhau, nếu có chỉ là mức độ, cách thức giảng dạy và học tập cho từng loại đối tượng. Đó là không ngoài Tứ thư, Ngũ kinh. Tất cả các sách đều của Trung Hoa. Mãi sau này mới có một vài cuốn sách do người Việt soạn, nhưng còn rất hạn chế. Điều đáng lưu ý là, nội dung sách vở là vậy nên vai trò của người thầy rất quan trọng. Học trò không chỉ học ở thầy giáo sách vở thánh hiền mà cả nhân cách Nho gia qua người thầy. Bởi vậy, ở từng vùng, nhân cách của thầy giáo sẽ còn ảnh hưởng lâu dài đến hành xử của những người sau này là rường cột quốc gia. Chẳng hạn, ở vùng Đồng Nai - Gia Định là nhân cách của các thầy Đặng Đức Thuật, Võ Trường Toản... khi quá nửa quan lại cao cấp đương triều là học trò của họ như lời Trịnh Hoài Đức từng nhận xét. Do đó, bên cạnh những nguyên nhân khác đã khiến tầng lớp nho sĩ Biên Hòa, cũng như Nam bộ thời ấy có nhiều điểm khác so với các vùng khác.

I.2.5. Về khoa cử và những người đỗ đạt:

Chế độ khoa cử triều Nguyễn kéo dài cho đến năm 1918, năm diễn ra khoa thi Hương cuối cùng ở Trung kỳ. Thế nhưng, ở Nam kỳ, chế độ khoa cử phong kiến đã chấm dứt vào năm 1864, năm có kỳ thi Hương cuối cùng được tổ chức tại trường thi An Giang thay vì trường Gia Định như trước.

Tất cả các kỳ thi thời Nguyễn từng triều vua có khác nhau ít nhiều về cách thức nhưng đều nhằm mục đích dùng thi cử để tuyển chọn người tài, phục vụ cho bộ máy chính quyền các cấp, dù không phải ai đỗ đạt cũng đều làm quan. Song, do sớm ý thức tầm quan trọng của đội ngũ quan lại, các vị vua đầu triều Nguyễn đặc biệt quan tâm đến khoa cử. Năm 1807, vua Gia Long hạ chiếu nêu rõ: “Nhà nước cầu nhân tài, tất do đường khoa mục. Tiên triều ta chế độ khoa cử đời nào cũng có cử hành... Nay thiên hạ cả định, Nam Bắc một nhà, cầu hiền chính là sự cần kíp”([7][15]). Tờ chiếu cũng quy định rõ phép thi: kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; kỳ đệ nhị thi chiếu, chế, biểu; kỳ đệ tam thi thơ, phú; kỳ đệ tứ thi văn sách. Khoa Đinh Mão (1807) năm ấy là kỳ thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn. Khoa này có 6 trường thi, gồm: Nghệ An, Thanh Hoa, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, Hải Dương, lấy đỗ 61 người. Dự định, năm sau, Mậu Thìn (1808) sẽ thi Hội nhưng do mới bình định, văn học còn ít nên đình lại đến năm Nhâm Ngọ Minh Mạng thứ ba (1822) mới mở khoa thi Hội đầu tiên. Vào năm Quý Dậu (1813), ở khoa thi Hương thứ hai dưới triều Nguyễn, trường thi Gia Định (bao gồm sĩ tử của Nam kỳ lục tỉnh và Bình Thuận) mới tham gia.

Tính từ khoa thi năm Quý Dậu (1813) đến khoa thi năm Giáp Tý (1864), sĩ tử các tỉnh Nam bộ và Bình Thuận có 19 kỳ thi. Trong 19 kỳ thi đó, theo Quốc triều hương khoa lục ([8][16]), có 22 sĩ tử Biên Hòa đậu Cử nhân. Sách xưa không chép những người đậu Tú tài trong các kỳ thi Hương, nên bây giờ, khó có con số thống kê chính xác về người đậu Tú tài ở Biên Hòa. Song, rõ ràng, đấy không phải là ít. So sánh với 8 tỉnh có sĩ tử tham dự kỳ thi Hương tại trường Gia Định, Biên Hòa xếp thứ tư (sau Gia Định, Vĩnh Long và Định Tường; trước Bình Thuận, An Giang và Hà Tiên). Sau đây là những cử nhân của Biên Hòa xưa:

* Huỳnh Văn Tú, người thôn Tân Hội, tổng Chánh Mỹ, huyện Phước Chánh, phủ Phước Long (nay là Tân Uyên), đậu thứ 8/12 người, khoa Kỷ Mão - 1819. Cử nhân Huỳnh Văn Tú làm quan đến chức Bố chánh (chức quan đứng thứ hai ở một tỉnh lớn) tỉnh Cao Bằng. Cùng khoa với ông là những nhân vật xuất chúng như: Trương Đăng Quế, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Phức, Trương Minh Giảng...

* Tống Đức Hưng, người thôn Long Đức, tổng An Thủy, huyện Bình An, phủ Phước Long (nay là Thủ Đức), đậu thứ 8/16 người, khoa Tân Tỵ - 1821.

* Phạm Tuấn, người thôn Bình Trước, tổng Phước Vĩnh, huyện Phước Chánh (nay là thành phố Biên Hòa), đậu thứ 11/16, khoa Tân Tỵ - 1821.

* Đào Trí Kính (sau đổi là Đào Trí Phú), người thôn Phước Kiển, tổng Thành Tuy, huyện Long Thành, phủ Phước Long (nay là xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch), đậu thứ 14/15 người, khoa Ất Dậu - 1825. Cử nhân Đào Trí Kính làm quan tới chức Tham tri bộ Hộ (chức quan thứ hai, dưới Thượng thư một bộ), Tổng đốc Nam Ngãi. Cùng khoa với ông, năm này có Phan Thanh Giản (sau này là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam bộ), Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Đăng Giai...

* Nguyễn Văn Trị, người thôn Linh Chiểu, tổng An Thủy, huyện Bình An, phủ Phước Tuy (nay là phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức, tp. Hồ Chí Minh), đậu thứ 4/11 người, khoa Đinh Dậu - 1837.

* Nguyễn Văn Toại, người thôn Linh Chiểu, tổng An Thủy, huyện Ngãi An, phủ Phước Tuy (nay là Thủ Đức), đậu thứ 15/16 người, khoa Tân Sửu - 1841. Cử nhân Nguyễn Văn Toại làm quan tới chức Tri phủ.

* Nguyễn Duy Doãn, người thôn Tân An, huyện Bình Chánh, huyện Bình An (nay là thị xã Thủ Dầu Một), đậu thứ 2/16 người (á khoa) khoa Nhâm Dần - 1842, làm quan đến chức Biện lý bộ Hộ.

* Nguyễn Quang Khuê, người thôn Bình Phú, tổng An Thủy, huyện Ngãi An (nay là Thủ Đức), đậu thứ 10/16, khoa Nhâm Dần (1842), làm quan đến chức Ngự sử (viên quan chuyên khuyến cáo, can gián những lỗi lầm của vua và đàn hặc quan lại phạm tội).

* Nguyễn Văn Nghị, người thôn Tân Lập, huyện Phước Bình (nay là tỉnh Bình Phước), đậu thứ 13/16 người, khoa Nhâm Dần - 1842, làm quan đến chức Tri huyện.

* Phạm Văn Trưng, người thôn Linh Chiểu, tổng An Thủy, huyện Ngãi An (nay là Thủ Đức) đỗ thủ khoa (Giải nguyên) /15 người, khoa Quý Mão - 1843, từng là Đốc học tỉnh An Giang.

* Trần Văn Học, cùng quê, đồng khoa với Phạm Văn Trưng, đậu thứ 8/15 người, làm quan đến chức Tri huyện.

* Nguyễn Văn Hưng (sau đổi là Nguyễn Túc Trưng), người thôn Hắc Long, tổng An Phú, huyện Phước An, phủ Phước Tuy (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), đậu thứ 14/15 người, khoa Quý Mão - 1843, làm quan tới chức Phủ thừa (chức quan dưới quyền Phủ doãn, chuyên coi việc tư pháp của kinh đô) Thừa Thiên, quyền biện Bố chánh Bình Định.

* Nguyễn Lương Ngạn (sau đổi là Nguyễn Lương Năng), người thôn Bình Thành, tổng Phước Vĩnh, huyện Phước Chánh (nay là thành phố Biên Hòa), đậu thứ 10/20 người, khoa Bính Ngọ - 1846, làm quan tới chức Ngự sử.

* Hồ Văn Phong, người thôn Linh Chiểu, huyện Ngãi An, đậu thứ 10/20 người, làm quan tới chức Tri phủ, đồng khoa với Đình nguyên Thám hoa Nguyễn Đức Đạt.

* Nguyễn Khiêm Trinh, người thôn Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ, huyện Phước Chánh (nay là xã Uyên Hưng, huyện Tân Uyên), đậu thứ 15/20 người, khoa Mậu Thân - 1848, làm quan tới chức Tri phủ, đồng khoa với Nguyễn Hàm Ninh.

* Nguyễn Khiêm Khanh, em ruột của Cử nhân Nguyễn Khiêm Trinh, đậu thứ 7/17 người, khoa Kỷ Dậu - 1849, đồng khoa với nhà thơ danh tiếng Phan Văn Trị, Trương Gia Hội, Nguyễn Thông.

* Nguyễn Nùng Hương, người thôn Long Thạnh, tổng An Phú, huyện Phước An, đậu thứ 9/13 người, khoa Nhâm Tý - 1852, làm quan đến chức Tri phủ.

* Bùi Đức Lý, người thôn An Hòa, tổng Long Vĩnh, huyện Long Thành, phủ Phước Tuy (nay là xã An Hòa, huyện Long Thành), được bổ làm Giáo thụ (quan đứng đầu ngành giáo dục của một phủ), đồng khoa Nhâm Tý (1852) với Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân. Sách Quốc triều hương khoa lục có ghi cha ông là Bùi Đức Độ cũng đã đậu Cử nhân, song không thấy ghi rõ khoa năm nào. Nếu ông Bùi Đức Độ đậu cử nhân thì số “ông cử” của Biên Hòa là 23 người .

* Nguyễn Lương Tri, em ruột của Cử nhân Nguyễn Lương Ngạn, đậu thứ 6/9 người, khoa Mậu Ngọ - 1858.

* Võ Xuân, người thôn Tân Thuận, huyện Phước Chánh (chưa rõ nay là Tân Uyên hay Vĩnh Cửu), đậu thứ 2/10 người, khoa Giáp Tý (1864), tại trường An Giang.

* Nguyễn Văn Học, người thôn Bình Thảo, tổng Phước Vĩnh, huyện Phước Chánh (nay là xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), đậu thứ 6/10 người , khoa Giáp Tý - 1864.

Như vậy, trong số những người đỗ đạt ở Biên Hòa xưa, có đến 4 người là anh em ruột của nhau; huyện Phước Chánh (nằm phần lớn là thành phố Biên Hòa ngày nay) là nơi có nhiều người đậu nhất. Ở khoa Ất Mùi (1835), nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa (vốn người Vĩnh Long) đậu Giải nguyên. Từ nhỏ, nhà thơ đã về Biên Hòa theo học và từ đây khăn gói đi thi (năm 28 tuổi). Đậu Cử nhân, sau một thời gian ngắn tập sự ở bộ Lễ, Bùi Hữu Nghĩa đã được cử làm Tri huyện phủ Phước Long (Biên Hòa). Cũng trong các khoa thi này, Biên Hòa có 1 thủ khoa (Phạm Văn Trưng), 2 á khoa (Nguyễn Duy Doãn và Võ Xuân). Còn Cử nhân Đào Trí Phú đã được cử làm chủ khảo trường thi Thừa Thiên - trường thi lớn nhất nước thời đó, khoa Nhâm Dần - 1842...



([1][9]) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam thực lục chính biên; tập III; Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; 1963; tr.78.

([2][10]) Quốc sử quán triều Nguyễn; Sđd; tập III; tr.148   -   149.

([3][11]) Trịnh Hoài Đức; Sđd; tập hạ; tr.4

([4][12]) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Nxb. Thuận Hóa; 1992; tập 5; tr.42. 

([5][13]) Trịnh Hoài Đức; Sđd; tập hạ; tr.4

([6][14]) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Nxb. Thuận Hóa; 1992; tập 5; tr.42. 

([7][15]) Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam thực lục chính biên; tập III; Nxb. Khoa học xã hội; Hà Nội; 1963; tr.323.

([8][16]) Cao Xuân Dục; Quốc triều hương khoa lục; Nxb. Tp Hồ Chí Minh; 1993. 

Comments