2.1. Dưới lăng kính “khai hóa” của thực dân Pháp

II.1.1. Ngay từ buổi đầu khi mới đặt chân lên đất Nam kỳ, thực dân Pháp ắt có ý thức sử dụng giáo dục là công cụ phục vụ cho sự thống trị của chúng. Sau đó không lâu, một viên “thanh tra công việc bản xứ” (Inspecteur des Affaires Indigènes), Paulin Vial đã viết về Thiếu tướng hải quân, Phó thủy sư đô đốc Bonard, người đã chỉ huy quân đội đánh chiếm Biên Hòa và sau đó là Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam: “Đô đốc Bonard mà nhiệm vụ là phải xây dựng một thuộc địa lớn ở Nam kỳ, đã chú ý ngay tức khắc đến việc phát triển các cơ quan giáo dục” ([1][23]). Sự “chú ý ngay tức khắc” của Bonard đối với Biên Hòa là cho quân triệt hạ Văn miếu Trấn Biên vì đây không đơn thuần là nơi thờ Khổng Phu tử mà chính là biểu tượng cho sự tôn vinh những giá trị giáo dục, văn hóa truyền thống.

II.1.2. Để thực hiện chính sách giáo dục mới, thực dân Pháp đã lần lượt thành lập nhiều trường học tại Nam kỳ, chủ yếu ở Sài Gòn, như: Trường thông ngôn (Collège des Interprètes - 1864) để đào tạo thông ngôn, Trường tập sự (Collège des Stagiaires - 1873) để đào tạo nhân viên hành chính; Trường trung học Chasseloup Laubat (Collège Chasseloup Laubat - 1874) giảng dạy cho con em người Pháp và quan lại Việt phục vụ cho bộ máy cai trị...; Sở học chánh Nam kỳ (Service de l’Instruction Publique - 1879) để đặt chương trình giáo dục Pháp - Việt; mặt khác, loại dần nền giáo dục khoa cử Hán học. Vì thế, ở các tỉnh như Biên Hòa, các trường lớp dạy chữ Nho tự phát trong dân gian hoặc do nhà Nguyễn hình thành mai một dần. Với quyền lực trong tay, từ năm 1869 đến ngày 30 - 1 - 1882, các thống đốc Nam kỳ đã ra 10 nghị định nhằm mục đích này. Nếu như ở Nghị định ngày 26 - 9 - 1881, Thống đốc Nam kỳ G. De Trentinian quy định: “Kể từ ngày ký (26 - 9 - 1881), việc sử dụng chữ Pháp được xem là bắt buộc trong các địa hạt và các tổng sau đây: (...) tổng Chánh Mỹ trung, Chánh Mỹ thượng, Phước Vĩnh trung, Phước Vĩnh thượng thuộc địa hạt Biên Hòa” thì đến Nghị định ngày 30 - 1 - 1882 của Thống đốc Nam kỳ Le Myre de Vilers thì quy định trên được áp dụng.

Xuất phát từ mục đích rõ ràng như vậy nên đến những năm 30 của thế kỷ XX, hệ thống giáo dục nô dịch Pháp về cơ bản đã hoàn chỉnh ở các cấp học ([2][24]).

II.1.3. Tuy thực dân Pháp xem trọng việc mở mang một nền giáo dục nô dịch, nhưng kết quả lại không hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn đó.

Trước năm 1861, Biên Hòa là một vùng trù phú, dân cư đông đúc nhưng từ khi quân Pháp đến thì dân làng bỏ đi nơi khác, nhiều vùng đã trở nên hoang vắng, dân cư thưa thớt. Theo Đại Nam thực lục, 74 thôn của 3 huyện Nghĩa An, Bình An, Long Thành, 25,9% số xã thôn Biên Hòa hồi ấy xiêu tán; những nơi gần quân Pháp đóng, người dân đã bỏ đi ([3][25]). Còn những người có học thì sự ra đi khỏi quê quán đã trở thành một kiểu hành xử của kẻ sĩ, chính các sĩ quan Pháp đã viết: “Những người An Nam có học, tầng lớp trí thức trung thành với luật pháp xứ sở họ, chỉ có thể xem chúng ta như kẻ thù; tầng lớp có khả năng cai trị thì vắng mặt hay có ác cảm... Theo lệnh triều đình Huế, các nhà nho và quan lại đã biến đi, vì thế đồng loạt không hợp tác” ([4][26]). Một khi đã xem thực dân Pháp là quân xâm lược thì người Biên Hòa cũng không chấp nhận hệ thống giáo dục mà họ mang đến. Bởi vậy, dù trường học được quân Pháp mở khá sớm ở địa hạt Biên Hòa nhưng cũng chẳng có mấy học sinh đến học. Sách Đất Nam kỳ thuộc Pháp, xuất bản năm 1878 chép: ...Ở Biên Hòa có trường học, 33 học sinh ngoại trú”.

Những nỗ lực nhằm gấp rút đào tạo “những người ngoại quốc trong xứ sở của họ” (lời của Paul Beau) của thực dân Pháp cũng đã đem lại một số kết quả nhất định. Cho đến năm 1886, “ở Nam kỳ có 17 trường người Âu cầm đầu, có 10 trường nam, 7 trường nữ. Có 48 giáo viên người Pháp và 78 giáo viên Việt Nam dạy cho 1.829 học sinh của 10 trường nam, 25 giáo viên nữ người Pháp và 13 giáo viên Việt Nam dạy cho 992 học sinh của 7 trường nữ. Các trường quận do xứ thuộc địa đài thọ, một số lớn trường làng do ngân sách địa phương đài thọ và một số trường khác tồn tại bằng tiền của các làng và tư nhân. Có 16 trường hàng quận với 24 giáo viên người Pháp và 51 giáo viên người Việt Nam dạy 1553 học sinh; 219 trường hàng tổng với 270 giáo viên Việt Nam dạy 10.441 học sinh; 91 trường xã với 91 giáo viên Việt Nam và 3.416 học sinh” ([5][27]). Như vậy, đến năm này, toàn Nam kỳ có 343 trường công các loại với 600 giáo viên và 18.231 học sinh. Còn ở địa hạt Biên Hòa, đến năm 1897, gồm 16 tổng và 183 làng nhưng chỉ có 1 trường địa hạt đặt ở làng Bình Trước, tổng Phước Vĩnh trung; có thể khẳng định Trường tiểu học Nguyễn Du (thành phố Biên Hòa) xưa vốn là trường địa hạt, rồi một thời gian dài sau đó là trường tiểu học tỉnh lỵ, đã được hình thành chậm nhất là năm 1897) và 4 trường tổng đặt ở các làng: Bình Trước, Bình Mỹ (tổng Phước Vĩnh trung), An Hòa (tức Bến Gỗ, thuộc tổng Long Vĩnh thượng) và Tân Uyên (tổng Chánh Mỹ trung) ([6][28]). Đây là kết quả của trên 20 năm thực dân Pháp thực hiện chính sách giáo dục ở Nam kỳ nói chung và Biên Hòa nói riêng. Đó là thời kỳ chúng nóng lòng muốn thấy những thành quả giáo dục nên thậm chí đã có những cách thức mị dân nhất như thưởng 200 francs/ năm cho thầy đồ dạy thêm quốc ngữ, đưa học sinh du học, thưởng tiền cho học sinh mỗi tuần 5 xu. Nhưng chất lượng, lại là một chuyện khác, mà chính những người Pháp thực hiện chính sách giáo dục đó đã phải thừa nhận: “Kết quả chẳng ra làm sao cả. Phần đông trẻ em đi học chỉ học đọc hay viết chữ quốc ngữ, không mấy đứa học và nói tiếng Pháp. Có nói được cũng kém quá. Sau một năm học, vài đứa bị bắt đi làm thông ngôn ở các đồn lính”([7][29]). Viên Toàn quyền dân sự (gouverneur civil) đầu tiên của Nam kỳ, Le Myre de Vilers còn chua chát hơn: “Vài trăm người An Nam nói tiếng Pháp, vài ngàn người nói sai tiếng Pháp đó là những bồi bếp, kéo xe... Dân chúng còn lại không biết tiếng An Nam (tức chữ quốc ngữ - BQH) lẫn tiếng Pháp. Chúng ta hiểu rằng những người An Nam vẫn nói tiếng của họ, nhưng họ không biết viết và biết đọc, vì những lẽ trên, mà chúng tôi đào tạo những người vô học ”([8][30]).

Trường tiểu học Nguyễn Du ngày nay khi có đến lớp nhất mới mang tên École primaire complémentaire de Biên Hoa là trường tiểu học đầu tiên của tỉnh Biên Hòa. Mặc dù thành lập sớm, giữ vai trò là trường địa hạt, rồi trường tỉnh lỵ nhưng một thời gian dài do chính sách giáo dục của thực dân Pháp, trường chậm phát triển. Theo ông Nguyễn Văn Thuyết, ban đầu cơ sở trường là trại lính kỵ binh, sau là trại giam tù (vì buổi đầu, sau khi chiếm Biên Hòa, quân Pháp chưa xây dựng khám đường). Đến năm 1934, tỉnh Biên Hòa có thêm một trường nữ tiểu học, trường tiểu học Biên Hòa trở thành trường nam tiểu học tỉnh lỵ. Năm 1954, trong chương trình Việt hóa tên các trường học, trường chính thức được đổi tên là Trường Nguyễn Du. Trước năm 1930, đốc học (hiệu trưởng) Trường tiểu học Biên Hòa là người Pháp. Từ năm 1933, các thầy giáo người Việt Nam lần lượt làm hiệu trưởng: Lê Hữu Vĩnh, Huỳnh Văn Giỏi, Lâm Văn Huê, Phan Khoái Hượt, Nguyễn Văn Phát, Hồ Văn Tam, Nguyễn Thành Dợt, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Văn Trình, Huỳnh Anh... Trường tiểu học Biên Hòa là nơi học tập của hầu hết các nhân vật danh tiếng ở Biên Hòa thời xưa như: nhà giáo Hồ Văn Tam, nhà giáo Hồ Văn Thể, nhà giáo cách mạng Nguyễn Văn Ngũ (Hoàng Minh Viễn); các kỹ sư: Nguyễn Háo Ca, Phạm Minh Dưỡng, Lương Kiển Thạnh; nhà văn Lý Văn Sâm, tướng Lương Văn Nho, nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu...

II.1.4. Từ những năm cuối thế kỷ XIX đến năm 1945, sau một thời gian định “thủ tiêu” giáo dục phong kiến nhưng bất thành vì “làm như thế chẳng khác gì phế bỏ sông Hồng vì nó cũng bắt nguồn từ Trung Quốc”, thực dân Pháp đã “tóm lấy nó, thu thập nó để có lợi ” (lời của Dumoutier) rồi bãi bỏ hoàn toàn chữ nho, đưa giáo viên từ Pháp sang để phổ biến tiếng Pháp. Hoặc từ chỗ buộc trẻ con đi học khiến học sinh “phần lớn là kẻ vô phúc do các làng thuê học” (lời của Bá tước Comte Lafont, Thiếu tướng hải quân, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, Thống đốc Nam kỳ từ 16 - 10 - 1878 đến 6 - 7 - 1879) đến công thức phát triển “giáo dục theo chiều ngang chứ không phải theo chiều đứng” của Toàn quyền Merlin (20 - 2 - 1923 đến 27 - 7 - 1925) v.v... Tuy nhiên, mục tiêu của nền giáo dục nô dịch ấy không thay đổi, khiến đội ngũ trí thức địa phương chậm được đào tạo, mặt bằng dân trí rất thấp, đại đa số nhân dân mù chữ.

Xứ Nam kỳ, nơi thực dân Pháp đặt chế độ trực trị, có ưu đãi hơn so với Bắc kỳ và Trung kỳ nhưng đến năm 1916 bậc tiểu học Pháp - Việt mới chỉ có khoảng 798 trường với 51.137 học sinh (so với Bắc kỳ là 36 trường với 4.620 học sinh). Ở bậc trung học, toàn xứ Nam kỳ lúc đó chỉ có 3 trường: Mĩ Tho, Gia Định, Chasseloup Laubat. Về sau, số học sinh và trường học có tăng nhưng nếu so với dân tỷ lệ vẫn rất thấp. Năm 1923, cả nước có 46.000 học sinh; năm 1924: có 72.000 học sinh. Sáu năm sau, do nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân, học sinh đòi phát triển giáo dục, số học sinh có tăng lên. Tới năm học 1936 - 1937, bình quân 100 người dân mới có 2 học sinh sơ học (2%); 100 người dân có 0,4 học sinh tiểu học (0,4%). Cũng năm học này, ở bậc cao đẳng tiểu học (tương đương trung học cơ sở ngày nay), cả Việt Nam chỉ có 16 trường. Riêng Nam kỳ, với 4,616 triệu dân nhưng chỉ có 4 trường: Collège Le Myre de Vilers (nay là Trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho), Collège de Cần Thơ (Trường PTTH Châu Văn Liêm, Cần Thơ), Pétrus Ký (sau chuyển thành trường trung học, nay là Trường PTTH Lê Hồng Phong, TP Hồ Chí Minh), Trường Áo Tím (tức trường nữ, sau đổi là Trường Gia Long, nay là trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai, TP Hồ Chí Minh). Còn bậc trung học công lập, từ năm 1936 - 1945, toàn cõi Việt Nam chỉ có 3 trường: Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký (Nam kỳ), Lycée du Protectorat (còn gọi Trường Bưởi, Bắc kỳ) và Lycée Khải Định (Trung kỳ). Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản bằng tiếng Pháp ở Paris năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã thống kê tình hình giáo dục tại Việt Nam thời đó: “Lúc ấy, cứ 1.000 làng thì có đến 1.500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số 1.000 làng đó, lại chỉ có vẻn vẹn 10 trường học” ([9][31]). Cũng theo Nguyễn Ái Quốc, nhân dân “khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học thiếu một cách nghiêm trọng. Mỗi năm, vào kỳ khai giảng, nhiều phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt mọi nơi thần thế, có khi chịu trả tiền gấp đôi tiền nội trú, nhưng vẫn không tìm được chỗ cho con học. Và hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường”. Người cho rằng “làm cho dân ngu để dễ trị” là chính sách mà thực dân Pháp “ưa dùng nhất” ở các thuộc địa ([10][32]).

Trong một bản báo cáo gửi về Paris, viên Thống đốc dân sự đầu tiên Le Myre de Vilers đã viết về Biên Hòa và Nam kỳ trước năm 1879, tức thời kỳ thực dân Pháp phải đối phó nhiều với phong trào kháng chiến của nhân dân ta như sau: “Vì thiếu phương tiện giao thông nhanh chóng, sự liên lạc giữa Sài Gòn và nội địa hầu như không làm được. Rất ít người Âu đi qua Mỹ Tho hay Biên Hòa...”. Nhưng vài năm sau đó, “ không làng nào không có sở bưu điện phục vụ. Chỉ trong vòng 24 giờ đồng hồ là đã có thể di chuyển quân đội ra khắp nơi...”. Và, quan trọng hơn, “ xứ Nam kỳ hàng năm mang về cho nước Pháp 20 triệu francs. Không một xứ sở nào trên thế giới lại bộc lộ một sự phát triển nhanh chóng, một sức sống mạnh mẽ như vậy “([11][33]). Thế nhưng, sự phát triển về văn hóa - giáo dục lại là một chuyện khác. Từ năm 1897 - 1901, giáo dục Biên Hòa hầu như giẫm chân tại chỗ. Năm này, Biên Hòa vẫn 16 tổng, 160 làng, dân số 102.941 người. Song, số trường học công vẫn bằng năm 1897 gồm: 1 trường địa hạt đặt tại tỉnh lỵ (tức Trường tiểu học Nguyễn Du sau này) có 5 giáo viên (1 người Pháp, 4 người Việt), với 182 học sinh; 4 trường tổng (sơ học) do các giáo viên người Việt phụ trách, với 196 học sinh. 4 trường tổng đó đặt tại: Bình Trước (tỉnh lỵ), Tân Uyên (tổng Chánh Mỹ trung), Bình Mỹ (tổng Phước Vĩnh trung) và Bến Gỗ (tổng Long Vĩnh trung), tức là 4 trường đã có từ trước. Như vậy, toàn tỉnh Biên Hòa hồi đầu thế kỷ XX chỉ có 378 học sinh (trường công). Bình quân, 272 người dân mới có 1 học trò sơ học ([12][34]).

Hơn 20 năm sau, người Pháp ghi những dòng rất tự hào về giáo dục ở Biên Hòa: “Nền giáo dục Pháp - Việt được bảo đảm đầy đủ ở trường tiểu học tỉnh lỵ, là cơ sở rất quan trọng gồm 15 thầy giáo, 500 học trò, còn 11 trường tổng (kể cả các trường Thượng ở núi Chứa Chan và An Bình) và 16 trường xã “ ([13][35]).

11 trường tổng gồm: Bình Trước (tổng  Phước Vĩnh trung), Tân Uyên (tổng  Chánh Mỹ trung), Bến Cá, Cây Đào (tổng  Phước Vĩnh hạ), Bến Gỗ (tổng  Long Vĩnh thượng), Chợ Đồn (tổng  Chánh Mỹ thượng), Mỹ Lộc (tổng  Chánh Mỹ hạ), Long Thành, Phước Long (tổng  Thành Tuy thượng), Tân Ba (tổng  Chánh Mỹ trung), An Bình (tổng  Bình Cách), Chứa Chan (thuộc các tổng người dân tộc, chưa rõ tổng nào). Tổng số học sinh các trường tổng ở Biên Hòa là 979 (trong đó có 81 học sinh nữ).

Cuốn Monographie de la Province de Bien Hoa (năm 1924) cho biết, toàn tỉnh có 16 trường xã do các làng bảo trì, chăm lo với khoảng 2.000 học sinh (179 học sinh nữ). Sách này viết, số học sinh ghi tên học các trường xã đông hơn (khoảng 2.900), “nhưng số vắng mặt còn nhiều vì: sốt rét theo mùa và việc dùng trẻ em thu hái mùa màng”. Như vậy, toàn tỉnh có khoảng 3.479 học sinh trường công. Điều đáng lưu ý là do tác động của chính sách phát triển “giáo dục theo chiều ngang” mà Biên Hòa thời ấy chỉ có 14% học sinh tiểu học. Cả tỉnh chỉ có một trường tiểu học hoàn chỉnh (École primaire de plein exercice) đặt ở tỉnh lỵ dạy đến lớp nhứt (cours Supérieur), tương đương lớp Năm bây giờ). Tất cả các trường còn lại đều là trường sơ học (École Elémentaire), gồm 3 lớp: Đồng ấu (cours enfantin), Dự bị (cours préparatoire), Sơ đẳng (cours Elémentaire) và các trường làng (École Communale) ở những làng, dạy đến lớp Dự bị.

Từ năm 1928 - 1936, dưới sự cai trị của các Toàn quyền Đông Dương P. Pasquier và Robin, phong trào vận động dân sinh dân chủ và cách mạng bị đàn áp, nhiều biện pháp xã hội nghiêm khắc được áp dụng, thực dân Pháp mở các trường công kiểu nhỏ giọt. Năm 1936, toàn tỉnh Biên Hòa mới có 4 trường tiểu học, gồm: Trường tỉnh lỵ (Trường tiểu học Biên Hòa), Trường Phước Thiền (quận Long Thành), Trường Tân Uyên (quận Tân Uyên), Trường Bến Cá (tức Trường Bình Hòa, quận Châu Thành). Trừ Trường tỉnh lỵ, các trường tiểu học khác đến năm 1938, 1939 mới có học sinh thi lấy bằng Tiểu học, còn gọi là Sơ đẳng Pháp - Bản xứ (Certificat dEtudes Primaire Franco - Indigène); đến trước Cách mạng Tháng Tám vẫn không có gì thay đổi. Bởi vậy, một vùng rộng mênh mông như Long Thành, Nhơn Trạch trước năm 1945 chỉ có 1 thanh niên đậu Tú tài, và chỉ có 4 phụ nữ đậu bằng sơ học.

II.1.5. Về giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề:

Thời phong kiến trên đất nước ta không có loại hình trường chuyên nghiệp hay dạy nghề do Nhà nước lập ra như ngày nay. Các nghề được đào tạo theo kiểu “cha truyền con nối” hay ở các làng nghề. Buổi đầu khi mới chiếm được Nam kỳ, giáo dục phổ thông chưa phải là ưu tiên phát triển đối với người Pháp. Các trường đầu tiên là những trường mang tính chất “dạy nghề” như Trường Pigneau de Béhaine (thành lập theo nghị định ngày 21 - 9 - 1861 của Phó thủy sư đô đốc Charner) để đào tạo thông ngôn, thư ký mà người học là binh lính, viên chức; Trường thông ngôn (Collège des Interprèses, theo Nghị định ngày 16 - 7 - 1864 của Thống đốc Nam kỳ Bonard); Trường tập sự (Collège des Stagiaires, 20.2.1873) đào tạo nhân viên hành chính... Mãi đến gần cuối thế kỷ XX, những trường dạy nghề mới thực sự ra đời như: Trường bá nghệ ở Hà Nội (École professionnelle de Hanoi, 5.1898), Trường cao đẳng công chính (École Supérieure des Travaux Publics, 25.12.1918)... Đây là thời kỳ chính quyền thuộc địa thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai. Giáo dục chuyên nghiệp được chú trọng hơn nhằm mục đích đào tạo thợ chuyên môn hoặc đốc công, đáp ứng nhu cầu mở rộng công nghiệp ở Việt Nam. Chính Klobukowski, viên Toàn quyền Đông Dương áp dụng chính sách dùng cường quyền, đóng cửa đại học, các hội đồng đại biểu và Nha học chính đã khẳng định: “Giáo dục trung học chuyên nghiệp có một nguồn tư bản rất quan trọng ở một xứ kỹ nghệ địa phương và kỹ nghệ Âu châu đang phát triển rầm rộ” ([14][36]). Những năm này, chính quyền thuộc địa liên tục cho mở các Trường kỹ nghệ ở Sài Gòn, Hà Nội, Trường bách công ở Huế, các Trường mỹ nghệ ở Biên Hòa,Thủ Dầu Một, Hà Tiên, Sa Đéc, Cần Thơ, Nam Định, Hải Phòng, Hưng Hóa, Sơn Tây... dạy nhiều nghề khác nhau.

Trường dạy nghề (bá nghệ) Biên Hòa được thành lập năm 1903, đặt tại tỉnh lỵ, do một kỹ sư người Pháp tên J.Lamorte làm Hiệu trưởng. Ban đầu, trường có các bộ môn: mộc, rèn, đúc, đồng, gốm, đan lát, gia chánh. Năm 1916, ông A. Joyeux thay thế J. Lamorte làm Hiệu trưởng, chỉ giữ lại các môn gốm và đúc, cho nghiên cứu các sắc thái men gốm nhưng không thành công. Trường đổi tên là Trường mỹ nghệ Biên Hòa (Ecole d’ Art de Biên Hòa) Từ năm 1923, khi R.Balick, một người vừa tốt nghiệp Trường mỹ thuật Paris sang điều khiển thì những sản phẩm gốm của trường mới bắt đầu nổi tiếng. Sách Monographie de la Province de Biên Hòa, năm 1924, đã viết: “Trường đã nổi tiếng, dù sản phẩm có hạn, tổ chức không nhằm bán nhiều hàng nhưng để giáo dục kỹ thuật cho thợ mỹ thuật bản xứ. Cũng chính lý do này đã gạt bỏ khỏi trường việc sử dụng ở trường một thứ vật liệu sản xuất quá tốn kém và quá hiện đại mà học trò chỉ có thể dùng trong nhà trường và nó đi sai chương trình giáo dục, đến nỗi các người lãnh đạo muốn trước hết, có mục đích chuẩn bị cho những thợ thủ công Nam kỳ hành nghề tiểu thủ công tại nhà...” . Từ đây, Trường mỹ nghệ Biên Hòa “đào tạo nghệ nhân cho cả Nam kỳ” và đoạt nhiều giải thưởng tại các triển lãm quốc tế về gốm mỹ thuật. Trước năm 1945, bên cạnh ông bà R. và M. Balick là người Pháp trường có những giáo viên người Việt là nghệ nhân nổi tiếng như: Bùi Văn Chà, Huỳnh Văn Thọ, Võ Kim Đôi (ngành gốm), Đặng Văn Quới, Bạch Đường Khúc, Trần Văn Ơn (ngành đồng)... Tuy nhiên, do trung thành với mục tiêu ban đầu là “đào tạo hay hoàn thiện cho thợ và đốc công Việt Nam” nên quy mô đào tạo không lớn (bao giờ cũng từ 50 học sinh trở xuống) và không “quá tốn kém và quá hiện đại”. Năm 1944, trường đổi tên thành Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (Ecole d’art appliqué de Bien Hoa). Năm 1963 - 1964, trường mang tên Trường trung học kỹ thuật Biên Hòa (do Nha kỹ thuật học vụ, Bộ giáo dục chính quyền Sài Gòn quản lý). Năm 1976 - 1977, trường đổi tên thành Trường phổ thông công nghiệp tỉnh Đồng Nai. Đến năm 1998, trường được quyết định nâng cấp thành Trường cao đẳng mỹ thuật Đồng Nai, vẫn thuộc Bộ văn hóa - thông tin quản lý; nằm trong hệ thống các trường cao đẳng, đại học của quốc gia. Hiện nay, trường đào tạo 5 ngành nghề: gốm mỹ thuật, đồ họa công nghiệp, điêu khắc chất liệu, trang trí nội thất, trang trí kim loại.

Trước năm 1923, tại Biên Hòa, một trường chuyên nghiệp cũng được thành lập. Đó là Trường nữ công gia chánh, dành cho học sinh nữ người bản xứ, được đặt tại tỉnh lỵ. Trường mở các khóa gia chánh, may vá, thêu thùa. Số học sinh đến cuối năm 1923 là 66 người. Ban đầu, Hiệu trưởng cũng là một nữ giáo viên người Pháp, rồi sau mới là người Việt. Trường chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi tự giải thể.



([1][23]) Dẫn theo Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 96/ 1967; tr.14.

([2][24]) Tham khảo các công trình: Lịch sử giáo dục Việt Nam (Đặng Văn Tiến chủ biên; Nxb. Giáo dục; 1996), Giáo dục và khoa cử Việt Nam (Nguyễn Q. Thắng; Nxb. VHTT; 1993)...

([3][25]) Quốc sử quán triều Nguyễn; Sđd; tập 29; Nxb. Khoa học xã hội; Hà Nội; 1974; tr.283.

([4][26]) Dẫn theo Cao Huy Thuần; Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam; Luận án tiến sĩ  quốc gia khoa học chính trị Đại học Paris, tr.169.

([5][27]) Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên); Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 - 1945; Nxb. Giáo dục; 1996; 193.

([6][28]) Theo Lịch An Nam thông dụng năm 1897, trong Vương Hồng Sển: Từ vị tiếng Việt miền Nam; Nxb. Văn hóa; 1993; tr. 158   -   179.

([7][29]) Dẫn theo Trần Văn Giàu; Lịch sử cận đại Việt Nam; Nxb. Giáo dục; Hà Nộ; 1962; tập 3; tr. 201.

([8][30]) Dẫn theo Tạp chí Nghiên cứu lịch sử; số 98, tháng 5.1967; tr.42. 

([9][31]) Nguyễn Ái  Quốc; Bản án chế độ thực dân Pháp; Nxb. Sự thật; Hà Nội; 1975; tr.32. 

([10][32]) Nguyễn Ái  Quốc; Sđd; tr. 103, 104, 105.

([11][33]) Dẫn theo Đinh Xuân Lâm; Tạp chí Xưa và nay; số 35B, tháng 7.1998; tr.31   -   32.

([12][34]) Số liệu được trích từ Monographie de la Province de Biên Hòa, 1901 (Bản dịch Nguyễn Yên Tri).

([13][35]) Monographie de la Province de Biên Hòa, 1924 (Bản dịch Nguyễn Yên Tri). 

([14][36]) Dẫn theo tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 98, tháng 5.1967, tr. 48. 

Comments