2.3. Phong trào đấu tranh của thầy giáo và học sinh Biên Hòa

II.3.1. Trước năm 1945, nhất là từ đầu thế kỷ XX, ở nước ta xuất hiện nhiều phong trào yêu nước và cách mạng. Đây chính là tiền đề làm xuất hiện dòng giáo dục yêu nước, ban đầu do các sĩ phu phong kiến, sau là các tổ chức chính trị của giai cấp vô sản chỉ đạo. Do những đặc điểm lịch sử nhất định, Biên Hòa cũng như Nam kỳ hồi đó, các phong trào giáo dục này bị chính quyền thực dân Pháp cản trở nên phát triển chậm hơn và không sôi nổi như Bắc và Trung kỳ([1][44]), nhất là sau cuộc khởi nghĩa bất thành của nhà nho Đoàn Văn Cự.

Đoàn Văn Cự sinh năm Ất Mùi (1835), ở huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa ([2][45]). Cha ông là nhà nho uyên thâm, giàu lòng yêu nước nhưng gặp lúc vận nước đang suy, lại bị theo dõi nên đã bỏ nhà tha hương. Đoàn Văn Cự nối chí cha, đem cả gia đình về bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu, tổng Phước Vĩnh thượng, huyện Phước Chánh. Khi ấy, bưng Kiệu là rừng. Chính ở đây, ông đã dạy học, bốc thuốc và vận động đồng bào đấu tranh chống quân xâm lược. Trong 3 năm, Đoàn Văn Cự đã tích trữ lương thực, khí giới, tập luyện nghĩa quân. Đông đảo nhân dân miền Đông, nhất là các vùng Bình Đa, chợ Chiếu (Hiệp Hòa), núi Nứa (Bà Rịa) ủng hộ nhiệt tình nghĩa quân Đoàn Văn Cự.

Ngày mồng 8 tháng 4 năm Ất Tỵ (1905), thực dân Pháp điều động một tiểu đội mã tà đến thôn Vĩnh Cửu. Đoàn Văn Cự đã triệu tập hàng trăm nghĩa quân chuẩn bị nghênh chiến. Nhưng chúng lại không tiến đánh. Khi cụ vừa cho nghĩa binh rút thì quân Pháp lại kéo đến đông hơn. Lần này, một viên đại úy trực tiếp chỉ huy. Tên đại úy cùng viên thông ngôn và hai lính hộ vệ xông vào nhà cụ Đoàn Văn Cự. Trong trang phục uy nghi, đầu chít khăn lụa điều, mình thắt dây lưng vải hồng, cụ rút đoản đao đầu hổ chém vào đầu tên đại úy. Tuy bị thương nhưng tên địch đã rút súng bắn mấy phát khiến cụ Đoàn Văn Cự chết ngay trước bàn thờ tổ. Sau đó, quân địch bắn phá vào doanh trại của nghĩa quân. Trong cơn binh lửa, 16 nghĩa binh của Đoàn Văn Cự đã hy sinh, số còn lại chạy thoát vào rừng.

Tuy sớm thất bại nhưng Đoàn Văn Cự và nghĩa quân của ông đã nêu cao cờ nghĩa chống ngoại xâm vào thời kỳ đen tối nhất của lịch sử lúc bấy giờ, khi thực dân Pháp đã chiếm trọn đất nước ta và hầu hết các cuộc khởi nghĩa do sĩ phu phong kiến lãnh đạo đã thất bại. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 8 - 4, nhân dân Biên Hòa đều thiết lễ giỗ tưởng nhớ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân của ông hy sinh tại ngôi đền được xây cất vào năm 1956 ở phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa. Còn mộ của Đoàn Văn Cự và các nghĩa quân đến nay vẫn còn ở phường Long Bình, bên cạnh dòng suối Linh.

II.3.2. Tuy không thành cao trào rộng lớn nhưng phong trào đấu tranh của nhà giáo, học sinh, thanh niên Biên Hòa vẫn như ngọn lửa âm thầm, hễ có dịp là bùng phát. Chẳng hạn, vào năm 1937, học sinh Đinh Văn Do (tên thật là Trần Văn Do), học sinh Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa chịu ảnh hưởng của tư tưởng cộng sản, qua đảng viên Nguyễn Văn Nghĩa, đã làm đơn gửi Brévié, Toàn quyền Đông Dương, đòi tăng lương cho thợ và yêu cầu thực hiện ngày làm 8 giờ. Các anh: Phạm Tấn Bộ, Trần Văn Hộ, Trần Văn Năm cùng ký tên với Trần Văn Do. Khi công nhân Hãng cưa BIF bãi công, học sinh Trường mỹ nghệ thực hành cũng đã bãi khóa hưởng ứng theo. Vì chuyện này, anh Trần Văn Do bị cảnh sát bắt giam về tội “phá rối trị an”. Hiệu trưởng của Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa đã cho anh Do vài tháng học bổng rồi... đuổi học.

Từ giữa năm 1944, phong trào truyền bá quốc ngữ ([3][46]) sau nhiều năm bị cấm đoán, đã phát triển ở Nam kỳ. Tháng 8 - 1944, Thống đốc Nam kỳ buộc phải ký lệnh cho phép Hội hoạt động. Ngay trong năm này, nhiều tỉnh như: Gia Định, Biên Hòa, Cần Thơ, Mỹ Tho, Bến Tre, Long Xuyên, Sa Đéc... đã thành lập chi hội truyền bá quốc ngữ. Một số nơi đã mở lớp học xuống tận xã. Tính đến tháng 8.1945, sau 7 năm hoạt động, Hội truyền bá quốc ngữ đã lập được 51 chi hội (Bắc kỳ: 30; Trung kỳ: 15; Nam kỳ: 6); mở 857 lớp có 59.827 học viên sơ cấp và 10.000 học viên “cao đẳng” (bổ túc sau xóa mù); huy động 1971 giáo viên tham gia; in và phát cho học viên 17.500 cuốn sách. Đó là thành quả hết sức to lớn nếu so với gần 18 triệu người mù chữ trên cả nước Việt Nam.

Ở Biên Hòa, Hội truyền bá quốc ngữ được chính thức thành lập vào tháng 11 - 1944, do Đoàn thanh niên tiền phong đỡ đầu, Câu lạc bộ thể thao Biên Hòa (Cercle sportif de Biên Hòa) bảo trợ. Lãnh đạo Hội gồm: luật sư Lê Văn Trá (Hội trưởng), Tôn Thất Hanh (Phó hội trưởng), Nguyễn Văn Thuyết (Thư ký), Hồ Văn Thế (Thủ quỹ), Phan Văn Lung, Lương Văn Lựu, Huỳnh Thiện Nghệ (các uỷ viên: giáo viên, khánh tiết và cổ động). Chiều thứ bảy, 25 - 11 - 1944, Hội tổ chức ra mắt tại Câu lạc bộ thể thao Biên Hòa. Hôm đó, tất cả hội viên của Câu lạc bộ đều đến dự, có 100 thanh niên tiền phong làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự và trên 200 đồng bào trong xã Bình Trước, đa số là những người còn mù chữ. Sau ngày ra mắt, Hội mở hai lớp truyền bá quốc ngữ tại Trường tiểu học tỉnh lỵ. Lớp tráng niên (dành cho người lớn) có 53 học viên, do ông Phan Văn Lung phụ trách. Các ông Nguyễn Văn Thuyết và Hồ Văn Thể dạy lớp dành cho thiếu nhi, có 46 em. Khi đi học, tất cả các học viên đều được phát tập vở, viết, cuốn vần. Ngày mãn khóa được thưởng giấy viết và sách vở. Các lớp học kéo dài từ ngày 26 - 11 - 1944 đến ngày 25 - 2 - 1945 ([4][47]).



([1][44]) Xem thêm Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8.1945; Nxb. Giáo dục; 1996; chương VII, phần B: Sự hình thành, phát triển dòng giáo dục yêu nước trong nửa đầu thế kỷ XX.

([2][45]) Hầu hết các tài liệu viết về Đoàn Văn Cự (Người Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, 1995; Biên Hòa  -   Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb. Đồng Nai, 1998...) đều căn cứ vào tư liệu của Lương Văn Lựu: Biên Hòa sử lược toàn biên, Quyển thứ II, Tác giả xuất bản, 1972. Ông Lương văn Lựu viết: “Đoàn Văn Cự ...sinh năm 1835, tại Bình An Thủ Đức (Gia Định)” (tr.186). Chỗ này, ông Lương Văn Lựu nói không rõ. Vào năm 1835, huyện Bình An (nay là huyện Thủ Đức, tp. Hồ Chí Minh) thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa. Mãi đến năm 1866, thực dân Pháp chia tỉnh Biên Hòa thành 6 địa hạt, huyện Bình An mới trở thành địa hạt Bình An và từ 1871 trở thành một bộ phận của tỉnh Thủ Dầu Một. Chúng tôi nghĩ, ông Lương Văn Lựu ghi như vậy là đối chiếu với địa danh Bình An khi viết sách (BQH).   

([3][46]) Hội truyền bá quốc ngữ do Đảng CSVN lãnh đạo, được thành lập từ tháng 8.1938, do cụ Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng. Hội phát triển trên toàn quốc, trở thành phong trào rộng lớn, nhằm “Truyền bá quốc ngữ, dạy người Việt Nam biết viết tiếng mình. Khi có thể được thì dạy cho người Việt Nam biết ít điều thường thức cho cuộc sinh hoạt hiện thời ” (Điều lệ Hội).

([4][47]) Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Thuyết, thành viên ban lãnh đạo Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Biên Hòa.   

Comments