3.1. Sự phát triển của giáo dục trong kháng chiến

III.1.1. Trong kháng chiến chống Pháp:

a) Là người đã từng lên án mạnh mẽ chính sách ngu dân và chủ trương đồng hóa của thực dân Pháp, ngay từ khi mới thành lập Đảng (ngày 3 - 2 - 1930), trong Chính cương vắn tắt, Bác Hồ đã đưa ra chủ trương “Phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa“. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Cách mạng lâm thời, Bác Hồ đề ra chương trình hành động gồm 3 vấn đề: chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm. Sáu ngày sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ký cả 3 sắc lệnh: Thành lập Nha bình dân học vụ, cơ quan phụ trách ngành học cho người lớn tuổi, trước hết là xóa nạn mù chữ (Sắc lệnh số 17); Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối (Sắc lệnh số 19); Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ Quốc ngữ từ nay, bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc và biết viết chữ Quốc ngữ (Sắc lệnh số 20). Khi cuộc kháng chiến bùng nổ, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho ngành Bình dân học vụ phương hướng mới: Đi học là kháng chiến; Mỗi lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến; Mỗi giáo viên Bình dân học vụ là một đội viên tuyên truyền kháng chiến; Có biết chữ kháng chiến mới mau thắng lợi; Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương diệt giặc dốt. Như vậy, nền giáo dục mới đã sớm được hình thành trong kháng chiến, có nội dung, phương hướng hẳn hoi.

b) Mặc dù ở xa Chính phủ Cách mạng lâm thời nhưng nền giáo dục kháng chiến sớm hình thành và phát triển ở Nam bộ. Ngay từ năm 1946, phong trào xóa mù chữ đã được phát triển rộng khắp. Đến tháng 8 - 1947, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ đã ra Quyết định thành lập Sở giáo dục Nam bộ và Viện văn hóa kháng chiến Nam bộ, với nhiệm vụ “quét sạch tàn tích văn hóa nô dịch, ngu dân của thực dân Pháp, xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam mà trước mắt là thanh toán nạn mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, phát triển giáo dục phổ thông, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến, xây dựng đất nước ”. Ở Đồng Nai, nhà giáo Nguyễn Văn Ngũ (tức Hoàng Minh Viễn) được cử làm Trưởng ban bình dân học vụ tỉnh Biên Hòa. Đến tháng 2.1948, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ có quyết định chính thức bổ nhiệm ông Hoàng Minh Viễn làm Trưởng ty giáo dục tỉnh Biên Hòa. Đây là quyết định đầu tiên và cũng là duy nhất của Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ bổ nhiệm 6 trưởng ty giáo dục ở các tỉnh, trong đó có Biên Hòa.

Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, ngành giáo dục tỉnh Biên Hòa đã chọn xã Thái Hòa (huyện Tân Uyên) làm điển hình của phong trào xóa mù chữ trong thời gian một tháng rưỡi. Đêm đêm, từng tốp thanh thiếu niên lặn lội đến từng nhà đồng bào để vận động đốt đèn dầu đánh vần, viết chữ. Cả vùng kháng chiến rộng lớn, nơi nào cũng có lớp học. Ty giáo dục Biên Hòa đóng ngay giữa rừng chiến khu Đ, quy tụ nhiều thế hệ thầy giáo. Việc biên soạn sách giáo khoa được giao cho các thầy giáo đã từng dạy trước đó. Hầu hết các huyện đều thành lập ban giáo dục huyện. Tại các xã do chính quyền cách mạng quản lý, có một trưởng ban giáo dục xã phụ trách. Riêng huyện Tân Uyên gồm 20 xã, Ban giáo dục huyện, do ông Huỳnh Văn Bản (sau này là nhà văn Hoàng Văn Bổn) làm Trưởng ban, đã mở được hai Trường tiểu học kháng chiến. Học sinh bao gồm: con em cán bộ, trẻ mồ côi, các chú bé liên lạc, công vụ các cơ quan, đoàn thể...([1][48]). Thầy giáo các Trường kháng chiến được Ban giáo dục vận động từ vùng địch ra như: các thầy Tống Văn Phụng, Tống Hòa Việt, Tô Bá Hùng, Mai Văn Tươi, Lệ Tâm... Sau khi học hết tài liệu do các thầy ở địa phương soạn, Ban giáo dục huyện Tân Uyên cử người xuống tận rừng U Minh tìm tài liệu ở Trường trung học sư phạm của giáo sư Hoàng Xuân Nhị về biên soạn, in ấn, dùng cho hai trường và cả Ty giáo dục Biên Hòa. Còn ở chiến khu Phước An (địa bàn huyện Nhơn Trạch ngày nay), từ năm 1948 - 1951, một Trường tiểu học (Trường tiểu học chiến khu Phước An) cũng được mở với 5 giáo viên, lúc cao điểm trường có 5 lớp với trên 80 học sinh.

Phong trào bình dân học vụ và giáo dục phổ thông ở tỉnh Biên Hòa những năm 1946 - 1952 ở vào những tỉnh phát triển nhất của Nam bộ. Đến giữa năm 1948, xã Thái Hòa (huyện Tân Uyên) cùng với xã Qưới Xuân, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định là 2 xã đầu tiên của Nam bộ được kiểm tra và công nhận đã thanh toán nạn mù chữ theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong năm này, toàn Nam bộ có 6 xã được công nhận hoàn thành xóa mù chữ. Sang năm 1949, tỉnh Biên Hòa có thêm 14 xã thanh toán nạn mù chữ, trong đó có Rừng Lá là nơi có nhiều đồng bào dân tộc ([2][49]). Như vậy, sau gần một thế kỷ dưới chế độ thực dân Pháp, hàng vạn người nông dân Đồng Nai đã biết chữ. Đó là thành tựu hết sức to lớn của nền giáo dục kháng chiến.

Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng đã cử nhiều cán bộ về tận vùng Cà Mau, Bạc Liêu - nơi có Sở Giáo dục Nam bộ, để theo học các lớp trung học. Chính những chủ trương đúng đắn này đã góp phần nuôi dưỡng những tinh hoa của một nền giáo dục cách mạng và nhân dân trong nhiều năm liền đấu tranh gian khổ sau này.

III.1.2. Trong kháng chiến chống Mỹ:

Hơn 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn cảnh nhiều khó khăn, ác liệt hơn trước, nhưng nền giáo dục cách mạng vẫn được duy trì ở miền Nam, đặc biệt là miền Tây Nam bộ, nơi có vùng kháng chiến rộng lớn.

Ngay sau năm 1954, Đảng đã bố trí nhiều cán bộ kháng chiến từ chiến khu trở về hoạt động trong lòng địch như trực tiếp giảng dạy tại các trường, hỗ trợ phong trào đấu tranh ở đô thị của nhiều tỉnh như: Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho... Tại Biên Hòa, Đảng đã cử đồng chí Phan Văn Phổ về Trường Thanh Khiết. Hoặc Huyện ủy Vĩnh Cửu đã cử cán bộ về vận động thầy giáo Hồ Văn Thể đứng ra làm Chủ tịch hội đồng xã. Thầy giáo Hồ Văn Thể (1903 - 1976) dạy học từ năm 1925, sau Cách mạng tháng Tám từng là Chủ tịch Ủy ban hành chánh kháng chiến xã Tam Hiệp (nay là các phường Tam Hiệp, Tam Hòa, Bình Đa, Tân Mai của thành phố Biên Hòa). Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nhân dân làng Tam Hiệp đã xiêu tán các nơi. Huyện ủy Vĩnh Cửu vận động thầy giáo Thể làm Chủ tịch Hội đồng xã trong chính quyền ngụy nhằm mục đích tập hợp dân chúng trở về, tạo điều kiện cho cán bộ ta dễ dàng hoạt động. Trong thời gian giữ chức vụ này (từ năm 1954 - 1960), thầy giáo Thể “đã che chở cho nhiều cán bộ nằm vùng, thậm chí đưa một số vào bộ máy chính quyền xã: ông Mười Hậu và ông Năm Sang làm phó chủ tịch “phong trào cách mạng quốc gia” xã Tam Hiệp, một số đoàn viên thanh niên lao động vào dân vệ xã..., ông Tám Khỏe đã lấy giấy thông hành khống chỉ ở hội đồng xã cho cán bộ ta có giấy tờ hợp pháp hoạt động”([3][50]).

Tháng 10 - 1962, Trung ương Cục miền Nam đã thành lập Tiểu ban giáo dục Miền. Ngày 13 - 2 - 1963, đường lối giáo dục của miền Nam được Trung ương Cục vạch rõ: “Dựa vào lực lượng nhân dân, cán bộ giáo dục và các nhà giáo yêu nước, kiên quyết đả phá chính sách ngu dân và các hình thức giáo dục nô dịch, phản động, ngoại lai, đồi trụy của Mỹ - ngụy, tích cực xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ và khoa học theo chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm bồi dưỡng chính trị, văn hóa cho nhân dân lao động trước nhất là cán bộ và chiến sĩ, nhằm đào tạo thế hệ trẻ toàn diện, biết căm thù giặc sâu sắc, biết yêu nước nồng nàn, có kiến thức, đạo đức và sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và kiến thiết xã hội sau này” (Thông tư 44/TT). Từ đó, ở các vùng kháng chiến, đã hình thành nên các Trường giáo dục tháng Tám, Trường sư phạm Miền, tổ chức Đại hội giáo dục toàn miền Nam Việt Nam...

Ở rừng chiến khu Đ miền Đông Nam bộ, sau những đợt càn quét của địch, đồng bào vào rừng lập làng. Tại đây, bà con đốn gỗ dựng trường lớp và tổ chức những lớp. Các Trường Văn Chính đã thành lập ở Bình Dương, Tây Ninh... Hai năm 1964 và 1965 được xem là mạnh nhất của giáo dục kháng chiến thời chống Mỹ.

Từ năm 1970, chiến trường Nam bộ, nhất là miền Đông, ác liệt. Mỹ mở nhiều cuộc càn quét rộng lớn, các khu ủy miền Trung và Đông phải lánh sang đất bạn, phong trào giáo dục kháng chiến bước vào thời kỳ khó khăn nhất. Tuy vậy, nhiều địa phương đã mở rộng các hình thức tuyên truyền, đấu tranh trong học sinh, giáo chức vùng tạm chiếm. Đặc biệt, trong các nhà tù, những chiến sĩ cách mạng một mặt không ngừng đấu tranh, một mặt vẫn tổ chức nên các lớp học ngay trong tù.

Nhà lao Tân Hiệp ở tỉnh Biên Hòa nằm trong số các nhà tù lớn của chế độ Mỹ - ngụy lúc đó. Tại đây, địch đã giam khá nhiều trí thức yêu nước và cách mạng. Khi Hiệp định Paris được ký kết, phong trào đấu tranh của đồng bào đòi thả tù chính trị diễn ra khắp nơi. Ngày 23 - 2 - 1973, 11 nữ giáo chức và sinh viên bị giam tại Nhà lao Tân Hiệp đã dũng cảm gửi một tâm thư ra ngoài tố cáo chế độ lao tù của Mỹ - ngụy ([4][51]).

Cũng trong những năm kháng chiến, nhiều đoàn cán bộ giáo dục từ miền Bắc đã chi viện vào miền Nam. Tháng 9 - 1972, Tiểu ban giáo dục Miền đã đưa đoàn cán bộ về xây dựng Khu giáo dục miền Đông Nam bộ, do đồng chí Sáu Nguyên (tức Nguyễn Văn Nguyên, sau là: Giám đốc Sở giáo dục khu Đông Nam bộ, Trưởng ty giáo dục tỉnh Đồng Nai) làm Trưởng tiểu ban. Tại Biên Hòa, tháng 12 - 1973, được Sở giáo dục khu Đông tăng cường cán bộ, Tỉnh ủy Biên Hòa mở trường phổ thông cơ sở của tỉnh tại vùng giải phóng Cây Gáo. Trường do đồng chí Nguyễn Sỹ Huấn phụ trách, giáo viên Bùi Quang Tú. Trường dạy văn hóa từ lớp 1 đến lớp 5 cho các em ở vùng giải phóng và dạy bổ túc văn hóa cho nhiều cán bộ, chiến sĩ của tỉnh, huyện, xã. Nhờ đó, ở miền Đông, tỉnh Bình Phước, nơi có vùng giải phóng rộng đã thành lập được Ty giáo dục tỉnh và ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ chức giáo dục mới đã sớm đi vào hoạt động.



([1][48]) Xem thêm Nội san Giáo dục - đào tạo, Sở giáo dục - tào tạo Đồng Nai: Hoàng Văn Bổn, Kỷ niệm về công tác giáo dục trong kháng chiến chống Pháp (số 20.11.1995); Yên Tri: Ngành giáo dục tỉnh Biên Hòa thời kỳ đầu chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (số khai giảng năm học 1995 - 1996); Trần Huy Anh, Nhà giáo Hoàng Minh Viễn - Trưởng ty giáo dục đầu tiên của tỉnh Biên Hòa (số Xuân Mậu Dần, 1998).

([2][49]) Theo Trần Thanh Nam (chủ biên): Sơ thảo 30 năm giáo dục miền Nam (1945 - 1975); Nxb. Giáo dục; 1995; tr. 90.

([3][50]) Yên Tri; Thầy giáo Hồ Văn Thể, một nhân sĩ trí thức; Nội san Giáo dục - đào tạo; Sở GD  -  ĐT Đồng Nai; số  ra ngày 20.11.1994.

([4][51]) Theo Hồ Hữu Nhựt; Phong trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học sinh sinh viên Sài Gòn; Nxb. tp. Hồ Chí Minh; 1974; tr.174. 

Comments