3.2. Giáo dục trong vùng tạm chiếm

III.2.1. Từ năm 1945 - 1954:

a) Khi trở lại xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp vấp phải sự chiến đấu quật cường của nhân dân. Do đó, công việc chính của chúng là dùng vũ lực để mở rộng các vùng tạm chiếm đóng hòng tái lập chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, càng lúc cuộc kháng chiến của nhân dân ta càng lớn mạnh. Vì vậy, những chính sách về văn hóa - xã hội của thực dân Pháp tuy mục đích không thay đổi so với trước nhưng từng lúc lại có những nhượng bộ và nửa vời. Việc học sinh người Việt vào các trường trung và tiểu học Pháp không bắt buộc phải có quốc tịch Pháp như trước. Mặt khác, do phong trào đấu tranh của quần chúng, của học sinh, sinh viên Việt Nam, thực dân Pháp nới rộng quy mô các trường công và cho phép mở thêm trường tư. Đến năm 1950, nhà cầm quyền cho công bố một chương trình sách giáo khoa Việt Nam, được áp dụng ở bậc tiểu học và trung học với chuyển ngữ là tiếng Việt. Đây là nhượng bộ mang tính căn bản của thực dân Pháp trong vấn đề giáo dục ở Việt Nam. Dù vậy, nền giáo dục ấy vẫn què quặt “thiếu tính dân tộc, tính nhân dân và chưa thoát được sự lệ thuộc nước ngoài về văn hóa ”([1][52]).

b) Ở tỉnh Biên Hòa, bên cạnh những trường học đã có từ trước, trong thời kỳ này, một số ít trường sơ cấp được nâng cấp thành trường tiểu học hoàn chỉnh. Riêng tại thành phố Biên Hòa, số trường có đông hơn. Đó là 3 trường tiểu học được nhà giáo Hồ Văn Tam (Hiệu trưởng Trường tiểu học tỉnh lỵ, Phó ty giáo huấn Biên Hòa) vận động thành lập, gồm: Trường sơ cấp Đồ Chiểu (nay là Trường PTTH bán công Chu Văn An), Trường sơ cấpTrịnh Hoài Đức (nay là Trường tiểu học Trịnh Hoài Đức), Trường sơ cấp Nguyễn Khắc Hiếu (nay là Trường tiểu học Nguyễn Khắc Hiếu). Cũng tại thành phố Biên Hòa, vào năm 1947, một trường tư thục của đồng bào người Hoa được mở, mang tên Trường tiểu học Dục Đức (nay là Trường THCS Hùng Vương), nhưng ban đầu Pháp văn được dùng làm chuyển ngữ (đến năm 1960, tiếng Việt mới là chuyển ngữ, Hoa văn là phụ).

III.2.2. Từ năm 1954 - 1975:

Xét về hình thức, từ năm 1954 - 1975, nền giáo dục ở vùng tạm chiếm miền Nam nói chung, Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng, phát triển ào ạt và dần hình thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh. Từ nội dung, bản chất đến các mô hình giáo dục hoàn toàn khác trước. Đó là nền giáo dục thực dân kiểu mới.

a) Nhìn một cách toàn diện, nền giáo dục thực dân từ 1954 - 1975 ở miền Nam nhằm vào 3 mục đích chính: Biến giáo dục thành công cụ chiến tranh xâm lược; dùng giáo dục để duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa ở một xứ thuộc địa; dùng giáo dục để đầu độc thế hệ trẻ ([2][53]). Do đó, chế độ ngụy quyền Sài Gòn, dưới sự ủng hộ của Mỹ, đã mở khá nhiều trường từ tiểu học đến đại học, tập trung trên 2,5 triệu học sinh, sinh viên và hơn 50 ngàn giáo chức ([3][54]). Đó là chưa kể cả một hệ thống trường lớp của các tôn giáo: Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài và quân đội. Ở nông thôn, việc thành lập các “Trường ấp tân sinh” nằm trong kế hoạch bình định, ép buộc đồng bào vào ấp chiến lược. Không phải một mà nhiều lần, các cố vấn Mỹ đã nói rõ mục đích giáo dục này: “Dự án giáo dục ấp tân sinh được thiết lập để... thu nhận trẻ con vào trường nhiều và nhanh chóng chương trình bình định” hoặc: ”Ngay từ buổi đầu, dự án giáo dục tiểu học ấp tân sinh được xem là vấn đề ưu tiên đối với USAID (United States Agency for International Development: Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ) và chính quyền Việt Nam vì tầm quan trọng của nó trong chương trình bình định nông thôn” ([4][55]). Bởi vậy, hầu như xã nông thôn nào chính quyền Sài Gòn chiếm được cũng đều có loại trường tiểu học này. Còn ngược lại, chỉ có những vùng đô thị, các loại trường trung học mới phát triển. Đến năm học 1970 - 1971, toàn miền Nam có đến 7.987 trường tiểu học công và tư; 886 trường trung học công và tư. Riêng vùng Sài Gòn - Gia Định đã chiếm 13% (trường tiểu học) và 24 % (trường trung học) ([5][56]). Sự mất cân đối này cho thấy phần nào về thực chất cái gọi là “giáo dục đại chúng”, “giáo dục cho mọi người” của chính quyền Sài Gòn.

b) Địa bàn tỉnh Biên Hòa vào thời kỳ chính quyền Sài Gòn Mỹ - ngụy phân thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh và Phước Tuy. Sự phát triển giáo dục của 3 tỉnh này như sau.

· Tỉnh Long Khánh:

- Tỉnh Long Khánh được chính quyền Sài Gòn thành lập theo sắc lệnh số 143 - NV, ngày 22­ - 10­ - 1956, nhưng đến ngày 19­ - 4­ - 1957 mới chính thức ra đời. Ban đầu, tỉnh có 2 quận (Xuân Lộc và Định Quán) sau năm 1974 nâng lên thành 4 quận, địa bàn bao gồm các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Định Quán, Tân Phú, phần lớn huyện Thống Nhất và một phần huyện Vĩnh Cửu ngày nay. Khi còn là một quận của tỉnh Biên Hòa, trước năm 1954, vùng Long Khánh chỉ có 1 trường tiểu học do người Pháp xây dựng với 2 phòng. Về sau, đây chính là trường tiểu học tỉnh lỵ Long Khánh (nay là Trường tiểu học Kim Đồng, thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh). Đến giữa năm 1957, toàn tỉnh Long Khánh cũng mới chỉ có 5 trường tiểu học bậc công lập với 8 giáo viên và 420 học sinh. Bậc trung học không có ([6][57]).

- Bậc tiểu học: được xem là phát triển nhất trong nền giáo dục Mỹ - ngụy. Ở tỉnh Long Khánh, từ năm 1963 có sự “bùng nổ” về các loại hình trường tiểu học. Theo Địa phương chí tỉnh Long Khánh, năm học 1967 - 1968, toàn tỉnh có 59 trường công lập (gồm 26 trường tiểu học, 11 trường sơ cấp và 22 trong ấp tân sinh), 25 trường tư thục (gồm: 14 trường tiểu học, 14 trường sơ cấp và 1 trường học nghề). Tổng số học sinh: 24.844 (công lập: 16.300; tư thục: 8.544). Cả tỉnh có 503 giáo viên bậc tiểu học. Theo ông Đặng Huy Bí, nguyên Thanh tra tiểu học tỉnh, đến năm 1975, tỉnh Long Khánh có gần 70 trường tiểu học nhưng chỉ có 18 trường tiểu học hoàn chỉnh (dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất), hệ công lập. Trong bản lương giáo viên tiểu học của tỉnh có 1.000 người. Thời gian này, các trường tư thục phát triển khá mạnh, hầu như giáo hội tôn giáo nào cũng mở trường, nhất là Công giáo. Hầu như xứ đạo nào cũng có mở một vài lớp sơ cấp (từ lớp Năm đến lớp ba) ngay trong nhà thờ.

- Bậc trung học: cũng như nhiều tỉnh ở miền miền Đông Nam bộ, tại Long Khánh, phát triển muộn.

+ Trường trung học tỉnh Long Khánh được thành lập vào năm 1958, đặt tại Trường tiểu học tỉnh lỵ, có 2 lớp đệ thất (lớp sáu) với 100 học sinh. Những năm đầu, trường mang tên Trường trung học Lê Thánh Tôn, do ông Trần Nhơn Kiệt, lúc bấy giờ là Trưởng ty tiểu học tỉnh kiêm chức cho đến năm 1962 mới có hiệu trưởng mới. Từ năm 1960, trường lấy tên Trường trung học tỉnh Long Khánh. Vào năm 1959, trường được xây dựng cơ sở mới nhưng vẫn nằm trong khuôn viên của Trường tiểu học tỉnh lỵ. Sau đó, trường học cả hai nơi là Trường tiểu học Kim Đồng và Trường trung học dân lập Văn Hiến ngày nay. Đến năm học 1967 - 1968, Trường trung học tỉnh Long Khánh có 13 lớp, từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhất (lớp 12), với 539 học sinh và 20 giáo viên.

+ Trường trung học công lập Gia Kiệm được thành lập từ năm 1966, đặt ở xã Gia Kiệm, quận Kiệm Tân. Đây là một trường trung học đệ nhất cấp (tức dạy từ lớp đệ thất đến đệ tứ, tương đương với trường trung học cơ sở ngày nay). Vào năm học 1967 - 1968, trường này chỉ mới có 2 lớp với 80 học sinh.

+ Các trường trung học tỉnh hạt. Từ năm 1972, chính quyền Sài Gòn cho ra đời một loạt các trường “trung học tỉnh hạt”, đặt ở những vùng không phải đô thị nhưng quần cư. Đây là các trường trung học đệ nhất cấp nằm trong hệ thống công lập. Ở tỉnh Long Khánh, có 5 trường trung học tỉnh hạt sau: Bảo Định, Bình Khánh, Dầu Giây (quận Xuân Lộc), Bình Hòa (quận Kiệm Tân), Phương Lâm (quận Định Quán).

+ Các trường trung học bán công. Toàn tỉnh Long Khánh chỉ có 2 trường trung học bán công. Trường trung học bán công Xuân Lộc được thành lập vào năm 1962, đặt ở tỉnh lỵ (vị trí nay là Trường mẫu giáo An Bình, thị trấn Xuân Lộc). Sau năm 1970, trường này mới có những lớp đệ nhị cấp. Vào năm 1968, trường có 6 lớp đệ nhất cấp với 500 học sinh. Việc thành lập trường này có nhiều điểm đặc biệt. Kinh phí xây dựng một phần chính quyền cấp và dân đóng góp nhưng phần lớn lại do tỉnh bán số cây gỗ trái phép bị tịch thu. Hội đồng quản trị do Tòa hành chánh tỉnh nắm; hiệu trưởng là người được Tỉnh trưởng giới thiệu để Bộ giáo dục bổ nhiệm. Trường thứ hai là Trung học bán công Định Quán nằm ở quận Định Quán, được thành lập sau năm 1970, chỉ có các lớp đệ nhất cấp.

+ Các trường trung học tư thục. Gồm 6 trường tư thục trung học đệ nhất cấp, tập trung ở hai quận Xuân Lộc và Kiệm Tân. Quận Xuân Lộc có các trường: TH tư thục Bồ Đề (nay là Trường THCS Hồ Thị Hương), TH tư thục Tin Lành (nay là Trường tiểu học Trần Phú), TH tư thục Hòa Bình (nay là Trường tiểu học Hòa Bình), TH tư thục Đồng Tâm (Trường THCS Xuân Tâm). Quận Kiệm Tân có 2 trường: Trung tiểu học MonicaTrung tiểu học Bùi Chu. Trong số các trường tư thục kể trên, Trường trung tiểu học Monica (ở xã Gia Kiệm) được hình thành sớm nhất (trước năm 1965), do các linh mục trực tiếp điều khiển; vào năm học 1965 - 1966 có 11 lớp với 772 học sinh và 14 giáo viên; năm học 1967 - 1968 có 14 lớp với 950 học sinh. Điểm đáng chú ý nữa là trong số 6 trường trung học tư thục có đến 4 trường của giáo hội Công giáo, 1 trường của Hội thánh Tin Lành và 1 trường của Phật giáo.

Như vậy, trước năm 1975, ở tỉnh Long Khánh có 15 trường trung học, gồm: 7 trường công lập, 2 trường bán công và 6 trường tư thục. Trong số 15 trường này chỉ có 5 trường có các lớp đệ nhị cấp (TH tỉnh Long Khánh, TH bán công Xuân Lộc, TH tư thục Hòa Bình, TH Bồ Đề và trung tiểu học Monica) .

· Tỉnh Biên Hòa:

- So với Long Khánh, tỉnh Biên Hòa đã có một bề dày về sự phát triển giáo dục. Từ khi Long Khánh trở thành một tỉnh, địa bàn tỉnh Biên Hòa có 6 quận: Tân Uyên, Công Thanh, Đức Tu, Dĩ An, Long Thành, Nhơn Trạch. Dân số tỉnh Biên Hòa năm 1970 là 469.114 người, gấp 3 lần tỉnh Long Khánh ([7][58]). Dưới chế độ Sài Gòn, Biên Hòa được đánh giá là tỉnh lớn nhất miền Đông Nam kỳ. Do đó các bậc học phổ thông về số lượng đều phát triển.

- Bậc tiểu học:

Thời Pháp thuộc, các trường tiểu học hoàn chỉnh của tỉnh Biên Hòa xưa đều nằm trên địa bàn của tỉnh Biên Hòa (nay). Vào năm 1960, tỉnh Biên Hòa đã có nhiều trường tiểu học đặt ở tỉnh lỵ (xã Bình Trước) và các xã đông dân như: Bửu Hòa, Hố Nai (quận  Đức Tu), Đông Hòa (Dĩ An), Đại Phước, Phú Hội, Phước Thọ (Nhơn Trạch), Uyên Hưng (quận  Tân Uyên)... Ở các xã khác đều có trường sơ cấp. Ngoài ra, các cơ quan quân sự: Không quân, Sư đoàn 7 bộ binh (ngụy), Dưỡng Trí Viện đều thành lập trường sơ cấp. Còn tại tỉnh lỵ và các quận lỵ cũng đã hình thành những trường tư thục bậc tiểu học và sơ cấp ([8][59]).

Đến năm 1973, theo Địa phương chí tỉnh Biên Hòa, các trường tiểu học công lập (các loại trường) đã có ở tất cả 65 xã trong tỉnh ([9][60]):

 

CÔNG LẬP

 TRƯỜNG

 HỌC SINH

GIÁO VIÊN

 LỚP HỌC

Sơ cấp

 97

 15.880

 284

 358

Tiểu học

 92

 70.665

 1.166

 1.273

Quân đội

 13

 3.678

 73

 85

Mẫu giáo

 1

 295

 8

 8

Nữ công

 

 67

 4

 2

Tổng cộng

 204

 90.585

 1.535

 1.726

Ngoài ra, tại tỉnh Biên Hòa thời gian này cũng có nhiều trường tiểu học tư thục được mở:

TƯ THỤC

TRƯỜNG

HỌC SINH

GIÁO VIÊN

LỚP HỌC

Sơ cấp

 28

 3.691

 55

 78

Tiểu học

 20

 10.332

 132

 172

Học nghề

 2

 54

 2

 2

Nữ công

 1

 32

 1

 1

Tổng cộng

 51

 14.109

 190

 253

Như vậy, đến năm 1973, tỉnh Biên Hòa có 104.694 học sinh tiểu học và 1.725 giáo viên.

- Bậc trung học:  ở tỉnh Biên Hòa bắt đầu hình thành từ năm 1956 với sự ra đời của Trường trung học Ngô Quyền. Từ đó, hệ thống các trường trung học lần lượt ra đời.

+, Trường trung học Ngô Quyền thành lập vào năm 1956, nhờ có sự vận động của nhà giáo Hồ Văn Tam, Hiệu trưởng Trường tiểu học tỉnh lỵ, đồng thời là Thanh tra tiểu học tỉnh Biên Hòa. Trường tiểu học tỉnh lỵ đã cắt 3 phòng học để Trường trung học Ngô Quyền mở 3 lớp đệ thất. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Phạm Văn Nga, Trưởng ty giáo dục tỉnh Biên Hòa, nhưng ông Hồ Văn Tam là người điều hành mọi công việc. Các thầy giáo kỳ cựu nhất của Trường tiểu học Nguyễn Du như: Phạm Văn Tiếng, Đinh Văn Sái, Bùi Quang Huệ được cử sang đứng lớp. Nhiều bộ môn trường phải mời thầy giáo từ Sài Gòn về dạy. Những năm học sau, do số học sinh đông, trường phải điều một số lớp sang học ở Trường nữ tiểu học và Trường nữ công gia chánh. Đến năm 1960, chính quyền Sài Gòn mới cho xây dựng một cơ sở riêng cho trường, nằm ở vị trí của Trường PTTH Ngô Quyền hiện nay. Cũng năm này, Trường trung học Ngô Quyền mới có một hiệu trưởng chính thức là ông Huỳnh Quốc Tuấn. Những năm 70, Trường trung học Ngô Quyền đã có gần 2000 học sinh, trên 50 lớp đệ nhất và đệ nhị cấp với 80 giáo viên. Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, Trường trung học Ngô Quyền không chỉ là trường trung học đầu tiên của cả miền Đông Nam bộ mà còn là chiếc nôi đào tạo nhiều nhân tài cho tỉnh Đồng Nai.

+ Các trường trung học công lập. Từ chỗ chỉ có 1 trường, đến những năm 1970, tỉnh Biên Hòa có 5 trường trung học công lập khác, gồm: Trường Phước Thành (đặt ở quận lỵ Tân Uyên, có 12 lớp, 750 học sinh và 16 giáo viên); Trường Dĩ An (quận lỵ Dĩ An, 1.437 học sinh, 27 lớp, 33 giáo viên); Trường Long Thành (thành lập ngày 12­ - 8­ - 1960, 1.332 học sinh, 25 lớp, 26 giáo viên); Trường Nhơn Trạch (quận lỵ Nhơn Trạch, 815 học sinh, 12 lớp, 18 giáo viên); Trường Công Thanh (quận lỵ Công Thanh, 852 học sinh, 12 lớp, 20 giáo viên).

 Đến năm 1973, tỉnh Biên Hòa có 6 trường trung học công lập, với 7.844 học sinh, 135 lớp và 189 giáo viên. Riêng Trường trung học Ngô Quyền đã chiếm gần một phần ba tổng số học sinh các trường công lập.

+ Các trường trung học tỉnh hạt. Đây cũng là các trường công lập, nhưng phụ huynh học sinh tham gia xây cất trường và đóng một phần học phí nhẹ hơn ở các trường bán công, tư thục. Tỉnh Biên Hòa có 5 trường trung học tỉnh hạt với 27 lớp, 1.332 học sinh và 30 giáo viên, gồm: Hố Nai (xã Hố Nai, quận  Đức Tu, có 11 lớp với 592 học sinh và 12 giáo viên); Hiệp Hòa (xã  Hiệp Hoà, quận  Đức Tu, có 11 lớp, 447 học sinh và 6 giáo viên); Tân Vạn (xã  Tân Vạn, quận  Đức Tu, có 2 lớp, 110 học sinh và 4 giáo viên); Bửu Long (xã  Bửu Long, quận  Đức Tu, có 2 lớp, 110 học sinh và 4 giáo viên); Phước Thiền (xã  Phước Thiền, quận  Nhơn Trạch, có 2 lớp, 110 học sinh và 4 giáo viên).

+ Các trường trung học bán công. Toàn tỉnh chỉ có 3 trường trung học bán công, đến năm học 1973 - 1974 có 44 lớp, 2.299 học sinh và 89 giáo viên, gồm: Trường trung học bán công Dĩ An (thành lập từ năm 1956, đặt tại quận lỵ Dĩ An, có 12 lớp, 932 học sinh và 27 giáo viên); Trường trung học bán công Trần Thượng Xuyên (thành lập từ năm 1960, đặt tại tỉnh lỵ, cạnh Trường trung học Ngô Quyền, có 21 lớp, 1.687 học sinh và 42 giáo viên); Trường trung học bán công Long Thành (đặt tại quận lỵ Long Thành, cạnh Trường trung học Long Thành, có 11 lớp, 680 học sinh và 20 giáo viên).

+ Các trường trung học tư thục. Khác với các loại hình trường trung học khác, trường trung học tư thục ở tỉnh Biên Hòa ra đời sớm hơn. Vào năm 1960, tỉnh Biên Hòa đã có 11 trường trung học tư thục. Đến năm học 1973 - 1974, phát triển thành 21 trường, với 15.977 học sinh và 364 giáo viên. Phần lớn các trường trung học tư thục tập trung ở quận Đức Tu và thuộc quyền quản lý của giáo hội Công giáo. Chẳng hạn, xã Bình Trước có 5 trường, xã Hố Nai có 8 trường. Cụ thể các trường trung học tư thục ở tỉnh Biên Hòa phân bổ như sau: Quận Đức Tu có 17 trường: Khiết Tâm, Phan Chu Trinh, Minh Tân, Bồ Đề, Dục Đức (xã  Bình Trước), Bùi Chu, La - san Văn Côi, Minh Đức, Thánh Tâm, Đa Minh Úy, Minh Thế, Chân Lý, Thân Dân (xã  Hố Nai), Thăng Long, Vinh San, Viên Giác (xã  Tam Hiệp), Thánh Gia (Bùi Tiếng); quận Công Thanh có 2 trường: Nguyễn Trường Tộ (xã  Thái Hưng), Quốc Tuấn (xã  Bình Thạnh); quận Nhơn Trạch có 2 trường: Lê Chí Mỹ (xã  Đại Phước), Thanh Minh (xã  Vĩnh Thanh).

Tổng hợp, các loại hình trường trung học ở tỉnh Biên Hòa đến năm học 1973 - 1974 như sau:

TRUNG HỌC

TRƯỜNG

LỚP

GIÁO VIÊN

HỌC SINH

Công lập

6

 135

 189

 7.844

Tỉnh hạt

5

 27

 30

 1.332

Bán công

3

 44

 89

 2.299

Tư thục

21

 217

 364

 15.977

TỔNG CỘNG

35

 423

 672

 27.442

- Trường chuyên nghiệp, dạy nghề: Trong hơn 20 năm, giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề ở tỉnh Biên Hòa không có sự phát triển đáng kể. Bên cạnh Trường mỹ nghệ thực hành thành lập từ thời Pháp, tỉnh Biên Hòa có các trường chuyên nghiệp, dạy nghề sau:

+ Trường trung học Nông lâm súc thành lập năm 1970, đặt tại xã An Hòa Hưng, quận Đức Tu, có 3 giáo viên dạy 2 lớp sáu và bảy nông - lâm - súc cho 103 học sinh.

+ Trường tá viên điều dưỡng thành lập ngày 3­ - 8­ - 1968, nhưng chính thức khai giảng vào tháng 2­ - 1969. Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa thì trường được thành lập do “sáng kiến của bác sĩ Nghiêm Xuân Thọ, Trưởng ty Y tế Biên Hòa kiêm Giám đốc Bệnh viện Biên Hòa, với sự trợ giúp tài chính của bác sĩ Vanderhoof, Trưởng vùng III y tế cùng sự trợ giúp của đại tá Tỉnh trưởng Lâm Quang Chính về địa điểm...”. Chương trình giảng dạy của trường này theo hệ thống các trường tá viên điều dưỡng của Bộ y tế. Mỗi năm trường đào tạo khoảng 50 học viên. Ông Nghiêm Xuân Thọ trực tiếp làm Giám đốc trường.

+ Trường trung học tư thục Quốc Thịnh đặt ở xã Tam Hiệp, quận Đức Tu, có 6 lớp nông - lâm - súc, có 4 giáo viên tư thục và 250 học sinh.

c) Nhận xét chung về giáo dục từ năm 1954 - 1975:

· Nếu chỉ căn cứ vào số lượng trường lớp, học sinh thì chưa bao giờ giáo dục ở Biên Hòa - Đồng Nai lại phát triển nhanh chóng như vậy. Những nguyên nhân khiến có sự phát triển ấy không nằm ngoài những biến đổi về kinh tế, xã hội, đặc biệt là chủ trương của chính quyền Mỹ - tay sai thời bấy giờ ở cả miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, trong sự phát triển ào ạt ấy tự thân nó cũng bộc lộ đầy đủ đường hướng của nền giáo dục thực dân kiểu mới. Vào năm 1969, dân số tỉnh Long Khánh là 142.782 người. Bình quân 5,3 người dân của tỉnh này có 1 học sinh phổ thông của tất cả các loại hình trường lớp. Cụ thể, tình hình thanh thiếu niên được đi học như sau: bậc tiểu học (kể cả trường sơ cấp, trường ấp tân sinh) 5,9 người dân có 1 học sinh, nhưng bậc trung học (chủ yếu là đệ nhất cấp) phải 69 người dân mới có 1 học sinh.

Còn ở tỉnh Biên Hòa, nơi được xem là có sự phát triển giáo dục nhất các tỉnh miền Đông, vào năm 1971 (dân số 494.674 người), thì cứ 5,3 người dân có 1 học sinh phổ thông. Thế nhưng, vẫn có sự chênh lệch rất lớn giữa học sinh tiểu học và trung học. Tỷ lệ học sinh của 2 bậc học này trên số dân là: 1/4,7 (bậc tiểu học) và 1/18 (bậc trung học).

Sự chênh lệch trong phát triển giáo dục giữa nông thôn và đô thị rất đáng kể. Hầu hết các trường trung học đều nằm tại tỉnh lỵ và các quận lỵ. Quận Xuân Lộc có 9 trong tổng số các trường trung học của tỉnh Long Khánh. Còn quận Đức Tu thì chiếm đến 23 trường trong tổng số 35 trường trung học của tỉnh Biên Hòa. Đây cũng là tình hình chung của nền giáo dục vùng tạm chiếm ở miền Nam trước năm 1975. Chính cố vấn Mỹ Donald M. Knox, Trưởng phái đoàn cố vấn Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã nhận xét: toàn miền có khoảng 2,6 triệu các em tuổi từ 12 - 18 nhưng chỉ có 60 vạn em có chỗ học trong các trường trung học. Hay như nội san AĐS cho biết: “Cứ 100 em vào lớp đầu của bậc tiểu học thì chỉ có 3 em được học trung học đệ nhị cấp, còn 97 em bị hất ra ngoài nền giáo dục đại chúng của ông Thiệu, và trong tiểu học có 51% học sinh không được học lên lớp 4”([10][61]).

· Trong nền giáo dục dưới chế độ Mỹ - tay sai, các loại hình trường ngoài công lập, nhất là trường tư thục phát triển khá mạnh, trở thành hiện tượng đặc biệt. Theo thống kê của Bộ giáo dục (ngụy), năm học 1972 - 1973, miền Nam có 2.645 trường tư các loại, với 886.321 học sinh và 24.809 giáo viên. Học sinh trường trung học tư thục bao giờ cũng chiếm trên 50% tổng số học sinh trung học. Thời Pháp thuộc, trường tư thuộc nhà Dòng đã phát triển, nhưng nếu so với thời kỳ này thì phải nói đến vai trò gần như “độc quyền” của nó. Theo báo Chính Luận, ngày 26 - 6 - 1973, 700 trong tổng số trên 800 trường trung học tư thục thuộc về giáo hội Công giáo và Phật giáo. Sự phát triển mạnh mẽ các loại hình trường tư thục ngoài lý do kinh tế ([11][62]), nguyên nhân chính không ngoài sự lợi dụng tôn giáo để thực hiện những ý đồ chính trị của nhà cầm quyền. Tại tỉnh Long Khánh, tỷ lệ học sinh trường trung học công lập chỉ chiếm 29%, học sinh tiểu học công lập chiếm 65% tổng số học sinh. Còn ở tỉnh Biên Hòa, tỷ lệ học sinh tiểu học công lập có cao hơn (86,5%), nhưng học sinh trung học công lập lại ít hơn (28,5%). Có những vùng, trường tư thục thuộc giáo hội Công giáo chiếm gần tuyệt đối như xã Hố Nai (quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa), quận Kiệm Tân, tỉnh Long Khánh.

· Từ năm 1954 - 1975, chính quyền Sài Gòn đã thực hiện quá trình chuyển đổi từ nền giáo dục mang nặng ảnh hưởng của thực dân Pháp sang nền giáo dục thực dụng của Mỹ. Nhất là “từ năm 1961 - 1968, chúng nghiên cứu và thí nghiệm các loại trường tiểu học cộng đồng, trung học tổng hợp, đẩy mạnh nghiên cứu và thực nghiệm nội dung giáo dục kỹ thuật công nông nghiệp...”([12][63]). Tuy nhiên “các trường chuyên nghiệp và các trường kỹ thuật rất cần thiết để tạo ra những chuyên viên kỹ thuật thì lại không được chú ý “([13][64]). Trong một dự án về giáo dục chuyên nghiệp, chính các cố vấn Mỹ đã nhận xét miền Nam đang ở vào tình trạng “thiếu hụt công nhân lành nghề rất trầm trọng”([14][65]). Thời đó, cả tỉnh Biên Hòa, nếu tính cả trường chuyên nghiệp đã được người Pháp mở từ đầu thế kỷ XX, chỉ có 4 trường, nhưng 1 trường do ngành y tế quản lý, 1 trường tư thục. Còn tại tỉnh Long Khánh thì hầu như không có trường chuyên nghiệp, dạy nghề nào.

· Trên đây mới chỉ là diễn trình về nền giáo dục trong vùng tạm chiếm từ năm 1954 - 1975. Còn thực chất nền giáo dục ấy? Ý kiến của một tác giả ngay trong lòng chế độ này là một nhận xét: “Giáo dục Việt Nam vẫn ca tụng những lý tưởng nhân bản, dân tộc, khoa học, khai phóng: Còn gì quý báu, cao cả hơn. Nhưng nhân bản ở chỗ nào khi một nửa số trẻ em trai gái không được đi học tiểu học; khi 50% dân chúng còn mù chữ? Nhân bản chỗ nào khi nó chỉ nhằm phục vụ cho một thiểu số trưởng giả ở thành thị; khi đại đa số nhân dân nông thôn và thành thị nghèo hèn bị lãng quên và khinh bỉ? Dân tộc ở chỗ nào khi chính tiếng quốc ngữ bị các nhà đại trí thức khinh bỉ, chà đạp; khi giai cấp thượng lưu của xã hội cho con cái đi học trường Tây, trường Mỹ...? Khoa học ở chỗ nào khi có cái học từ chương, buôn bằng bán chữ; khi tổng số học sinh, sinh viên kỹ thuật chỉ là 0,5% tổng số học sinh, sinh viên; khi sự mê tín dị đoan còn ngự trị trong khắp miền thôn quê 80% dân số ? Khai phóng ở đâu khi chung quanh toàn những cảnh ngông cuồng, ăn cướp, ăn cắp... đưa lên làm mẫu mực; ...khi những bộ mặt to lớn chường ra đầy dơ bẩn và độc hại ? Khi xã hội dành cho đại đa số thế hệ đang lên số phận bi đát của bần cùng, nhục nhã, lầm than, tuyệt vọn ?”([15][66]).

Tuy nhiên, giữa mục đích và thực tiễn không phải bao giờ cũng đồng nhất. Khi chính quyền Mỹ và tay sai sử dụng giáo dục như một công cụ để thực hiện ý đồ chính trị của mình thì kết quả khách quan của nó phần nào đưa đến một thực tế là mặt bằng dân trí từ năm 1954 - 1975 cao hơn trước khá nhiều. Và dĩ nhiên, không phải tất cả sản phẩm của nền giáo dục ấy đều như nhà cầm quyền mong muốn, nhất là trên một vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, sự tác động của cuộc kháng chiến lúc âm thầm, khi quyết liệt luôn tác động đến tâm thức của học sinh và đội ngũ thầy, cô giáo. Ở Biên Hòa - Đồng Nai, từ những mái trường của chính quyền Mỹ - tay sai đã có biết bao chàng trai, cô gái đi kháng chiến, hoặc trở thành những trí thức cho giai đoạn cách mạng sau này.



([1][52]) Bùi Đức Tịnh: Giáo dục tại Thành phố từ trước đến sau ngày hoàn toàn giải phóng trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh; tập II; Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; 1988; tr. 433.

([2][53]) Võ Quang Phúc: Âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ vào nền giáo dục phổ thông ở miền Nam Việt Nam trong Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ -   ngụy; tập II; Nxb. Văn hóa; Hà Nội; 1979; tr. 146   -   147.

([3][54]) Thanh Nam; Sđd; tr. 96.

([4][55]) Dự án giáo dục tại Việt Nam cộng hòa; USAID; Sài Gòn; 1966, dẫn theo Võ Quang Phúc; Sđd; tr.148.

([5][56]) Niên giám thống kê giáo dục 1970   -   1971. 

([6][57]) Tư liệu sử dụng từ các cuốn: Địa phương chí tỉnh Long Khánh, các năm 1968, 1972 của Tòa hành chánh tỉnh Long Khánh xuất bản và lời kể của các nhà giáo ở huyện Long Khánh, nhất là ông Đặng Huy Bí (Hiệu trưởng Trường tiểu học tỉnh lỵ, Thanh tra tiểu học tỉnh).

([7][58]) Theo Nguyễn Đình Đầu; Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam kỳ lục tỉnh; Nxb. TP. Hồ Chí Minh; 1994; tr. 116 - 121.

([8][59]) Theo Lương Văn Lựu; Biên Hòa sử lược (toàn biên); Tác giả xuất bản; 1960; tr. 88   -   89.

([9][60]) Theo Các số liệu trong phần giáo dục tỉnh Biên Hòa được lấy từ tài liệu trên 

([10][61]) Theo Thanh Nam; Sđd; tr. 98   -   99.

([11][62]) Theo Bộ trưởng Bộ Kinh tế (chế độ Sài Gòn), Nguyễn Văn Hảo, tỷ lệ ngân sách giáo dục giảm dần trong ngân sách quốc gia: các năm 1954 - 1963 khoảng 5,5%, các năm 1964 - 1970 còn 4,5%. Trong khi đó, ngân sách dành  cho quân  sự không ngừng tăng: năm 1960 là 46%, năm 1962 là 53,81%, từ năm 1966 trở đi trên 60% (Dẫn theo Võ Quang Phúc; Sđd; tr. 152 - 153). 

([12][63]) Hồ Hữu Nhựt; Phong trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học sinh sinh viên Sài Gòn; Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; 1984; tr. 31.

([13][64]) Hồ Hữu Nhựt; Sđd; tr. 12   -   13.

([14][65]) Dẫn theo Võ Quang Phúc; Sđd; tr. 158.

([15][66]) Nguyễn Tử Lộc; Thực chất giáo dục miền Nam Việt Nam ; Tạp chí Văn học; số 69/ 1966; tr.4. 

Comments