4.2. Từ năm 1979 – 1986

IV.2.1. Tháng 12 –1 976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã xác định giáo dục là “nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”([1][68]). Đại hội đã quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (hai lần trước vào các năm: 1950, 1956). Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần IV, ngày 11 - 1 - 1979, Bộ Chính trị TW Đảng đã ra Nghị quyết số 14 – NQ/TW về cải cách giáo dục. Nội dung và mục tiêu cơ bản của cuộc cải cách giáo dục là:

- Coi giáo dục là một bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng, văn hoá, nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật. Giáo dục là nhân tố có tính quyết định trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và đội ngũ lao động mới có đạo đức, kiến thức, kỹ năng, sức khoẻ.

- Thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành, từng bước thu hút tất cả trẻ em trong độ tuổi vào nhà trẻ và lớp mẫu giáo, phấn đấu cho thế hệ trẻ đến tuổi trưởng thành được học đầy đủ đến bậc phổ thông trung học.

- Thực hiện tốt nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Lao động sản xuất trong trường phổ thông có tính chất kỹ thuật tổng hợp. Trong trường đại học và chuyên nghiệp, lao động sản xuất gắn với đào tạo nghề và nghiên cứu, thực hiện khoa học.

- Cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, và phương pháp giáo dục ([2][69]).

 Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ II (4 – 1977), lần thứ III (1 – 1983) đã chỉ rõ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của tỉnh trong giai đoạn mới là: thực hiện tốt chủ trương cải cách giáo dục của Đảng, tiếp tục mở rộng về qui mô, hoàn thiện về hệ thống giáo dục và từng bước thực hiện nguyên lý giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo.

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm học 1979 – 1980, ngành giáo dục và đào tạo Đồng Nai đã triển khai những nhiệm vụ phát triển và điều chỉnh hệ thống giáo dục, từng bước thực hiện chương trình cải cách do Bộ giáo dục – đào tạo chỉ đạo, tăng cường các điều kiện về đội ngũ và cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng đào tạo.

IV.2.2. Sau 8 năm thực hiện cải cách giáo dục, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do cơ sở vật chất thiếu thốn, tình trạng học ca ba ngày một tăng, đời sống giáo viên giảm sút, một số khá đông anh chị em phải nghỉ việc, bỏ việc, chương trình sách giáo khoa thay đổi liên tục, song sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng: Quy mô giáo dục tiếp tục tăng cao, mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh, đảm bảo về cơ bản nhu cầu học tập của con em nhân dân. Hệ thống giáo dục quốc dân của tỉnh điều chỉnh thêm một bước. Các ngành học, cấp học phát triển cân đối và đồng bộ. Các điều kiện dạy học nhất là đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất trường học được bổ sung đáng kể. Chương trình cải cách giáo dục do Bộ chỉ đạo được triển khai thực hiện nghiêm túc trong tất cả các ngành học, cấp học và nhất là ở bậc Tiểu học.

Cuối năm học 1986 – 1987, ngành giáo dục – đào tạo của tỉnh đã phát triển với qui mô lớn ở tất cả các ngành học, cấp học:

a) Giáo dục mầm non:

Ngành học mầm non từ chỗ không nằm trong hệ thống giáo dục trong chế độ Sài Gòn, sau mười năm xây dựng, toàn tỉnh có 181 trường, 1.082 phòng học, có 44.893 cháu do 1.763 giáo viên phụ trách.

b) Giáo dục phổ thông:

 

CẤP HỌC

TRƯỜNG

PHÒNG HỌC

GIÁO VIÊN

HỌC SINH

Tiểu học

PTCS (C1+C2)

THCS (C2)

PTTH

66

180

25

20

2.748

 -

1.025

261

5.464

 -

2.647

695

238.034

 -

92.698

16.491

Tổng cộng

291

4.034

8.806

350.220

c) Giáo dục thường xuyên:

Toàn tỉnh có 4 trường BTVH tập trung (2 trường tỉnh và 2 trường huyện), 18 trường BTVH tại chức (1 trường tỉnh và 17 trường huyện). Tổng số học sinh các cấp là 9.318, trong đó BTVH cấp 2 là 5.690, cấp 3 là 3.628 học sinh.

Số học viên các lớp xóa mù chữ phát triển ở hầu hết các xã phường trong toàn tỉnh, thu hút khá đông người lao động (nhất là thanh niên) theo học các chương trình ngắn hạn hòng giúp kiến thức văn hóa và kỹ thuật.

d) Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề:

Đến năm học 1986 - 1987, tỉnh Đồng Nai có 1 trường cao đẳng, 6 trường THCN và 3 trường công nhân kỹ thuật:

- Trường cao đẳng ư phạm: 600 sinh viên.

- Trường trung học sư phạm: 600 giáo sinh.

- Trường bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục tỉnh: 150 người.

- Trường sư phạm mầm non: 250 giáo sinh.

- Trường trung học kinh tế: 200 học sinh.

- Trường trung học y tế: 450 học sinh.

- Trường trung học văn hóa - nghệ thuật: 100 học sinh.

- Trường trung học nông nghiệp: 300 học sinh.

- Trường công nhân kỹ thuật xây dựng: 300 học sinh.

- Trường công nhân lái xe: 250 học sinh.

- Trường công nhân kỹ thuật cơ điện: 450 học sinh.

Ngoài ra, còn có một số trường sơ cấp như: Nuôi dạy trẻ, Lâm nghiệp, Thủy lợi, Thương nghiệp, Y tá (được hình thành từ cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, đến năm học 1996 - 1997 đã được sát nhập với các trường trung học theo chỉ đạo của UBND tỉnh).

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai còn có các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề do các bộ, ngành Trung ương xây dựng để đào tạo cán bộ trung cấp và công nhân kỹ thuật cho khu vực phía Nam:

- Trường cao đẳng l âm nghiệp, đặt tại huyện Thống Nhất.

- Trường trung cấp lâm nghiệp, đặt tại huyện Thống Nhất.

- Trường trung cấp hóa chất, đặt tại thành phố Biên Hòa.

- Trường trung cấp thống kê, đặt tại thành phố Biên Hòa.

- Trường trung học trang trí mỹ thuật, đặt tại thành phố Biên Hòa.

- Trường trung học Đo đạc bản đồ II, đặt tại huyện Long Thành.

- Trường lục quân II, đặt tại huyện Long Thành.

- Trường công nhân Lắp máy số II, đặt tại huyện Long Thành.

- Trường công nhân cơ giới III, đặt tại huyện Thống Nhất.

- Trường công nhân cơ khí nông nghiệp, đặt tại huyện Vĩnh Cửu.

Các trường chuyên nghiệp, dạy nghề đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng một số lượng lao động kỹ thuật và cán bộ nghiệp vụ, cán bộ quản lý rất lớn, phục vụ công tác phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Đặc biệt, đã đào tạo được trên 3.000 giáo viên THCS, tiểu học, mầm non đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng các ngành học, cấp học trong tỉnh.

e) Bộ máy quản lý giáo dục các cấp:

Cùng với sự phát triển của ngành học, cấp học, bộ máy quản lý giáo dục từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được kiện toàn.

Sở giáo dục - ào tạo được tăng cường thêm cán bộ quản lý sau khi hợp nhất với Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Tổng số CBCNV của cơ quan Sở là 76 người ở 9 phòng, ban trực thuộc. Phòng mẫu giáo được đổi thành phòng giáo dục mầm non, quản lý cả mẫu giáo và nhà trẻ.

Toàn tỉnh có 11 phòng giáo dục, gồm thành phố Biên Hòa, các huyện: Châu Thành, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Xuyên Mộc và Phòng mầm non Công ty cao su Đồng Nai. Riêng Phòng giáo dục huyện Duyên Hải năm 1979 đã cắt chuyển về thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định của Chính phủ.

Toàn tỉnh có 505 ban giám hiệu trường học với tổng số 1.139 hiệu truởng, hiệu phó (trong đó có 592 nữ).

Hầu hết cán bộ quản lý của ngành đã được đào tạo đạt tiêu chuẩn về chuyên môn. Trên 50 cán bộ sở, phòng, hiệu trưởng, hiệu phó các trường được bồi dưỡng nghiệp quản lý tại Trường cán bộ quản lý TW 2 của Bộ giáo dục - đào tạo và Trường cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh.



([1][68])Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam

([2][69]) Trần Hồng Quân (Tổng chủ biên); 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 -  1995); Nxb. Giáo dục; 1995; tr.24 - 25

Comments