4.3. Từ năm 1986 - 1998

IV.3.1. Tháng 12 - 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta: thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc ở tất cả các lĩnh vực. Ngành giáo dục - đào tạo đã chủ trương 10 tư tưởng chỉ đạo để xây dựng một chương trình phát triển giáo dục từ năm 1987 - 1990.

Tháng 7 - 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định và tiếp tục phát triển đường lối đổi mới. Bộ giáo dục - đào tạo đã đề ra 8 chương trình - mục tiêu cho ngành trong 5 năm (1991 - 1995). Đến tháng 1 - 1993, tại Hội nghị lần thứ 4, BCH. TW Đảng (khóa VII) đã đề ra nghị quyết về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” (NQTW4). Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của của BCH.TW Đảng về giáo dục và đào tạo.

NQTW4 đã nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo:

- Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu, phải coi đầu tư cho giáo dục và đào tạo là một trong trong những hướng chính của đầu tư phát triển; huy động toàn xã hội góp sức xây dựng giáo dục.

- Giáo dục phải nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực.

- Giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, phải được tổ chức để mọi người đều được học và học thường xuyên suốt đời.

- Đa dạng hóa hình thức giáo dục đào tạo, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục; người đi học nói chung phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí cho đào tạo; Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học ([1][70]).

NQTW 4 cũng vạch ra 12 điểm về chủ trương, chính sách và biện pháp lớn để tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

Đến Hội nghị BCH. TW lần thứ 2 (khóa VIII), Đảng đã định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa với 6 quan điểm cơ bản:

- Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo, trong chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội. Phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường. Chống khuynh hướng “thương mại hóa” trong giáo dục, đề phòng khuynh hướng “phi chính trị” hóa trong giáo dục - đào tạo .

- Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.

- Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Mọi người được đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Mọi người chăm lo cho giáo dục. Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội, các gia đình đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

- Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh.

- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.

- Giữ vai trò nòng cốt của trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo.

Nghị quyết TW 2 (khóa 8) cũng nêu rõ nhiệm vụ, mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2.000 và những giải pháp chủ yếu.

Như vậy, trong hơn mười năm thực hiện đổi mới toàn diện và triệt để mọi mặt đời sống, xã hội, bằng nhiều nghị quyết mang tính lịch sử, Đảng đã định rõ chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, giải phóng nhiều tiềm lực to lớn cho giáo dục - đào tạo phát triển lâu dài.

Thực hiện những quan điểm và chủ trương của Đảng, Tỉnh Đảng bộ Đồng Nai đã định hướng cho công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh gắn liền với đổi mới kinh tế - xã hội. Nghị quyết Tỉnh đảng bộ lần thứ V và VI đã nêu rõ quan điểm: “Đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo hướng xã hội hóa, củng cố, duy trì phát triển về qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả “ và xác định nhiệm vụ, mục tiêu và biện pháp nhằm tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh Đồng Nai đến năm 2.000 như sau :

 “Thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường lớp đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của địa phương. Hoàn chỉnh và thực hiện tốt qui chế hoạt động đối với từng loại hình trường lớp. Thực hiện bằng được việc xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, phát triển hệ thống giáo dục bổ túc văn hóa. Củng cố và mở rộng trường mầm non tạo điều kiện tốt để huy động tối đa trẻ em trong độ tuổi vào lớp 1. Phấn đấu trước năm 2.000, hoàn thành phổ cập tiểu học trong toàn tỉnh, thực hiện được việc phổ cập cấp II ở thành phố Biên Hòa, các thị trấn của huyện và các xã có điều kiện. Huy động phần lớn thanh niên có trình độ văn hóa lớp 9 vào các trường bổ túc văn hóa có dạy nghề. Quan tâm phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc và có chính sách phù hợp cho học sinh giáo viên các trường dân tộc nội trú.

Hàng năm cần tăng tỉ trọng đầu tư ngân sách Nhà nước và huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế, nguồn viện trợ quốc tế cho giáo dục - đào tạo. Thực hiện tốt chương trình chuẩn hóa đội ngũ giáo viên. Hoàn chỉnh trung tâm sư phạm của tỉnh để bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ngành tăng cả số lượng và chất lượng. Có chế độ thích hợp giảm bớt khó khăn về đời sống để ổn định đội ngũ giáo viên, nhất là đối với cấp mẫu giáo, nhà trẻ và giáo viên ở nông thôn, xã miền núi. Thực hiện tốt chủ trương phân ban ở bậc phổ thông trung học. Coi trọng đầu tư xây dựng hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm để bồi dưỡng đào tạo nhân tài. Về cơ sở vật chất ngành đến năm 2.000 phấn đấu không còn lớp học ca 3 ở những nơi dân cư ổn định, không còn lớp tranh tre nứa lá, bảo đảm đủ phương tiện dụng cụ giảng dạy và học tập cho thầy và trò.

Quan hệ với Bộ giáo dục - đào tạo và các trường đại học để mở các phân hiệu đại học phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thành lập trường đại học dân lập của tỉnh. Quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, lao động có kỹ thuật hiện có và theo dõi sự phát triển tài năng của cán bộ để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo lại, đào tạo trên đại học, xây dựng đồng bộ đội ngũ công chức và nhân viên lành nghề trên các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, văn hóa, nghệ thuật. Mở rộng chế độ cấp học bổng, tài trợ cho con em gia đình lao động nghèo học giỏi và diện chính sách để có điều kiện học tập, phát triển, sau khi tốt nghiệp về phục vụ cho địa phương”.

IV.3.2. Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 khi mới bước vào thực hiện công cuộc đổi mới theo đường lối của Đảng, sự nghiệp giáo dục - đào tạo tỉnh Đồng Nai bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp. Học sinh bỏ học, lưu ban có chiều hướng gia tăng. Số lượng người mù chữ chiếm tỉ lệ cao. Nhiều học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề không tìm được việc làm. Trường lớp xuống cấp và thiếu thốn nghiêm trọng, mỗi năm có từ 300 đến 350 lớp phải học ca 3, nhất là ở tiểu học, giáo viên thiếu, yếu và không đồng bộ, nhiều anh chị em đã bỏ việc, nghỉ việc. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo không đáp ứng được yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, đặc biệt là chậm chuyển biến để thích ứng với nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN.

Từ năm học 1990 - 1991 được sự chỉ đạo của Bộ giáo dục - đào tạo và Tỉnh ủy, UBND tỉnh, ngành giáo dục - đào tạo Đồng Nai đã sơ kết, rút kinh nghiệm 3 năm thực hiện đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo và xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2.000 và 2.010. Những năm tiếp theo ngành đã xây dựng các chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa VII) và Nghị quyết TW2 (khóa VIII) nhằm đẩy mạnh tốc độ và hiệu quả công cuộc đổi mới giáo dục - đào tạo của tỉnh.

Công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh tập trung vào những nội dung lớn sau đây:

- Củng cố, sắp xếp lại hệ thống giáo dục - đào tạo và mạng lưới trường lớp cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo sự liên thông, liên kết giữa các ngành học, cấp học, mở rộng qui mô phát triển phục vụ mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.

- Thực hiện mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa giáo dục - đào tạo, đa dạng hóa các loại hình trường lớp, đáp ứng mọi nhu cầu học tập của con em nhân dân và thu hút ngày càng nhiều các nguồn lực phục vụ cho phát triển giáo dục - đào tạo.

- Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường học. Tăng cường đào tạo để đảm bảo số lượng, đồng thời tích cực bồi dưỡng để nâng cao chất lượng. Giải quyết chính sách để thu hút cán bộ giáo viên về các vùng núi, vùng sâu.

 - Tăng cường kinh phí và cải tiến trong công tác quản lý để nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nhất là đầu tư cơ sở vật chất trường học.

- Cải tiến công tác quản lý giáo dục, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.

IV.3.3. Quá trình đổi mới của sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Đồng Nai diễn ra một cách toàn diện và sâu sắc:

a) Củng cố, sắp xếp hệ thống giáo dục - đào tạo:

Bắt đầu từ năm học 1987 - 1988 việc củng cố, sắp xếp lại hệ thống giáo dục và mạng lưới trường lớp đã được đặt ra, nhưng đến năm học 1991 - 1992 khi có Quyết định 255/CT của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư 53/ TT của Bộ giáo dục - đào tạo về tổ chức sắp xếp mạng lưới trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân thì công tác củng cố, sắp xếp hệ thống giáo dục - đào tạo và mạng lưới trường lớp của tỉnh mới thực sự có chuyển biến mạnh mẽ. Ngày 24 - 04 - 1992, Sở giáo dục - đào tạo đã có công văn số 76/KH định hướng một số vấn đề cơ bản về tổ chức, sắp xếp mạng lưới trường mầm non và phổ thông trên địa bàn tỉnh với chương trình dự kiến trong 4 năm 1992 - 1996.

Ngày 24 - 11 - 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP qui định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng, chứng chỉ về giáo dục và đào tạo của nước CHXHCN Việt Nam. Theo đó cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân nước CHXHCN Việt Nam bao gồm: Giáo dục mầm non (nhà trẻ, mẫu giáo); Giáo dục phổ thông (tiểu học, THCS, TH chuyên ban); Giáo dục chuyên nghiệp (trung học chuyên nghiệp, trung học nghề, đào tạo nghề); Giáo dục đại học (cao đẳng, đại học, sau đại học); Giáo dục thường xuyên.

Cơ cấu khung nêu trên thể hiện nguyên tắc: đảm bảo nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời cho mọi người và ở mọi lứa tuổi.

Nghị định 90/CP cũng qui định hệ thống trường lớp của nền giáo dục quốc dân bao gồm: Loại hình trường lớp công lập, bán công, dân lập và tư thục; loại hình trường lớp dành cho đối tượng phổ biến, dành cho học sinh có tài năng, năng khiếu và các loại hình trường lớp dành cho đối tượng đặc biệt như trẻ khuyết tật, chậm đi học, bỏ học; hoạt động giáo dục, đào tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức: dài hạn, ngắn hạn, tập trung, không tập trung, đào tạo, bồi dưỡng, chính qui, không chính qui, tự học, từ xa...

Ngày 20 - 04 - 1994, Bộ giáo dục - đào tạo ban hành Thông tư 03/TT hướng dẫn thi hành Nghị định 90/CP của Chính phủ. Thông tư nêu rõ thêm một số vấn đề về hệ thống trường lớp ở bậc học phổ thông và dạy nghề. Trong đó, trường PTCS được tách làm hai cấp riêng biệt (trường cấp I được gọi là “trường tiểu học”, trường cấp II được gọi là “trường PTCS”); trường PTTH vẫn giữ nguyên tên cũ đến khi hoàn thành việc phân ban sẽ đổi thành trường “trường trung học chuyên ban”; “trường trung học nghề” thay thế cho “trường dạy nghề trung học” hiện nay.

Thực hiện các qui định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ giáo dục - đào tạo, ngành giáo dục - đào tạo tỉnh Đồng Nai đã củng cố đã sắp xếp lại các ngành học, cấp học theo cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân.

· Giáo dục mầm non:

Sau khi sáp nhập với các nhà trẻ, đã xây dựng thành một ngành học hoàn chỉnh với ba loại hình trường: Mầm non (nhà trẻ, mẫu giáo hợp nhất), trường mẫu giáo độc lập, nhà trẻ độc lập. Số trường lớp đã tăng từ 137 trường năm học 1987 - 1988 (trừ 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc cắt về tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), lên 203 trường trong năm học 1998 - 1999. Tổng học sinh tăng từ 37.808 lên 47.185 cháu. Ngoài hai trường trọng điểm cải cách của tỉnh, hệ thống trường trọng điểm cải cách của huyện và Công ty cao su Đồng Nai đã được củng cố và phát triển.

· Giáo dục phổ thông:

Ngành đã tiến hành tách các trường PTCS (C1+2) thành trường tiểu học và THCS. Từng bước tách trường cấp 2+3 để xây dựng bậc THPT hoàn chỉnh với hai cấp: THCS và THCB. Riêng THCB mới thực hiện thí điểm phân ban ở các trường: Ngô Quyền, Long Thành, Long Khánh, Thống Nhất A, Thống Nhất B, Tân Phú, Nguyễn Trãi; các trường còn lại chưa phân ban nên giữ nguyên tên gọi là trường PTTH. Bên cạnh các trường phổ thông bình thường, tỉnh đã mở thêm hai trường phổ thông nội trú cho học sinh và con em dân tộc ít người và 4 trường chuyên đào tạo học sinh giỏi: PTTH Lương Thế Vinh, PTCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, PTCS Lê Quí Đôn, PTCS Cao Bá Quát (đến năm học 1997 - 1998, thực hiện chủ trương của Bộ giáo dục - đào tạo, tỉnh đã chuyển 3 trường chuyên PTCS thành các trường phổ thông bình thường).

Năm học 1987 - 1988, toàn tỉnh có 64 trường PTCS cấp I; 129 trường PTCS cấp 1+2; 19 trường PTCS cấp II; 16 trường PTTH với tổng số học sinh 75.430. Trong đó, cấp I có 193.186 học sinh, cấp II có 75.430 học sinh, cấp III có 17.487 học sinh. Kết quả củng cố, sắp xếp và phát triển ngành học đến năm học 1998 - 1999 có 260 trường tiểu học, 9 trường PTCS (cấp 1+2), 119 trường PTCS (cấp 2); 22 trường PTTH cấp 3 (trong đó có 6 trường chuyên ban); 13 trường PTTH cấp 2,3 (trong đó có một trường chuyên ban) với tổng số 466.192 học sinh. Trong đó, tiểu học: 269.639 học sinh; THCS: 152.213 học sinh; THPT: 44.340 học sinh.

· Giáo dục đại học và chuyên nghiệp:

Từ năm học 1987 - 1988, các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề của tỉnh được sắp xếp lại theo yêu cầu đổi mới công tác đào tạo phục vụ kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả quá trình sắp xếp, đổi mới như sau:

- Trường cao đẳng sư phạm (CĐSP) tiếp tục được củng cố và phát triển. Năm học 1987 - 1988, qui mô của trường là 600 sinh viên, đến năm 1997 - 1998 trường được nâng lên thành trường CĐSP đa hệ, đào tạo giáo viên THCS, tiểu học và mầm non với qui mô 3.500 sinh viên.

- Trường trung học sư phạm (THSP) Bà Rịa được bàn giao về tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khi tỉnh này có quyết định thành lập. Năm học 1992 - 1993, tỉnh Đồng Nai xây dựng trường THSP mới hợp nhất với Trường sư phạm mầm non. Đến năm 1997 - 1998, Trường THSP được hợp nhất với Trường CĐSP đa hệ, hệ đào tạo giáo viên tiểu học và mầm non với qui mô 1.500 giáo sinh.

- Trường trung học y tế năm 1990 sát nhập thêm Trường sơ cấp y tế, đào tạo y sĩ đa khoa qui mô 450 học sinh, đến năm 1997 - 1998 thay đổi cơ cấu đào tạo, chủ yếu đào tạo y tá trung cấp, điều dưỡng viên và dược sĩ trung cấp, qui mô giảm xuống còn 150 học sinh.

- Trường trung học kinh tế tiếp tục mở rộng qui mô và hình thức đào tạo, ngoài việc đào tạo kế toán trung cấp, trường còn liên kết với các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh để đào bậc đại học. Qui mô được nâng từ 200 lên 600 trong năm học 1997 - 1998.

- Trường trung học nông nghiệp sau khi hoàn thành nhiệm vụ đào tạo cán bộ trung cấp trồng trọt, thú y, bảo vệ thực vật, từ năm 1990 chỉ giữ lại một bộ phận để bồi dưỡng trình độ sơ cấp chăn nuôi, trồng trọt, bảo vệ thực vật cho cán bộ cơ sở. Toàn bộ cơ sở vật chất nhà trường được chuyển qua xây dựng Trường dân tộc nội trú tỉnh.

- Trường trung học văn hóa - nghệ thuật bước vào thập kỷ 90 đã chuyển sang đào tạo chuyên sâu các bộ môn: múa, nhạc cụ dân tộc và đào tạo cán bộ văn hóa, nghệ thuật cho các vùng dân tộc, đồng thời liên kết với Trường CĐSP để đào tạo giáo viên dạy nhạc ở các trường PTCS.

- Trường công nhân kỹ thuật tiếp tục phát triển mạnh mẽ các ngành nghề cơ khí, động lực, điện công nghiệp, điện tử, may công nghiệp. Ngoài hệ công nhân kỹ thuật, Trường còn phát triển hệ trung học nghề. Qui mô đã tăng từ 450 năm 1987 - 1988 lên 2000 học sinh năm học 1997 - 1998.

- Trường công nhân kỹ thuật xây dựng tiếp tục phát triển các nghề mộc xây dựng, nề, bê tông, sản xuất vật liệu xây dựng. Qui mô tăng từ 300 năm 1987 - 1988 lên 400 học sinh năm học 1997 - 1998.

- Trường công nhân lái xe năm 1992 được đổi thành Trường công nhân kỹ thuật giao thông vận tải Đồng Nai, đào tạo lái xe và lái máy công trình. Qui mô tăng từ 250 lên 350 học sinh.

- Trường trung học nghề được tỉnh thành lập từ năm học 1998 - 1999 với qui mô 400 học sinh, đào tạo các ngành điện công nghiệp, điện lạnh, tin học, hàn...

- Trường đại học dân lập Lạc Hồng được thành lập theo Quyết định số 790/TTg, ngày 23 - 9 - 1997 của Thủ tướng Chính phủ, đặt ở phường Bửu Long, tp. Biên Hòa, đào tạo bậc đại học, cao đẳng, trung cấp và công nhân kỹ thuật với các ngành: công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông, kỹ thuật công trình, kinh tế, ngoại ngữ, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, nông nghiệp sau thu hoạch. Năm học 1997 - 1998 và năm học 1998 - 1999 đều tuyển 1.500 sinh viên.

Ngoài các trường đại học, cao đẳng và THCN của tỉnh, các trường thuộc trung ương đóng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng được sắp xếp lại để đáp ứng yêu cầu đào tạo phục vụ cho sự nghiệp đổi mới về kinh tế - xã hội của cả nước:

- Trường trung học lâm nghiệp TW IV năm 1988 đổi thành Trường trung học lâm nghiệp TW II đào tạo các ngành: lâm sinh, khai thác, kinh tế lâm nghiệp, kế toán, quản lý rừng.

- Trường trung cấp đo đạc bản đồ được đổi thành Trường trung học địa chính 3, đào tạo các ngành: trắc địa, không ảnh, đồ bàn, quản lý ruộng đất.

- Trường cơ khí nông nghiệp đổi thành Trường cơ điện và xây lắp nông nghiệp - công nghiệp thực phẩm, đào tạo công nhân lái máy kéo, điện công nghiệp, công nhân mía đường.

- Trường dạy nghề cơ giới III phát triển mạnh việc đào tạo lái xe, hàn, tiện, máy công trình với qui mô 700 học sinh/năm.

- Trường công nghiệp lắp máy số II tiếp tục đào tạo công nhân hàn, tiện, máy công trình, lái xe với qui mô 800 học sinh/năm.

- Trường trung học thống kê II mở thêm kế toán, tin học với qui mô 600 học sinh/năm.

- Trường mỹ thuật trang trí được nâng cấp thành Trường cao đẳng mỹ thuật từ năm 1998 - 1999, đào tạo các ngành: đồ họa công nghiệp, trang trí nội thất, gốm, điêu khắc, kỹ thuật sắt.

Như vậy, hiện nay, ngành giáo dục đại học và chuyên nghiệp của tỉnh có 16 trường. Trong đó, thuộc tỉnh quản lý là 9 trường, gồm 1 trường đại học, 2 trường cao đẳng và 13 trường chuyên nghiệp, dạy nghề.

· Giáo dục thường xuyên:

Ngành giáo dục thường xuyên cũng đã được sắp xếp lại hệ thống trường lớp. Các trường BTVH tập trung sau khi hoàn thành nhiệm vụ BTVH cho cán bộ và các đối tượng chính sách phục vụ qui hoạch cán bộ của tỉnh, huyện đã chuyển qua hình thức đào tạo tại chức hoặc giải thể. Từ năm học 1987 - 1988, bình quân mỗi huyện có 1 trường BTVH tại chức huyện (thành phố) và một số trường cụm để đáp ứng nhu cầu học tập của người lao động, tại Biên Hòa có một trường BTVH tại chức của tỉnh. Năm học 1995 - 1996, các huyện đã hình thành các trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX) để tổ chức và quản lý các hoạt động dạy, học ngoài chính qui. Đến năm học 1998 - 1999, toàn tỉnh có 1 TTGDTX tỉnh, 9 TTGDTX huyện và thành phố Biên Hòa, 1 trường BTVH tỉnh, 1 trường BTVH của Công ty cao su Đồng Nai, một số lớp BTVH do các trường THCN mở cho học sinh vừa học văn hóa vừa học nghề. Tổng số học viên là 13.528, trong đó cấp 2 là 4.603, cấp 3 là 8.925.

Song song với việc phát triển BTVH, các lớp XMC và phổ cập tiểu học cũng phát triển mạnh mẽ. Từ năm học 1990 - 1991, khi có Chỉ thị số 18/ CT - UBT của UBND tỉnh về công tác xóa mù chữ và phổ cập tiểu học (PCTH), các lớp XMC và PCTH được triển khai rộng khắp các địa bàn trong tỉnh. Công tác kiểm tra công nhận XMC và PCTH đã hoàn thành trên toàn tỉnh vào cuối năm 1998 với 162/163 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về XMC và PCTH.

b) Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo và đa dạng hóa các loại hình trường lớp:

Để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo và đa dạng hóa các loại hình trường lớp nhằm đáp ứng mọi nhu cầu học tập của con em nhân dân, từ năm học 1989 - 1990, ngành giáo dục Đồng Nai tiếp tục phát triển các trường mầm non dân lập và xây dựng các trường dân lập, bán công ở ngành học phổ thông.

Vào năm học 1989 - 1990, toàn tỉnh mới chỉ có 1 trường dân lập C2+3 (Văn Hiến) và một số lớp dân lập ở bậc tiểu học, mầm non, đến năm học 1998 - 1999 đã có 29 trường mầm non dân lập, bán công, 6 trường tiểu học dân lập, 1 trường PTCS dân lập, 5 trường PTTH dân lập; 1 trường mầm non bán công, 12 trường THCS bán công, 8 trường PTTH bán công với tổng số 16.889 học sinh dân lập và 28.800 học sinh bán công.

Bên cạnh các trường cao đẳng, THCN, dạy nghề công lập, tỉnh đã mở ra các loại hình trường (trung tâm) dân lập, bán công, tư thục và các cơ sở dạy nghề gắn với các doanh nghiệp. Đến cuối năm 1998, bên cạnh Trường đại học dân lập Lạc Hồng, trên địa bàn còn có 1 cơ sở đại học mở - bán công, 1 trung tâm dạy nghề của tỉnh (sau đổi thành Trung tâm hướng nghiệp - dạy nghề), 4 trung tâm dạy nghề của các ban, ngành, đoàn thể, 2 trung tâm của thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành, 17 cơ sở dạy nghề tư nhân; 1 trường dân lập ngoại ngữ, 5 trung tâm tin học ngoại ngữ và 16 cơ sở dạy ngoại ngữ - tin học được cấp phép hoạt động.

Ngoài việc tổ chức giảng dạy chương trình chính qui theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, các trường cao đẳng, THCN, dạy nghề đều tổ chức các lớp đào tạo tại chức hoặc liên kết với các trường đại học để đào tạo cho cán bộ có trình độ đại học .

Từ năm 1990 đến năm 1998, số người được đào tạo, bồi dưỡng từ các hình thức ngoài chính qui lên đến hàng chục ngàn người, giúp cho nhiều cán bộ và người lao động có cơ hội để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, hoặc học được một nghề để tự tổ chức sản xuất hay xin vào làm tại các công ty, xí nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh.

c) Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường học:

· Đào tạo giáo viên các cấp:

Từ năm học 1987 - 1988 công tác đào tạo giáo viên tiếp tục được duy trì, nhưng tới năm học 1992 - 1993 qui mô đào tạo mới được đẩy mạnh và trở thành một chương trình trọng điểm của ngành. Năm học 1987 - 1988 qui mô đào tạo của các trường sư phạm là 400 giáo viên/năm. Cùng với việc đào tạo giáo viên mầm non, tiểu học, THCS, tỉnh đã xin phép Bộ giáo dục - đào tạo liên kết với các Trường đại học sư phạm Huế, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội để đào tạo giáo viên PTTH và liên kết với các Trường đại học bách khoa Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đại học sư phạm kỹ thuật đào tạo giáo viên ngoại ngữ, tin học, kỹ thuật cho các trường trong tỉnh. Hơn 10 năm đào tạo, đội ngũ giáo viên của tỉnh đã tăng từ 9.502 giáo viên các cấp lên 14.238 giáo viên.

Trong đó, mầm non: 2.194 gv (trước là: 1.576); tiểu học: 6.966 gv (4.377); THCS: 3.613 gv (2.482); THPT: 923 gv (624); BTVH: 246 gv (196); chuyên nghiệp - dạy nghề: 283 gv (247).

· Bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý trường học:

Từ năm học 1987 - 1988 đến năm học 1997 - 1998, toàn tỉnh đã bồi dưỡng chuẩn hóa cho 1.254 gv mầm non, 5.746 gv tiểu học, 3.018 gv THCS, 803 gv THPT, đưa tỉ lệ gv được chuẩn hóa lên 83,3% tổng số gv các cấp.

Song song với việc tổ chức bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục tại Trường bồi dưỡng giáo dục tỉnh (sau này nhập với Trường CĐSP thành một khoa của nhà trường), tỉnh đã cử cán bộ đi bồi dưỡng tại Trường cán bộ quản lý giáo dục TW 2 (Bộ GD - ĐT) và các khóa bồi dưỡng quản lý nhà nước của Học viện chính trị Quốc gia. Đến cuối năm học 1997 - 1998, 93 % số cán bộ quản lý giáo dục cấp tỉnh và huyện và 87% số hiệu trưởng, hiệu phó các trường học đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ GD - ĐT, công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên các cấp chu kỳ I (1992 - 1997) đã hoàn thành. Hầu hết giáo viên mầm non, tiểu học, THCS, THPT đã tham gia bồi dưỡng chu kỳ I và đang chuẩn bị tham gia bồi dưỡng chu kỳ II (1998 - 2002).

Ngoài ra, ngành đã cử giáo viên và cán bộ quản lý đi đào tạo đại học và trên đại học để xây dựng mạng lưới giáo viên nồng cốt cho các cấp học, nhất là cho các trường sư phạm, trường chuyên và cho đội ngũ thanh tra chuyên môn của sở, phòng giáo dục. Trong 8 năm (1990 - 1998), số giáo viên và cán bộ quản lý được đào tạo đại học và trên đại học là 1.743 người, nâng tổng số giáo viên và cán bộ quản lý có trình độ đại học lên 4.223 người, có trình độ trên đại học lên 82 người.

· Giải quyết chế độ, chính sách:

Tất cả các chế độ, chính sách của Nhà nước đối với giáo viên và cán bộ quản lý đã được thực hiện nghiêm túc, đặc biệt là chế độ phụ cấp ưu đãi theo Quyết định 779/TTg và Quyết định 973/1997/QĐ.TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tổng số giáo viên và cán bộ quản lý trường học được hưởng phụ cấp ưu đãi theo QĐ 973/QĐ.TTg là 14.029 người, chiếm 99,8% tổng số giáo viên của ngành.

Ngoài các chế độ chung của Nhà nước, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định 559/QĐ.UBT, Quyết định 176/QĐ.UBT qui định một số chế độ trợ cấp đối với giáo viên vùng núi, vùng sâu, giáo viên dạy các trường chuyên, trường dân tộc nội trú, giáo viên mầm non, giáo viên vùng thiếu nước ngọt trong mùa khô và sinh viên, học sinh các trường sư phạm của tỉnh và thu hút được giáo viên về các trường vùng núi, vùng sâu, các trường trọng điểm cải cách.

d) Tăng cường nguồn lực và cải tiến quản lý để nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển:

Kinh phí đầu tư cho giáo dục, đào tạo ở tỉnh Đồng Nai hằng năm đều tăng, chiếm từ 28 - 30% tổng chi ngân sách của tỉnh. Từ năm 1991 đến năm 1998, tổng chi cho giáo dục đã tăng gấp 5 lần. Sau đây là thống kê về sự đầu tư kinh phí cho giáo dục ở các năm qua (đơn vị tính là: 1 triệu đồng):

 

Nội dung

1991

1993

1994

1995

1996

1997

1998

Sự nghiệp

XDCB

CTCM

47.609

2.035

1.200

66.384

17.135

3.949

98.535

14.227

7.643

116.400

20.765

10.065

130.046

25.018

7.050

164.200

38.563

8.500

201.450

46.950

8.010

Cộng:

50.844

87.387

120.405

138.230

162.114

211.265

256.410

Để nâng cao hiệu quả đầu tư, từ đầu năm 1993, tỉnh cho phép ngành giáo dục - đào tạo được quản lý trực tiếp theo ngành. Sở GD - ĐT là chủ đầu tư các công trình xây dựng cơ bản (XDCB) của ngành (trừ các trường CN - DN). Kinh phí chi thường xuyên sự nghiệp (SN) giáo dục do Sở trực tiếp quản lý, cấp phát theo kế hoạch và dự toán được duyệt cho các phòng giáo dục và trường trực thuộc Sở. Cuối năm 1993, tỉnh cho phép Sở GD - ĐT thành lập Ban quản lý công trình XDCB, sau đổi thành Ban quản lý dự án để trực tiếp quản lý các công trình XDCB của ngành.

Cơ chế quản lý mới đã giúp cho ngành giáo dục - đào tạo chủ động trong việc xây dựng kế hoạch, lập dự án, tổ chức thực hiện dự án, cấp phát và thanh quyết toán, vì vậy đáp ứng kịp thời và có hiệu quả các hoạt động dạy học và đầu tư cơ sở vật chất nhà trường. Bình quân mỗi năm xây dựng từ 300 đến 350 phòng học để phục vụ cho phát triển giáo dục và thay thế các cơ sở đã xuống cấp, dành từ 6 - 7 tỷ đồng để trang bị sách giáo khoa và đồ dùng dạy học cho các trường học. Từ năm học 1987 - 1988 đến năm học 1998 - 1999 số phòng học mầm non, phổ thông của tỉnh đã tăng lên 3.265 phòng. Trong đó, mầm non: 1.479 phòng (trước là: 969 phòng); tiểu học: 3.979 (2.379); THCS: 1.584 (860); THPT: 667 (236). Có 20 trường học đã được xây dựng mới khang trang, hiện đại phục vụ tốt cho công tác nâng cao chất lượng dạy học. Trong đó, mầm non: 2 trường, tiểu học: 8 trường, THCS: 2 trường, THPT: 6 trường, trung tâm GDTX: 1 trường.

e) Đổi mới quản lý, phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả đào tạo:

· Giáo dục mầm non:

Công tác đổi mới quản lý và phương pháp dạy học được thực hiện qua việc hợp nhất nhà trẻ và mẫu giáo, tạo sự liên thông, liên kết trong việc chăm sóc giáo dục trẻ và thực hiện các chương trình cải tiến nuôi dạy trẻ: Chương trình chỉnh lý ở nhà trẻ, Chương trình cải cách ở mẫu giáo, Chương trình lồng ghép vì sự phát triển của trẻ thơ có sự tài trợ của UNICEF. Sau gần mười năm triển khai thực hiện, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, trẻ mắc 6 bệnh phổ biến đã giảm đi rõ rệt, các cháu khỏe mạnh, tự tin, ham học và có những hiểu biết tốt về lòng nhân ái. Số cháu ở độ tuổi 5 tuổi được chuẩn bị tốt để bước vào học phổ thông.

· Giáo dục phổ thông:

Công tác đổi mới quản lý và phương pháp dạy học được thực hiện qua việc đổi mới thanh tra giáo dục, nhất là thanh tra giáo viên, đổi mới công tác thi cử đánh giá học sinh, đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện “phương pháp giáo dục tích cực” với việc lấy người học làm trung tâm, bồi dưỡng cho học sinh “năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Công tác thanh tra giáo viên được triển khai từ năm học 1993 - 1994 đến nay đã có 77% giáo viên tiểu học, 89% THCS, 59,7% THPT được thanh tra xếp loại theo tiêu chuẩn của Bộ GD - ĐT. Công tác thi cử đánh giá học sinh được tổ chức ngày càng chặt chẽ, nghiêm túc và toàn diện hơn, số môn thi ở THCS và THPT tăng từ 4 môn lên 6 môn. Kết hợp chặt chẽ giữa việc đánh giá thường xuyên trong năm và các kỳ thi tốt nghiệp cuối cấp. Các chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy đạo đức ở tiểu học; giáo dục công dân, giáo dục thể chất, giảng dạy ngoại ngữ, vật lý, hóa học ở bậc trung học được triển khai có kết quả. Việc thực hiện giảng dạy chương trình chuyên ban ở các trường PTTH phân ban đã tiến hành nghiêm túc. Công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu đã được đầu tư đúng mức. Sau hơn 10 năm đổi mới, chất lượng và hiệu quả đào tạo đã tăng lên đáng kể. Số học sinh tốt nghiệp tiểu học hàng năm đạt từ 90% - 95%; tốt nghiệp THCS từ 80% - 85%; tốt nghiệp THPT từ 75% - 80%. Hiệu quả đào tạo ở cấp I tăng từ 56% lên 73%; ở THCS từ 48% lên 64%; ở PTTH từ 64% lên 75%. Số học sinh giỏi đoạt giải quốc gia ngày một tăng cao. Năm học 1991 - 1992 có 21 học sinh đoạt giải quốc gia, đến năm học 1997 - 1998 có 70 học sinh đoạt giải quốc gia .       

· Giáo dục thường xuyên:

Công tác đổi mới về chương trình, SGK dạy học được triển khai nghiêm túc. Từ 4 môn học BTVH cấp 2, cấp 3 đến nay đã tăng lên 8 môn . Chương trình dạy học đã bám sát chương trình của phổ thông cùng cấp. Thi cử được tổ chức chặt chẽ và toàn diện hơn. Từ thi 4 môn: văn, toán, vật lý, hóa học đến năm học 1997 - 1998 đã thi đủ 6 môn như ở các trường THPT cùng cấp. Số lượng học sinh tốt nghiệp cấp 2 và cấp 3 ngày một tăng cao. Năm học 1987 - 1988 có 1.193 học viên tốt nghiệp BTVH cấp 2 và 375 học viên tốt nghiệp BTVH cấp 3. Năm học 1997 - 1998 đã có 1.003 học viên tốt nghiệp BTVH cấp 2 và 2.185 học viên tốt nghiệp BTVH cấp 3. Nhiều học sinh tốt nghiệp BTVH đã thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và THCN.

· Giáo dục chuyên nghiệp - dạy nghề:

Việc đổi mới tập trung và phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền tự chủ cho nhà trường, đa dạng hóa phương thức dạy và học, mở rộng liên thông liên kết giữa các trường học với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các cơ quan nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Từ năm học 1990 - 1991 các trường đã được cấp bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ học phần cho học sinh. Hầu hết các trường đều cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình giảng dạy, thực hiện đào tạo theo diện rộng, đào tạo kép, cắt bỏ những phần không cần thiết và đưa vào chương trình các môn mà nhu cầu xã hội đang đặt ra như: tin học, ngoại ngữ, pháp luật. Ngoài các phương pháp dạy truyền thống nhiều trường áp dụng phương pháp đào tạo theo modul, tạo điều kiện cho người lao động có thể lựa chọn nội dung và cách học thích hợp. Việc tổ chức hội giảng cấp trường, cấp tỉnh và tham gia hội giảng toàn quốc đã được thực hiện có nề nếp. Nhiều giáo viên được giải cao trong các kỳ hội giảng do Bộ GD - ĐT tổ chức. Việc gắn giảng dạy với thực hành, đào tạo với sử dụng được đặt ra như một điều kiện sống còn của nhà trường, giúp cho học sinh tốt nghiệp có tay nghề vững vàng và có nhiều cơ hội tìm được việc làm tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ.

Sau hơn 10 năm đổi mới, một số trường đã vươn lên mạnh mẽ tiếp tục khẳng định vị thế của mình, đáp ứng được yêu cầu đổi mới về kinh tế - xã hội của tỉnh như: CĐSP, THSP, Công nhân kỹ thuật, Công nhân xây dựng, Công nhân giao thông... Một số trường đã vượt qua được giai đoạn khó khăn để trụ lại và tiếp tục phát triển như: Trung học kinh tế, Trung học y tế, Trung học văn hóa - nghệ thuật. Các trường TW đóng trên địa bàn tỉnh cũng tiếp tục mở rộng qui mô đào tạo và đạt được những kết quả đáng kể. Số sinh viên, học sinh được đào tạo trong 10 năm qua đã lên trên 20.000 người, trong đó một số khá đông có việc làm ổn định, đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

· Bộ máy quản lý giáo dục các cấp:

Từ năm học 1988 - 1989, có chủ trương hợp nhất với Ban giáo dục chuyên nghiệp tỉnh, thành, Sở giáo dục - đào tạo tỉnh Đồng Nai đã quản lý toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn tỉnh từ mầm non đến giáo dục đại học, chuyên nghiệp và dạy nghề.

Bộ máy quản lý giáo dục được phân làm 2 cấp: cấp tỉnh là Sở giáo dục - đào tạo, cấp huyện (thành phố) là Phòng giáo dục - đào tạo. Riêng Công ty cao su Đồng Nai không phải là một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh nhưng từ lâu đã hình thành hệ thống các trường mầm non gắn với các nông trường. Khi các trường mầm non do ngành GD - ĐT quản lý thì ở Công ty cao su Đồng Nai hình thành Phòng giáo dục mầm non trực thuộc Sở GD - ĐT.

Năm học 1992 - 1993, thực hiện Quyết định 2028/QĐ.UBT, ngày 7 - 11 - 1992 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc “Ban hành qui chế tổ chức và hoạt động của Sở giáo dục - đào tạo theo cơ chế quản lý ngành”, bộ máy của Sở GD - ĐT và các phòng GD - ĐT được sắp xếp, củng cố cho phù hợp với công tác quản lý theo ngành. Đến năm học 1998 - 1999, Văn phòng Sở GD - ĐT biên chế 60 CBCNV được tổ chức gồm: ban giám đốc (3 người) và 9 phòng ban chuyên môn (57 người). 10 phòng GD - ĐT biên chế 121 CBCNV.

Từ năm học 1993 - 1994 đến năm học 1998 - 1999 do yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý nhất là quản lý chuyên môn nghiệp vụ, các phòng, ban của Sở được sắp xếp và củng cố thêm một bước. Phòng kế hoạch - tài vụ tách ra một bộ phận để thành lập Ban quản lý công trình sau đổi thành Ban quản lý dự án (biên chế không thuộc Sở). Phòng giáo dục phổ thông tách thành 2 phòng: Phòng giáo dục tiểu học và Phòng giáo dục THPT, các phòng ban khác cũng được bổ sung thêm cán bộ nghiệp vụ. Bên cạnh các phòng ban chuyên môn, cơ quan Sở còn thành lập một tổ thông tin quản lý để thực hiện nhiệm vụ nối mạng thông tin toàn ngành. Các phòng ban tuy không tăng biên chế nhưng được điều chỉnh các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng quản lý, đặc biệt là củng cố bộ phận thanh tra giáo dục, mỗi phòng (ban) có cử một cán bộ làm chuyên trách thanh tra giáo dục.

Bộ máy quản lý các trường học cũng tiếp tục củng cố để nâng cao chất lượng quản lý của nhà trường. Một số trường THCN - DN đã tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm hiệu trưởng, hiệu phó để làm cơ sở cho việc bổ nhiệm, đề bạt của cơ quan quản lý cấp trên. Năm học 1998 - 1999, toàn tỉnh có 649 ban giám hiệu trường học và ban giám đốc các TTGDTX, TT hướng nghiệp - dạy nghề, TT tin học - ngoại ngữ với tổng số 1.247 hiệu trưởng, hiệu phó, giám đốc, phó giám đốc.



([1][70]) Trần Hồng Quân; Sđd; 26   -   27.

Comments