2.1.2. Báo Đồng Nai - Biên Hòa

Giữa năm 1946, Ty thông tin Biên Hòa ra tờ báo Đồng Nai và Ban chỉ huy đội 10 ra tờ báo Tiếng Rừng. Đây là 2 tờ báo cách mạng đầu tiên ở Biên Hòa ra đời trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

          Báo Đồng Nai được in ronéo, mỗi kỳ chỉ có 2 trang với khổ 30 x 40 cm; mỗi số in khoảng 300 - 500 tờ. Do báo in khổ lớn, máy chữ không có trục rulô dài vừa khổ giấy, báo Đồng Nai phải viết bằng bút nhọn trên giấy sáp (stencil) ([1][37]). Báo được in bằng một trục rulô bằng gỗ tròn láng, một người đặt giấy, một người lăn trục. Những cây viết chính cho báo bấy giờ gồm: Dương Minh Cưu, Nguyễn Trạc, Tiêu Như Thủy, Hoàng Thơ... và các cộng tác viên ở chi đội 10, các cơ quan dân chính đảng trong tỉnh.

          Báo Đồng Nai như vậy là cơ quan chiến đấu của Đảng bộ và quân dân Biên Hòa. Các mục thường xuyên trên báo thường có xã luận, tin tức trong tỉnh, ngoài tỉnh (chép từ radio hoặc từ Tỉnh ủy, Ủy ban, Ban chỉ huy Chi đội 10 cung cấp); các văn bản chỉ thị phản ánh các phong trào yêu nước, kháng chiến của nhân dân trong tỉnh. Mục văn nghệ gồm truyện, ký, thơ... với những cây bút như Phạm Thiều, Huỳnh Văn Nghệ, Bùi Cát Vũ, Lý Văn Sâm...

          Từ năm 1947, đồng chí Hồ Tấn Trai về thay Dương Minh Cưu làm Trưởng Ty thông tin tuyên truyền Biên Hòa. Báo Đồng Nai vẫn ra nhưng không đều, có khi 10, 15 ngày hoặc lâu hơn mới ra được một số. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu giấy, mực in (các loại nguyên liệu này phải mua từ trong thành, tức vùng địch tạm chiếm).

          Báo Tiếng Rừng do chính trị viên Chi đội 10 Biên Hòa (Phan Đình Công) chịu trách nhiệm. Báo khổ nhỏ bằng quyển vở 100 trang, mỗi số từ 2 - 4 trang. Báo được đánh trên giấy sáp, in bằng xu xoa (rau câu). Báo được phát hành tới các đại đội, trung đội của chi đội. Ngoài ra, Chi đội 10 còn ra báo Sứ Mạng (cũng viết tay và in rau câu). Cả 2 tờ Tiếng Rừng, Sứ Mạng số lượng in không nhiều (từ 100 - 150 tờ/kỳ), nhưng nhờ bộ đội sinh hoạt tập thể, có kỷ luật, nên báo vẫn phổ biến xuống tới các chiến sĩ. Nội dung báo thường có tin chiến sự phản ánh chiến thắng của bộ đội, thất bại của thực dân Pháp; phong trào thi đua trong các đơn vị, thơ, văn thể hiện lòng yêu nước, tinh thần hy sinh, đoàn kết chiến đấu của quân dân ta, kêu gọi nhân dân ủng hộ kháng chiến.

          Chính trên tờ báo Tiếng Rừng, bài thơ "Tiếng hát giữa rừng" của Huỳnh Văn Nghệ viết về tinh thần dũng cảm chịu đựng của một chiến sĩ Chi đội 10 bị thương phải cưa chân bằng cưa thợ mộc, nhưng vẫn hát vang bài quốc ca, gây xúc động và thể hiện ý chí tinh thần của người chiến sĩ cách mạng:

          ... Bác sĩ đang cưa chân

           Một chiến sĩ bị thương

Bằng cưa thợ mộc...

Bác sĩ vừa cưa vừa khóc

Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe

Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre...

...Anh chiến sĩ cứ mê mãi hát:

                   "Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc..."

                   ...Anh lịm đi...

Ảnh Bác Hồ như rưng rưng nước mắt...

          Hay bài thơ "Nhớ Bắc" bất hủ với 4 câu mở đầu:

                   Ai về Bắc ta theo với

          Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

          Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

Để cổ vũ phong trào huấn luyện, xây dựng đơn vị và chiến đấu. Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa đã phát động phong trào làm báo tường trong các đại đội, trung đội. Báo tường được in trên giấy manh. Báo thường mang tên như Quyết Thắng, Chiến Thắng... Chủ đề, nội dung tập trung là ca ngợi lòng yêu nước, căm thù giặc, tình đồng đội, nghĩa đồng bào... Tin về chiến thắng như Bảo Chánh, Trảng Táo, Gia Huynh, Bàu Cá, La Ngà... đều được phản ánh kịp thời trên báo của chi đội và các báo tường. Có thể nói báo tường là một loại hình báo chí khá phổ biến, có ý nghĩa tuyên truyền nhanh, tính giáo dục cao.

Trên địa bàn tỉnh còn có báo Tiền Đạo, một tờ báo của Bộ Tư lệnh khu miền Đông. Báo có khổ in như báo Sứ Mạng, số lượng mỗi kỳ từ 100 - 200 tờ/kỳ, chủ yếu phát hành trong các lực lượng vũ trang quân khu ([2][38]). Nhiều bài thơ do Huỳnh Văn Nghệ sáng tác được in trên các báo Tiếng Rừng, Tiền Đạo thời kỳ này. Đến năm 1948, Ty thông tin tuyên truyền Biên Hòa đã tập hợp và in thành tập thơ "Chiến Khu Đ".

Báo chí của Biên Hòa thời kỳ này còn thô sơ cả về nội dung, hình thức và kỹ thuật in ấn, nhưng tính chiến đấu rất cao. Năm 1947, thực dân Pháp ra sức thành lập cái gọi là chính phủ "Nam kỳ tự trị" do Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Để tỏ ra "Nam kỳ tự trị" là dân tộc, Thinh cho cải biên một đoạn trong tác phẩm Chinh phụ ngâm để làm quốc ca cho chính phủ bù nhìn. Lập tức trên báo Tiền Đạo, giáo sư Phạm Thiều có ngay bài thơ láy Chinh phụ ngâm:

Thuở giặc Pháp gây cơn gió bụi.

          Bọn Việt gian nhiều nổi truân chuyên

          Xanh kia thăm thẳm tầng trên

          Thực dân gây dựng mới nên nổi này...

Tháng 5 - 1948, Ty thông tin đổi thành Ty thông tin tuyên truyền, đồng chí Hoàng Tam Kỳ - Trưởng phòng chính trị trung đoàn 310 ([3][39]) được cử làm Trưởng Ty. Để hỗ trợ cho Ty, Phân sở thông tin tuyên truyền miền Đông đã cử anh Trọng Trương xuống Biên Hòa để hướng dẫn nghiệp vụ làm và in báo chữ chì. Máy in được đóng bằng gỗ, ống cáng bằng gỗ được bào tròn, chữ chì được trên đưa xuống khoảng 100 kg.

Từ in stencil, xu xoa đến in báo chữ chì là một bước tiến lớn trong công tác báo chí ở Biên Hòa. Nhà in Biên Hòa không chỉ in báo, tài liệu truyền đơn, chỉ thị, nghị quyết của Đảng mà còn in cả sách như tập thơ Huỳnh Văn Nghệ, tài liệu "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ty thông tin tuyên truyền Biên Hòa đầu tiên đóng ở xã Mỹ Lộc, từ cuối năm 1948 chuyển về Đất Cuốc. Ty đã cho xuất bản hai tờ báo Biên Hòa Thông tin Biên Hòa. Ban biên tập báo gồm Hoàng Tam Kỳ, Nguyễn Trạc, Lê Minh Tiến, Mạc Đăng Thanh, Lê Như Huỳnh. Bộ phận ấn loát có các anh Đàm, Minh, Đường, Tâm Hưởng và Đạt.

Tờ Thông tin Biên Hòa 3 ngày ra một số, tính chất như một tờ tin nhanh, số lượng in từ 500 - 600 tờ, chỉ có 2 trang khổ nhỏ bằng quyển vở học trò. Nội dung tờ Thông tin Biên Hòa là phổ biến nhanh tin tức trong tỉnh, tin tức trong nước, phản ánh công cuộc kháng chiến và kiến quốc của nhân dân ta. Báo được phát hành trong tất cả các cơ quan, đoàn thể quân dân chính Đảng. Trong lực lượng vũ trang phổ biến xuống đến cấp trung đội. Nhờ kỹ thuật ấn loát chữ chì, báo ra nhanh, tương đối phản ánh kịp thời tình hình kháng chiến, có tác dụng động viên cổ vũ tinh thần cán bộ chiến sĩ, nhân dân trong lao động và chiến đấu.

Báo Biên Hòa có khổ in 30 x 40 cm, in 4 trang, 10 ngày ra một số với số lượng in từ 500 - 600 tờ/kỳ. Báo Biên Hòa là cơ quan kháng chiến của Đảng bộ và quân dân Biên Hòa. Mỗi số ngoài xã luận (thường do đồng chí Hoàng Tam Kỳ viết), còn có các mục tin tức, thời sự, phóng sự, khẩu hiệu cổ động kháng chiến, sản xuất, thơ, văn... do cộng tác viên là cán bộ các cơ quan gởi về. Báo Biên Hòa không chỉ lưu hành trong vùng căn cứ, mà còn được cơ sở bí mật chuyển vào vùng tạm chiếm để phục vụ công tác tuyên truyền, vận động nhân dân vùng địch kiềm kẹp ra sức ủng hộ kháng chiến.

Cuối năm 1948 và trong năm 1949, Ty thông tin tuyên truyền còn giúp cho mặt trận Việt Minh tỉnh Biên Hòa ra tờ báo Địch Vận viết bằng tiếng Pháp. Tờ Địch Vận do anh Đoàn Văn Sinh làm chủ biên, cộng tác còn có một hạ sĩ quan Pháp (cấp thượng sĩ) đã thoát ly về với kháng chiến. Ngoài ra Ban tuyên huấn Tỉnh ủy còn ra tập san Xây dựng (mỗi tháng một số) để hướng dẫn công tác Đảng trong các cơ quan quân dân chính đảng. 



([1][37]) Người thường phụ trách viết trên giấy sáp là Hoàng Thơ

([2][38]) Báo không ra định kỳ vì lệ thuộc vào nguyên liệu như giấy, mực in phải mua ngoài thành.

([3][39]) Trung đoàn 310 phát triển từ Chi đội 10 Biên Hòa.

Comments