2.2.1. Thời kỳ 1954 - 1961

II.2.1 Thời kỳ 1954 - 1961:

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi với Hiệp định Giơ - ne - ve (Genève) ký kết ngày 20 - 7 - 1954. Toàn bộ lực lượng vũ trang Thủ Biên đều lên đường tập kết ra miền Bắc. Cách mạng nước ta chuyển sang một thời kỳ mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam với mục tiêu độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc. Trước mắt nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là đấu tranh đòi thi hành hiệp định, đòi dân sinh dân chủ bảo vệ quyền lợi của nhân dân đã giành được trong 9 năm; đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất Nam Bắc.

Đấu tranh trong tình hình mới, trong điều kiện không còn lực lượng vũ trang và kẻ thù đang âm mưu phá hoại hiệp định, chia cắt đất nước, đánh phá phong trào cách mạng nhằm thống trị lâu dài ở miền Nam Việt Nam; kẻ thù lại có bộ máy đàn áp, khủng bố khổng lồ, rõ ràng là một cuộc đấu tranh không cân sức.

Tuy nhiên trong cuộc chiến đấu mới, cách mạng miền Nam cũng có những thuận lợi nhất định: có Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; đội ngũ cán bộ đảng viên được bố trí ở lại địa phương đã kinh qua chiến đấu, thử thách; quần chúng nhân dân có truyền thống yêu nước, tin tưởng cách mạng; có pháp lý hiệp định và được nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ.

Khi tập kết chuyển quân (tháng 8 - 1954), hầu hết cán bộ lãnh đạo của tỉnh và cán bộ dân chính Đảng của tỉnh Biên Hòa được bố trí ở lại để tiếp tục cùng nhân dân đấu tranh. Máy in của tỉnh được chôn lại ở chiến khu Đ. Cán bộ Ban tuyên huấn Biên Hòa, cùng bộ phận nhà in (gồm có một máy quay ronéo tự chế tạo, một bàn in bằng gỗ, một máy đánh chữ) từ chiến khu Đ chuyển về đứng chân ở Thái Hòa (Tân Biên) để gần dân, thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền theo chỉ đạo của Tỉnh ủy.

Thời kỳ 1954 - 1960, là giai đoạn thử thách và chiến đấu rất ác liệt của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Biên Hòa. Chính quyền tay sai bù nhìn Sài Gòn chia Biên Hòa ra làm ba tỉnh: Biên Hòa, Phước Thành, Long Khánh; xây dựng bộ máy chính quyền từ tỉnh xuống quận, xã; tổ chức dân vệ; thực hiện nhiều âm mưu thủ đoạn và biện pháp thâm độc để phân loại quần chúng, trả thù người kháng chiến, tìm bắt cán bộ cách mạng còn ở lại (điển hình như chiến dịch Trương Tấn Bửu tháng 7 - 1956).

Về công tác tuyên truyền, Tỉnh ủy chủ trương phải làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân quán triệt hiệp định Genève 1954 về tình hình nhiệm vụ mới. Tài liệu sử dụng chủ yếu là các nghị quyết của Trung ương, xứ ủy, báo chí công khai xuất bản tại Sài gòn, nhằm mục đích vạch trần bản chất, âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, bản chất tay sai của ngụy Sài Gòn; hướng dẫn và lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ quyền dân sinh dân chủ cho dân.

Ban tuyên huấn Tỉnh ủy lúc này phụ trách cả nhà in của tỉnh (chỉ có một máy đánh chữ và một máy in giấy sáp). Nhiệm vụ chủ yếu là in truyền đơn, tài liệu học tập cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ. Tuy chưa phải là thể loại báo chí, nhưng những truyền đơn phục vụ cho các cuộc đấu tranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử, truyền đơn binh vận kêu gọi binh lính ngụy, lên án vụ thảm sát Phú Lợi (12 - 1958)... Đã rất kịp thời cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng.

Với phương tiện in rất hạn chế, theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Tuyên huấn đã cho in "Tài liệu vấn - đáp về đường lối cách mạng miền Nam". Đây là tài liệu của Xứ ủy Nam bộ in ngày 31 - 11 - 1957, được nhà in Biên Hòa in lại. Tài liệu gồm 15 trang, với 9 câu hỏi và trả lời. Qua tài liệu này, đảng viên, đoàn viên, cán bộ nhận thức được đối tượng đấu tranh trước mắt; âm mưu của Mỹ - Diệm; mục đích của cách mạng miền Nam; phương pháp tiến hành đấu tranh... Tài liệu được phổ biến xuống các chi bộ cơ sở.

Từ năm 1956 đến 1959, trên địa bàn tỉnh Biên Hòa diễn ra nhiều sự kiện quan trọng (như cuộc nổi dậy phá khám 2 - 12 - 1956, cuộc tiến công trụ sở phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG ở Tân Mai...), nhưng phong trào cách mạng cũng bị nhiều tổn thất do địch đánh phá, khủng bố và một số cán bộ mất phẩm chất ra đầu hàng địch đánh phá lại cách mạng ([1][40]) .

Tháng 1 - 1959, Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ XV ra đời, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam. Tháng giêng, 1960, phong trào Đồng Khởi bùng nổ ở Bến Tre. Ngày 25 và 26 - 1 - 1960, lực lượng vũ trang miền Đông tiến công Tua Hai (trại Nguyễn Thái Học của địch ở Tây Ninh), mở đầu cho phong trào kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong toàn miền.

Tháng 9­ - 1960 đến 6 - 1961, hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên. Đồng chí Lê Quang Chữ được cử làm Bí thư kiêm Trưởng Ban tuyên huấn, Tiêu Như Thủy, Phó ban; các ủy viên: Nguyễn Văn Thạch (Tám Thạch), Ba Ngôn. Phụ trách nhà in của tỉnh là đồng chí Bảy Trổ (người xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu). Nhà in đặt ở gần suối Tân Lợi (xã Tân Lợi).

Tháng 1 - 1961, khi các tướng tá ở Sài Gòn làm đảo chính Ngô Đình Diệm, Tỉnh ủy chủ trương ra báo Thủ Biên. Báo viết tay in giấy sáp có 4 trang, khổ 20x30 cm với các nội dung: xã luận, tin tức về phong trào Đồng Khởi và các cuộc tiến công của cách mạng miền Nam và địa phương nhằm mục đích đánh đổ chính quyền tay sai Sài Gòn ([2][41]).

Có thể nói báo Thủ Biên là tiền thân của báo Đồng Nai trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.



([1][40]) Như các tên Hà Tư, Đoàn Trị, Ba Chánh.

([2][41]) Theo lời kể của đ/c Tiêu Như Thủy. Đồng chí không nhớ báo ra được bao nhiêu số và thời hạn báo ra từng kỳ. Có thể báo ra được 5 số, bởi báo Đồng Nai ra ngày 25 - 1 - 1962 ghi số 6.

Comments