2.1. Sự xâm nhập của Tây y thời thực dân Pháp (1861 - 1954)

Ngay từ ngày đầu kéo quân xâm lược mảnh đất Biên Hòa - Đồng Nai, thực dân Pháp đã nghĩ đến việc xây dựng bệnh viện với mục đích phục vụ cho quân đội viễn chinh Pháp trong cuộc chiến chống lại quân Triều đình nhà Nguyễn. Có thể nói, Tây y đã xâm nhập vào đất Biên Hòa khá sớm cùng với gót giày kẻ xâm lược. Tất nhiên, trước đó, các cố đạo người Châu Âu trong quá trình tiếp cận giảng đạo đã mang theo thuốc men và phương pháp chữa trị theo Tây y đến xứ Biên Hòa ([1][16]). Nhưng chưa bao giờ trên mảnh đất này có một bệnh viện với quy mô lớn tương đương 100 giường bệnh. Trong cuốn sách "Sơ lược lịch sử chinh phục các tỉnh Nam kì" có in một bức thư và đó cũng là một báo cáo của đô đốc Bonard - người chỉ huy trận đánh chiếm thành Biên Hòa - gởi Bộ trưởng (Hải Quân) Pháp. Bức thư nói rõ về việc người Pháp xây dựng "nhà thương 100 giường tại Biên Hòa" sau trận đánh thất thủ đồn Mỹ Hòa ([2][17]) và chiếm thành Biên Hòa cuối năm 1861.

        Ngày 9 tháng 5 năm 1862, Triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước Nhâm Tuất nhượng đứt cho thực dân Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Tỉnh Biên Hòa lúc bấy giờ có 2 phủ 4 huyện với tổng dân số là 31.381 người. Vùng đất Biên Hòa trở thành một trong những địa phương ở Nam kỳ được thực dân Pháp đặc biệt chú ý khi chúng tiến hành khai thác thuộc địa ở lãnh thổ này.

        Hệ thống hành chính của thực dân Pháp lúc đầu chưa đầy đủ, chủ yếu là do quân đội quản lý ở cấp tỉnh. Tại các huyện và các tổng vẫn do quan lại người Việt phụ trách dưới sự "cố vấn" của các sĩ quan người Pháp. Các sĩ quan Pháp giao việc trông coi y tế cho các hương quan kiêm nhiệm trong mỗi làng. Vào năm 1878, tại Biên Hòa, người Pháp đã xây dựng một Trạm quân y và một bệnh viện nhỏ. Bệnh viện có 8 giường bệnh phục vụ cho quan chức và quân đội Pháp. Cơ sở này có 28 người Âu và 2 dì phước người bản địa phụ trách. Ngày 25 - 8 - 1903, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Trường Y tế thực hành bản xứ ở Nam kỳ để đào tạo y tá và nữ hộ sinh người Việt để đáp ứng yêu cầu lập các trạm xá ở xã hay liên xã. Đến 1924, người Pháp xây dựng thêm ở Biên Hòa một nhà hộ sinh và nâng cấp bệnh viện cũ, 2 cơ sở này đều do một bác sỹ người Pháp làm giám đốc với các y sĩ người bản xứ phục vụ. Cũng thời gian này, người Pháp bắt đầu xây dựng nhà thương Long Thành và một nhà thương ở An Bình (thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay)

Mãi đến sau năm 1950, hệ thống y tế của chính quyền thực dân mới có quan phụ trách y tế người Việt ([3][18]). Các bác sĩ người Pháp chủ yếu phục vụ cho quân đội. Việc chăm sóc sức khỏe nhân dân bấy giờ chủ yếu vẫn dựa Đông y, những kinh nghiệm dân gian trong phòng chữa bệnh.

        Hơn nửa thế kỷ sau ngày xâm lược Biên Hòa - Đồng Nai, người Pháp tiếp tục xây dựng một bệnh viện chữa trị người điên tại Biên Hòa (1914) và sau đó là Bệnh viện Biên Hòa (1939) và Bệnh viện An Lộc (nay thuộc Công ty cao su Đồng Nai) (1938) với mục đích chữa trị và hộ sinh cho nhân viên của người Pháp, nhân viên và công nhân của người Việt làm cho Pháp. Khoảng đầu thế kỷ XX, hệ thống y tế ở Biên Hòa do người Pháp quản lý có thêm một cán bộ y tế người Pháp và chủ yếu là thầy thuốc người Việt ([4][19]).

Y tế các đồn đin cao su:

        Đầu thế kỷ XX, cây cao su ra đời trên đất Đồng Nai cùng với những đồn điền cao su. Đồn điền xuất hiện đầu tiên là Suzannah. Rồi sau đó là hàng loạt đồn điền cao su khác như Dầu Giây, An Lộc, Bình Lộc, Ông Quế, Long Thành, Túc Trưng, Hàng Gòn, Cẩm Mỹ cũng lần lượt ra đời. Quá trình tiến hành công việc kinh doanh mở mang nông nghiệp, ngoài việc trồng cây cao su còn có cây cà phê. Tổng số gốc cà phê đầu tiên được trồng khoảng 100.000 gốc, tập trung ở xã Long Bình (nay là Long Bình Tân) lên đến Vĩnh Cửu. Việc mở ra các đồn điền của thực dân này đã kéo theo việc mộ phu người bản xứ bởi lực lượng nhân công tại chỗ không đủ. Bấy giờ tỉnh Biên Hòa có khoảng 100.000 dân.

Hàng trăm ngàn người dân miền Bắc, miền Trung được mộ vào Đồng Nai làm phu cao su (gọi là dân contrat) sống trong những điều kiện hết sức kham khổ, họ phải làm việc và sống trong những khu vực đầy mầm bệnh sốt rét. Đầu năm 1905, Girard - Giám đốc đồn điền cao su Suzannah, xây dựng một trại y tế ngay cạnh ga Dầu Giây để chữa bệnh sốt rét, nhưng thuốc men quá thiếu và người dân contrat bị tử vong vì sốt rét ngày càng cao. "Trẻ em lá lách sưng phồng, đại đa số cu li có màu da xỉn như đất" - tác giả cuốn sách "Ainsi la SIPH vint au monde" - Arnaud de Voguei kể lại. Bấy giờ các giám đốc đồn điền áp dụng biện pháp trừ sốt rét cho công nhân bằng ký ninh: "Vào lúc điểm danh cu li buổi sớm trước khi mặt trời mọc một chút, người ta bắt mỗi cu li uống một chén nước kí ninh, thứ thuốc nước đặc biệt lợm giọng, người Âu có mặt phải ngăn họ khạc nhổ " ([5][20]). Chi tiết này cho thấy khá rõ việc người Pháp đã đưa Tây y vào phục vụ người dân công tra ở tỉnh Biên Hòa bằng việc phòng chống sốt rét bằng ký ninh và diệt muỗi.

        Vào năm 1925, hàng ngàn gia đình mộ phu, cu li từ miền Bắc - nhiều người mang theo cả gia đình - được đưa liên tục vào Biên Hòa - Đồng Nai theo từng nhóm để khai phá rừng. Mỗi người trong số họ được làm một bản giao kèo (contrat), trong đó ghi những điều kiện làm việc qui định chi tiết. Và trong bản giao kèo ấy có sự ràng buộc: được chăm sóc y tế cần thiết. Thế nhưng, các ông chủ thực dân vẫn không bảo đảm lời cam kết cho nên dịch sốt rét vẫn hoành hành và gây tử vong cao cho người công nhân:

Bán thân đổi mấy đồng xu

Thịt xương vùi gốc cao su mấy từng

        Tỷ lệ tử vong cao gây thiệt hại cho bọn chủ đồn điền. Vì thế người Pháp quyết định xây dựng một trung tâm y tế đặt ở An Lộc để vừa tăng cường giám sát y tế, phòng và chống sốt rét trên các đồn điền vừa phối hợp chữa các bệnh khác. Phụ trách bệnh viện này là một thầy thuốc người Pháp "có kinh nghiệm về các bệnh nhiệt đới chính, hàng đầu là bệnh sốt rét". Bệnh viện này được mô tả: "năm chái tầng trệt có hình thuôn dài, ngăn bằng vải và chái nọ nối chái kia bằng lối thông có mái che. Mỗi căn có công năng riêng: căn hộ sinh, căn cho người nhiễm sốt rét, căn cho người bị thương khác nhau, căn cuối để xử lí các bệnh phổi thường xảy ra vào vài mùa hàng năm. Ngoài ra cũng có một nơi để mổ, nơi phát thuốc, phòng tiếp nhận và phân loại con bệnh tới, và văn phòng bác sĩ Vieron - nổi tiếng trong tập đoàn SIPH vì các nghiên cứu về các thương tật cuả người Việt Nam do bệnh ghẻ cóc, ghẻ hờm trứ danh gặm nhấm chi dưới của cu li quá quen đi chân trần (chân đất), đôi khi lây lan như một bệnh dịch vì chữa trị chống lại không kịp thời. Việc xây cất tổng thể quan trọng này được thực hiện vào mùa đông năm 1938 - 1939 nhưng chỉ hoàn toàn xong xuôi mười tám tháng sau". ([6][21])

Nhà thương điên Biên Hòa ([7][22]):

        Đây là cơ sở y tế đầu tiên có quy mô lớn được xây dựng trên đất Biên Hòa nằm trên quốc lộ 1, cách trung tâm thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai khoảng 4 cây số về hướng Đông Bắc, khuôn viên của toàn bệnh viện có diện tích khoảng 22 ha nằm trên vùng đất cao hơn so với khu trung tâm thành phố Biên Hòa. Chính quyền thuộc địa Pháp bắt đầu việc xây cất, đặt viên đá đầu tiên vào ngày 17 - 3 - 1915. Việc xây cất hoàn thành ngày 16 - 9 - 1916 và tiếp nhận người bệnh đầu tiên ngày 21 - 1 - 1919.

        Lúc mới thành lập, cơ sở này có tên gọi là Asile d' alienes de Bien Hoa (Trại người điên Biên Hòa, nhân dân thường gọi là Nhà thương điên Biên Hòa). Thời kỳ này, nơi đây giống như một Trú xá của người điên vì chỉ nhận quản lý người điên tránh việc họ gây rối xã hội. Sau đó cơ sở được đổi tên Hôpital psychiatrique de Cochichine (Dưỡng trí viện Nam kỳ) và được chuyển qua hình thức tổ chức của một bệnh viện với mục đích điều trị. Năm 1945, trong giai đoạn Việt Minh nắm chính quyền, Dưỡng trí viện Biên Hòa được gọi tên là Dưỡng trí đường Biên Hòa (Theo văn bản số 3231 VM ngày 12 - 10 - 1945 do đồng chí Hoàng Minh Châu ký) và Dưỡng trí đường Trần Phú (văn bản số 400 VM ngày 18 - 10 - 1945 do đồng chí Hoàng Minh Châu ký). Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, chính quyền thực dân đổi tên cơ sở này thành Hôpital psychiatrique du Sud Vietnam à Bien Hoa (Dưỡng trí viện miền Nam Việt Nam tại Biên Hòa). Thời kỳ 1918 - 1945, Nhà thương điên Biên Hòa có 15 tòa nhà được gọi chung là Trại nuôi bệnh gồm: Nhà quan quản lý, nhà quan lương y An Nam, nhà các thầy điều dưỡng, nhà các viên gác - dan, nhà tắm, nhà bếp, chuồng ngựa, chuồng bò, chuồng heo, nhà người đánh xe, trại thợ mộc, kho thuốc... Việc chữa trị có sự phân biệt giữa người bệnh nước ngoài (chủ yếu là người Pháp) và người Việt Nam: Người bệnh nước ngoài có chỗ ăn ở sung sướng với tiêu chuẩn cao, người bệnh Việt Nam lại chia làm hai hạng: Hạng có trả tiền được ăn uống khá hơn hạng không trả tiền (hạng thí). Tất cả người bệnh phải mặc quần áo riêng của nhà thương, có người giặt giũ. Người bệnh tỉnh được cho đi làm rẫy, làm ruộng hoặc giúp đỡ nhà bếp cùng làm các việc lặt vặt khác. Thân nhân tới thăm có giờ giấc quy định và theo sự hướng dẫn của người có trách nhiệm. Năm 1930, Nhà thương điên Biên Hòa xây cất thêm 4 trại bệnh và năm 1945 lại xây thêm 9 trại nữa để nhận số người bệnh đến điều trị ngày một đông hơn (khoảng 600 người bệnh vào thời điểm này).

        Thời kỳ 1945 - 1954, đây là thời kỳ Dưỡng trí viện gặp nhiều khó khăn, hòa bình lập lại sau Cách mạng tháng Tám 1945 quá ngắn ngủi, tháng 10 - 1945, Pháp núp sau quân Anh, Ấn tái chiếm Biên Hòa và đàn áp những cơ sở cách mạng, những người nuôi giấu cán bộ chiến sĩ trong bệnh viện rất dã man. Tháng 9 - 1946, Pháp tái lập chính quyền. Dưỡng trí viện Biên Hòa hầu như bị bỏ quên, mất liên lạc, không được tiếp tế trong một thời gian. Theo lời kêu gọi của Xứ ủy Nam kỳ, nhiều nhân viên nghỉ việc gia nhập phong trào Việt Minh. Dưỡng trí viện luôn bị kiểm soát gắt gao bởi phòng nhì và công an. Một số nhân viên bị bắt điều tra, trong đó có con trai của bác sĩ Hoài là Nguyễn Văn T. Tuy vậy, bác sĩ Nguyễn Văn Hoài cùng nhân viên Dưỡng trí viện đã cùng nhau vượt qua các khó khăn, vừa tự sản xuất lương thực vừa lo việc điều trị cho người bệnh.

        Giai đoạn này, tổ chức của Dưỡng trí viện có nhiều thay đổi. Các khu trại được thay đổi để phân loại bệnh nhân hợp lý hơn. Phương pháp chữa trị cũng có nhiều thay đổi về chất. Trước 1930, cơ sở này được xây dựng như một trại giam với mục đích thu gom quản lý người bệnh tâm thần. Kỹ thuật quản lý sử dụng những buồng con cách ly để giam nhốt và áo bó để cố định người bệnh. Sau 1930, hoạt động của bệnh viện gắn liền với tên tuổi của bác sĩ Nguyễn Văn Hoài. Những kỹ thuật điều trị cũ như cách ly người bệnh, dùng áo bó... vẫn được sử dụng. Một số kỹ thuật khác được dùng để giải quyết những trường hợp người bệnh kích động như: tạt nước, tiêm thuốc gây áp xe. Nhưng điểm nổi bật trong thời gian này là sử dụng liệu pháp sốc điện (electrochoc). Bấy giờ, trên thế giới chỉ có 3 nơi có máy sốc điện là Rome, Alger và Fukuyoka. Bác sĩ Hoài và bác sĩ Dorolle đã dành 2 năm nghiên cứu theo y văn và nguyên lý máy sốc điện để tự chế tạo máy (từ 1939 - 1941). Công trình này được công bố trong tạp chí Médicale Francaise ngày 4 - 4 - 1942.

        Về liệu pháp hóa dược, thời gian này chưa có thuốc Aminazine. Thuốc được sử dụng chủ yếu là Reserpine. Liệu pháp hoạt động (Therapeutique occupationnelle) được đẩy mạnh nhất là từ khi bác sĩ Hoài trở thành Giám đốc. Ông chủ trương: người bệnh biết nghề gì thì tập lại cho họ nghề ấy, đổi nghề mới hay học nghề mới. Những hình thức đã được áp dụng là: làm ruộng rẫy, chăn nuôi, lập xưởng thợ với các nghề như: mộc, nguội, rèn, may, đóng sách..., nhà máy xay lúa và các hình thức lao động phục vụ sinh hoạt như: làm việc ở nhà bếp, nhà giặt, làm bồi, làm bếp, giữ nhà, trông nom con cái cho cán bộ nhân viên. Người bệnh lao động được trả công mỗi ngày 2 xu (để ăn quà bánh hoặc làm lộ phí khi ra viện).

        Hiện nay, trong kho lưu trữ của bệnh viện vẫn còn đầy đủ các hồ sơ bệnh án. Bệnh nhân tâm thần đầu tiên đến nhập viện ngày 21 - 1 - 1919 là bà Nguyễn Thị Điều, 35 tuổi, sinh năm 1884 tại làng Thới An, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Hồ sơ lưu còn cả ảnh chụp người bệnh với số hiệu in trên đồng phục "Biên Hòa - 1". Bệnh nhân này đã ở tròn suốt 36 năm và qua đời tại đây. Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân Nguyễn Thị Điều cho thấy: Sau khi bà phát bệnh, làng đã làm đơn gởi lên quan huyện rõ để đưa bà vào nhà thương điên. Trong đơn viết tay của làng có sự điểm chỉ của người mẹ tên Nguyễn Thị Có, 77 tuổi và các vị hương chức của làng cũng ký tên đầy đủ để trình bẩm quan huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ ngày 18 - 10 - 1918. Ngày 24 - 10 - 1918, chính quyền Cần Thơ gởi bản phúc trình cho quan Toàn quyền Đông Dương tại Sài Gòn để điều trần sự việc Nguyễn Thị Điều bị điên và bà được gởi vào Bệnh viện Cần Thơ. Tiếp đó ngày 1 - 3 - 1919, hương quản làng Thới Thạnh, tổng Thới Bảo, huyện Ô Môn gởi đến tỉnh trưởng Cần Thơ bản báo cáo chi tiết về sự việc của Nguyễn Thị Điều. Ngày 10 - 1 - 1919, bệnh nhân này được đưa từ bệnh viện Cần Thơ về Bệnh viện Chợ Quán (Sài Gòn). Sau 10 ngày được các thầy thuốc khoa thần kinh Bệnh viện Chợ Quán khám nghiệm và theo dõi, cuối cùng ngày 20 - 1 - 1919, bệnh nhân Nguyễn Thị Điều được ký giấy chuyển về Nhà thương điên Biên Hòa để điều trị lâu dài. Sau khi nhận người bệnh đầu tiên này, giám đốc trại lúc đó là bác sĩ Pujat đã gởi một bản thông báo cho tỉnh trưởng Biên Hòa và tỉnh trưởng Cần Thơ rõ sự việc. Ngày 22 - 2 - 1919, tỉnh trưởng Cần Thơ đã gởi một bản phúc đáp để trại nắm rõ về gia cảnh và bệnh tình của Nguyễn Thị Điều lúc còn ở quê nhà để bệnh viện tiện bề liên lạc và theo dõi điều trị bệnh.



([1][16]) Xem thêm: Xứ Đàng ngoài 1621 của Christophoro Borri, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, 1998.

([2][17]) Mỹ Hòa nằm ở khoảng giữa thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa ngày nay, theo GS. Nguyễn Phan Quang, thì Mỹ Hòa ở khu vực suối Lồ Ồ ngày nay.

([3][18]) Theo Cù Lao Phố: lịch sử và văn hóa, nhiều tác giả, Nxb. Đồng Nai, 1997: Mãi đến năm 1904, Thống đốc Nam Kỳ quyết định ngày 27 - 8 - 1904 mỗi Ban Hội Tề gồm 11 người: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng hay Thôn trưởng, Hương hào. Đến ngày 30 - 10 - 1927 có Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, qui định Ban hội tề có 12 người: Hương cả hay Đại hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ hay Thủ bộ, Hương thân, Xã trưởng hay Thôn trưởng, Chánh lục bộ. Và đến năm 1944 Toàn quyền Đông Dương qui định thành phần Ban hội tề là những người: Điền chủ, có gia sản, có bằng cao đẳng tiểu học, công chức thuộc ngạch trung đã nghỉ hưu, cùng tư chức, quân nhân hồi hưu hay giải ngũ, với cấp bậc ít nhất là trung sĩ hay có huy chương quân sự. Thành phần Ban hội tề vẫn 12 người (thêm Phó lục bộ). Ngoài hương chức hội tề, còn có hương chức hội hương. Sau 1950, hành chánh cấp tỉnh là dân sự: trong đó có 5 tham biện người Pháp và 3 tỉnh trưởng người Việt do Pháp đưa lên. Bấy giờ, Ban hội tề xã trong vùng Pháp chiếm đóng được đổi tên Hội đồng hương chánh gồm 11 người: Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng thư ký, Các ủy viên: Giáo dục, Y tế, Hộ tịch, Cảnh sát (không còn gọi là Hương quản), Tài chánh, Thuế vụ, Công chánh và Canh nông.

([4][19]) Địa chí Biên Hòa 1924 viết rõ: "Ngành y tế được giao cho một thầy thuốc người Pháp, được một thầy thuốc bản xứ phụ giúp. Ở tỉnh lỵ đã đặt một bệnh xá và một nhà hộ sinh có một đội ngũ y tá và cô mụ. Đồn núi Chứa Chan có một y tá bản xứ biệt phái. Một bệnh xá sẽ lập ở An Bình và một cái dự định ở Long Thành. Cách Bình Trước vài km, trên một thửa đất rộng đã lập một dưỡng đường cho bệnh nhân tâm thần chung cho Đông Dương, cho đến giai đoạn sắp tới thiết lập một cơ sở tương tự sẽ hoạt động ở Bắc kỳ - nhà thương vôi ở tỉnh Bắc Giang."

([5][20]) Ainsi  la  SIPH  vint  au  monde của Arnaud  de  Voguei. Bản dịch của Nguyễn Yên Tri.

([6][21]) Ainsi  la  SIPH  vint  au  monde, sđd.

([7][22]) Dẫn theo tư liệu Kỷ yếu 80 năm thành lập và phát triển Bệnh viện tâm thần Biên Hòa 1915 - 1995, Nxb. Đồng Nai, 1995.

Comments