2.3. Y tế Đồng Nai dưới chế độ Sài Gòn

Từ cuối năm 1956, địa bàn Đồng Nai được chính quyền Sài Gòn chia thành 2 tỉnh Biên Hòa và Long Khánh. Các quận cũng được chia nhỏ để phục vụ cho mục đích quân sự. Cơ sở y tế của tỉnh Biên Hòa lúc bấy giờ chủ yếu là một bệnh viện trong khu vực rộng 13.439 m2 tọa lạc trên đường Trịnh Hoài Đức (nay là đường 30 - 4) do người Pháp thiết lập từ 1939. Bên cạnh đó, tại thị xã Biên Hòa còn có Dưỡng trí viện bác sĩ Nguyễn Văn Hoài mà nhân dân quen gọi là Nhà thương điên Biên Hòa. Các cơ sở y tế này được người Pháp xây dựng để điều trị và hộ sinh cho các nhân viên và công nhân tại các đồn điền cao su của người Pháp trong tỉnh. Người dân Biên Hòa bấy giờ còn nặng nề phương thức chữa trị theo cổ truyền nên ít đến xin chữa trị. ([1][28])

        Khi Chính quyền Sài Gòn tiếp quản cơ sở y tế của thực dân Pháp ở Biên Hòa sau Hiệp định Genève 1954, thì cơ sở này gồm có: Khu ngoại chẩn, khu nội khoa (80 giường bệnh) và khu hộ sinh (30 giường bệnh). Năm 1956, Ty y tế tỉnh Biên Hòa được Chính quyền Sài Gòn thành lập song song với việc thiết lập Bệnh viện tỉnh. Tên gọi Bệnh viện Biên Hòa bắt đầu có từ thời gian này. Song song với việc thiết lập bệnh viện, chính quyền tỉnh Biên Hòa lúc đó cũng tiến hành việc tổ chức bộ máy bệnh viện và hệ thống y tế cả tỉnh. Lúc đầu thành lập, Bệnh viện Biên Hòa và hệ thống y tế của tỉnh chưa được Bộ y tế của chính quyền Sài Gòn "tiếp liệu thuốc men, cung cấp và đài thọ nhân viên chuyên môn, mọi kinh phí khác như lương bổng nhân viên không chuyên môn (hạng C và D), xây cất thêm cơ sở, kinh phí điều hành đều do ngân sách tỉnh yểm trợ" ([2][29]).

        Tuy nhiên, việc xây dựng mạng lưới y tế cơ sở được tiến hành rất chậm. Mãi đến năm 1966, khi viện trợ của đế quốc Mỹ đổ ào ạt cho Chính quyền Sài Gòn, Bộ Y tế ngụy mới thực sự đài thọ hoàn toàn mọi chi phí về điều hành cùng lương bổng của các hạng nhân viên không chuyên môn cho hệ thống y tế của tỉnh. Bệnh viện Biên Hòa là cơ quan lo điều trị, Ty y tế chú trọng đến y tế công cộng bên cạnh việc xây dựng mạng lưới toàn tỉnh. Tính đến 1972, Ty Y tế tỉnh Biên Hòa có 6 chi y tế quận. Đó là các quận Đức Tu, Công Thanh, Long Thành, Nhơn Trạch và Dĩ An. Toàn tỉnh có 13 bệnh xá - hộ sinh xã; 10 nhà hộ sinh - trạm phát thuốc; 59 trạm y tế ấp. Theo tài liệu của Chính quyền Sài Gòn, hệ thống y tế cơ sở này hoạt động mỗi tháng trung bình khám và cấp thuốc khoảng 19.000 người.

        Bệnh viện Biên Hòa khi chính quyền Sài Gòn tiếp quản có khoảng 110 giường. Nhân viên chuyên môn và không chuyên môn khoảng vài chục người. Đến năm 1964, Chính phủ Australia yểm trợ cho Bệnh viện Biên Hòa một đội ngũ y bác sĩ ngoại khoa chuyên giải phẫu và nhiều dụng cụ thuốc men. Đến năm 1968, Chính phủ Australia lại tiếp tục đầu tư cho Bệnh viện Biên Hòa tu bổ lớn lại bệnh viện như: xây cất khu giải phẫu, nhà bếp, nhà giặc, tu bổ cải thiện khu ngoại chẩn, trại trả tiền, thiết lập một hệ thống điện và thoát nước mới thay thế hệ thống cũ đã quá lỗi thời không tác dụng.

        Tính đến năm 1968, số nhân viên của bệnh viện Biên Hòa có khoảng 170 người ([3][30]). Quy mô bệnh viện được phát triển: Trại bệnh trả tiền (phòng 1), trại công chức (phòng 2), khu ngoại chẩn, trại bảo sanh, trại ngoại khoa đàn ông, trại nội khoa đàn ông, trại ngoại khoa đàn bà, trại nội khoa đàn bà, trại nhi đồng, trại lao, khu giải phẫu, trại bệnh can phạm, câu lạc bộ, với số giường tính chung là 375 giường. Trung bình tại khu ngoại chẩn, mỗi ngày khoảng 300 người đến xin khám bệnh và xin cấp thuốc. Trong điều kiện chiến tranh ngày càng khốc liệt, nhu cầu chữa bệnh, đặc biệt là các loại bị thương do chiến tranh ngày càng nhiều. Và số giường của bệnh viện gần 400 giường đã không đủ để có thể tiếp nhận bệnh nhân, và riêng khu hộ sinh đã tiếp nhận trung bình trong một tháng khoảng trên 500 sản phụ tới xin hộ sản. Chính quyền Sài Gòn với sự trợ giúp của Chính phủ Australia lúc bấy giờ với ngân khoản 800.000 Úc kim lại tiếp tục cải tạo và nâng cấp bệnh viện Biên Hòa. Việc nâng cấp bệnh viện này không chỉ tăng số giường bệnh đến trên 500 giường mà còn tiếp tục trang bị đầy đủ tiện nghi của một bệnh viện tối tân so với trình độ kỹ thuật lúc ấy.

        Cũng vào năm 1968, ông Nghiêm Xuân Thọ, bác sĩ, Trưởng Ty y tế Biên Hòa kiêm Giám đốc Bệnh viện Biên Hòa đã đề nghị việc xây dựng một cơ sở đào tạo y tế tại Biên Hòa với tên gọi là Trường tá viên điều dưỡng. Nhờ sự tài trợ của hệ thống y tế quân đội chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ ([4][31]), Trường tá viên điều dưỡng được thành lập ([5][32]) và chính thức hoạt động từ tháng 2 - 1969 và ông Nghiêm Xuân Thọ kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc trường. Cơ sở đào tạo này đã khai giảng khóa học đầu tiên ngày 1 - 4 - 1969, thu nhận 50 học viên qua một kỳ thi tuyển nhập học theo thể lệ được áp dụng chung cho các trường tá viên điều dưỡng của Bộ y tế ngụy. Mỗi năm, trường đào tạo khoảng 50 học viên.

        Công tác y tế cộng đồng giai đoạn này không được chú trọng nhiều. Hệ thống nhân viên y tế cơ sở thỉnh thoảng có tổ chức phun thuốc đào tạo để diệt muỗi ở một số địa phương song việc làm này có tính chất hình thức nên hiệu quả không cao. Việc tuyên truyền vệ sinh cũng được tổ chức nhưng chủ yếu là hình thức áp - phích do Bộ y tế chính quyền Sài Gòn phát hành.

        Địa bàn tỉnh Long Khánh (lúc đầu là một quận của tỉnh Biên Hòa), hệ thống y tế bấy giờ còn rất sơ sài, chỉ có một phòng phát thuốc và 7 trạm cấp cứu với số nhân viên không quá 10 người. Đến năm 1968, số nhân viên y tế của tỉnh Long Khánh có khoảng 136 người. Cơ sở y tế được xây dựng mới một bệnh viện tại tỉnh lỵ (thị trấn Xuân Lộc ngày nay) gồm: Khu ngoại chẩn với các phòng cấp cứu, khám bệnh, thí nghiệm, quang tuyến X và phòng dược liệu; Khu điều trị với 138 giường và Khu giải phẫu với một số dụng cụ và tiện nghi được nhập từ Mỹ, Pháp. Hệ thống y tế cấp quận, xã của tỉnh Long Khánh thời gian này gồm 2 chi y tế: quận Kiệm Tân và quận Định Quán. Toàn tỉnh có 3 tiểu bệnh xá hộ sinh, 2 nhà hộ sinh và trạm phát thuốc, 5 chẩn y xá và 21 trạm y tế.

        Năm 1954, một cơ sở y tế được xây dựng ở Hố Nai do những tu sĩ của dòng "Đức mẹ chỉ bảo đàng lành" (Công giáo) thành lập và do một thầy dòng người Canada William Gagnon quản lý. Lúc đầu, dân trong vùng quen gọi là "bệnh viện di cư" vì chủ yếu phục vụ cho người Bắc di cư vào. Đến 1956, cơ sở y tế này được dòng Gioan Thiên chúa đầu tư nâng cấp với quy mô lớn hơn và đặt tên là "Bệnh viện Thánh Tâm".

Cũng trong thời gian này, chính quyền Sài Gòn tiếp quản Dưỡng trí viện Biên Hòa và đổi tên thành Dưỡng trí viện bác sĩ Nguyễn Văn Hoài ([6][33]) để ghi công bác sĩ Hoài, Giám đốc người Việt Nam đầu tiên của bệnh viện đã tạ thế năm 1955 tại Dưỡng trí viện. Sau đó, vào năm 1971 lại đổi tên Dưỡng trí viện thành Bệnh viện tâm trí bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, chú ý chức năng điều trị hơn là di dưỡng ([7][34]). Từ sau 1955, số trại bệnh tăng thêm, được sắp xếp khoa học hơn. Cho đến những năm cuối của thập niên 60, Dưỡng trí viện Biên Hòa gồm các phòng điều trị bệnh và 18 trại bệnh:

         - Phòng ngoại chẩn: Làm việc mỗi ngày từ 8 giờ 30 đến 11 giờ 30 và từ 14 giờ 30 đến 17 giờ, có nhiệm vụ tìm các trường hợp bệnh mới phát khởi, giải quyết các trường hợp nhẹ chưa cần nằm viện, theo dõi điều trị lai hành (traitement ambulatoire - hiện nay gọi là điều trị ngoại trú) những trường hợp đã thuyên giảm và trắc nghiệm tâm lý trường hợp cần thiết.

         - Phòng trắc nghiệm: Có nhiệm vụ trắc nghiệm tâm lý để chẩn bệnh và theo dõi người bệnh, nhất là các trường hợp người bệnh thiếu trí.

         - Phòng chỉ dẫn

         - Phòng thăm bệnh

         - Phòng xã hội: Liên lạc với các cơ quan từ thiện, cá nhân hảo tâm tới an ủi, giúp đỡ người bệnh. Liên lạc với người bệnh còn ở gia đình họ để theo dõi.

         - Phòng đọc sách

         - Câu lạc bộ: Bán các loại nước giải khát, điểm tâm và một vài vật dụng hàng ngày cho người bệnh.

         - Phòng quang tuyến, phòng thí nghiệm và các dược xá: Là những cơ sở chuyên môn.

        Các khu trại bệnh gồm có:

         - Trại quan sát: Điều trị và quan sát các người bệnh đặc biệt cần theo dõi thường xuyên hoặc người bệnh mới nhập viện trong 15 ngày đầu. Các phòng ở trại này có đầy đủ tiện nghi và nhân viên trực 24 giờ trong ngày.

         - Trại y xá (Trại 3): người bệnh nữ; Trại 4: người bệnh nam): Điều trị các người bệnh tâm trí về nội ngoại thông thường và săn sóc đặc biệt người bệnh già yếu.

         - Trại nhi đồng (Trại 2): điều trị trẻ em mắc bệnh tâm trí.

         - Trại bệnh án: Là nơi giam và điều trị những người bệnh tâm trí phạm pháp hoặc do cơ quan tư pháp gửi đến khám nghiệm hay điều trị. Trại gồm 2 trại riêng: trại 16 cho người bệnh nam và trại 13 cho người bệnh nữ.

         - Các trại bệnh khác chia làm 2 khu riêng: người bệnh nam ở các trại số chẵn: 6, 8, 10, 12, 14, 16, 18, 20. Người bệnh nữ ở các trại số 5, 7, 9, 11, 15.

         - Khu lao tác trị liệu: Là nơi thực nghiệm một trong những phương pháp điều trị bệnh tâm trí, áp dụng cho những người bệnh nhẹ hoặc đã tỉnh qua các việc như: hội họa, dệt chiếu, dệt vải, gia chánh, rèn, mộc, may, thêu...

        Ngoài các trại bệnh, văn phòng, Dưỡng trí viện Biên Hòa còn có các công thự, cư xá, trường học, hồ tắm, sân vận động, xưởng thợ, khu chăn nuôi và trồng trọt dành cho bác sĩ và nhân viên.

        Thời gian này, cùng với sự phát triển về y học trên lĩnh vực tâm thần trên thế giới, Dưỡng trí viện Biên Hòa đã nghiêng về các liệu pháp điều trị mới. Theo tư liệu còn lưu trữ trong khoảng năm 1956 - 1963, thì tổng số người bệnh năm 1956 là 1.102 người, trong đó số trở lại bình thường được xuất viện là 384. Năm 1963, số người bệnh là 1672 và số được ra là 636 người. Nhiều người bệnh từng có địa vị trong xã hội như: Một ông hoàng Lào, một viên quan hai, một ông chủ bưu điện, một cô đầm... thậm chí cả bác sĩ, nhà giáo và trí thức khác. Khoảng những năm 1965 - 1966, một số nhà báo, nhà thơ đã là bệnh nhân của Dưỡng trí viện Biên Hòa và phải tới đây điều trị nhiều lần như: Nguyễn Ngu Í, Bùi Giáng...

        Tính đến trước ngày 30 - 4 - 1975, bệnh viện có 21 trại: Trại cấp tính nữ, Trại cấp tính nam (còn gọi là Dũng), Trại quan sát: cấp cứu tập trung, Trại 3: y xá đàn bà, Trại 4: y xá đàn ông, Trại 5: trại bệnh nữ trả tiền, Trại 6: trại bệnh nam trả tiền, Trại 7: Bán cấp nữ, Trại 8: Bán cấp nam, Trại 9: Lao ổn định nữ, bán cấp tâm thần, Trại 10: Lao ổn định nam, bán cấp tâm thần, Trại 11: Động kinh nữ, Trại 13: Pháp y nữ, Trại 14: Động kinh nam, Trại 15: Nữ già yếu, Trại 16: Pháp y nam, Trại 18: Nam sa sút, Trại 20: Lao điều trị, Trại nhi đồng, Nông trại nữ: người bệnh ổn định nữ, Nông trại nam: người bệnh ổn định nam.



([1][28]) Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa 1968, bản đánh máy, chưa xuất bản. 

([2][29]) Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa 1968, bản đánh máy, chưa xuất bản.

([3][30]) Nhiều nhân viên lúc bấy giờ nay vẫn còn phục vụ tại bệnh viện này.

([4][31]) Bấy giờ, ông Nghiêm Xuân Thọ đã được sự trợ giúp của bác sĩ Vanderhoof, trưởng vùng III Y tế và Lâm Quang Chính, đại tá tỉnh trưởng chính quyền ngụy.

([5][32]) Theo Nghị định số 327/BYT/KHHL/NĐ ngày 3 - 8 - 1968  của Bộ Y tế Chính quyền Sài Gòn.

([6][33]) Theo Nghị định số 1918 HCSV ngày  11 - 7 - 1955 của Chính quyền Sài Gòn.

([7][34]) Theo Nghị định số 3243 - BYT/PC/NĐ ngày 26 - 7 -1971  của Bộ y tế chính quyền Sài Gòn. 

Comments