3.1. Sự trưởng thành đội ngũ cán bộ và mạng lưới tổ chức

Sau ngày giải phóng 30 - 4 - 1975, Chính quyền cách mạng tiếp quản các cơ sở y tế của Chính quyền Sài Gòn cũ và bắt tay vào xây dựng lại mạng lưới y tế cơ sở cũng như đội ngũ cán bộ. Bấy giờ, toàn tỉnh có một bệnh viện lớn với quy mô 375 giường ở Biên Hòa, ở Long Khánh có 1 bệnh viện đặt tại thị trấn Xuân Lộc với trên 100 giường, tại huyện Thống Nhất có Bệnh viện Thánh Tâm với quy mô trung bình (trên 150 giường bệnh). Ngoài ra còn có Bệnh viện tâm trí bác sĩ Nguyễn Văn Hoài (tức Nhà thương điên Biên Hòa). Mạng lưới y tế cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh lúc ấy tuy được hình thành nhưng không đồng bộ, phiến diện. Các trạm y tế nhà hộ sinh do chế độ cũ để lại thiên về điều trị và không coi trọng công tác dự phòng. Mặt khác, mạng lưới cơ sở y tế lại tập trung vào vùng đô thị, thị tứ, thị trấn, chưa phát triển ở vùng nông thôn.

        Những năm đầu sau ngày thống nhất, Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo cho ngành y tế phải sớm kiện toàn hệ thống và tổ chức, tăng cường đội ngũ cán bộ với mục tiêu: hoàn thiện tuyến tỉnh, tăng cường tuyến huyện, củng cố và phát triển y tế xã - phường, y tế vùng xa, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc ít người và xây dựng hoàn thiện mạng lưới phòng bệnh từ tỉnh đến cơ sở.

        Hàng loạt những quyết định của UBND tỉnh Đồng Nai đã ra đời để tiến hành các mục tiêu trên: Năm 1976, UBND tỉnh ra quyết định thành lập Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai. Năm 1977, UBND tỉnh ra quyết định thành lập Bệnh viện cán bộ với quy mô 200 giường ([1][35]). Năm 1978, UBND tỉnh ra Quyết định quốc lập hóa Bệnh viện Thánh Tâm (nay là bệnh viện Thống Nhất) tổ chức lại một bệnh viện tuyến tỉnh với quy mô 250 giường ([2][36]). Năm 1980, UBND tỉnh ra quyết định thành lập Bệnh viện Khu công nghiệp Biên Hòa với quy mô 50 giường ([3][37])... Việc thành lập các bệnh viện khu vực, các phòng khám khu vực cũng như các trạm y tế xã phường diễn ra liên tục. Tính đến 1997, toàn tỉnh đã có một hệ thống cơ sở y tế khá mạnh và tương đối đầy đủ.

        Tỉnh Đồng Nai hiện có: 1 bệnh viện đa khoa tỉnh là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai; 4 bệnh viện đa khoa khu vực là Bệnh viện khu vực Thống Nhất, Bệnh viện khu vực Long Thành, Bệnh viện khu vực Xuân Lộc và Bệnh viện khu vực Tân Phú; 6 bệnh viện tuyến huyện (còn gọi là Trung tâm y tế có giường bệnh) ở Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Tân Phú, Biên Hòa; 3 bệnh viện chuyên khoa là Trung tâm lao và bệnh phổi, Trung tâm nhi đồng Đồng Nai (nay là Bệnh viện nhi đồng Đồng Nai), Bệnh viện da liễu và HIV/ADIS. Ngoài ra, còn có Trung tâm y học dự phòng (trước đây là trạm vệ sinh phòng dịch), Trạm phòng chống sốt rét, Bệnh viện y học cổ truyền (thành lập 1999) và các phòng chẩn trị y học dân tộc...

        Mạng lưới y tế phường, xã được xây dựng với 163 trạm xá và 3 trạm y tế công nông lâm trường, tăng gấp 2 lần so với năm 1976. Số giường bệnh ở cả ba tuyến đã gấp 4 lần so với năm 1975 (3085/800 giường). Số cán bộ y tế của tỉnh cũng đã không ngừng tăng. So với năm 1976, cán bộ toàn ngành y tế tăng 2 lần (3.683/1.798). Trong đó bác sĩ tăng gần 9 lần (508/57), y sĩ tăng gần 8 lần (807/102). Đưa bình quân bác sĩ cho một vạn dân từ 0,41 lên 2,7 và y bác sĩ cho 1 vạn dân từ 0,9 lên 7 người. Hệ thống các trạm chuyên khoa từ 2 trạm với 16 cán bộ đến nay đã có 6 trạm và trung tâm với 242 cán bộ, và mỗi huyện thị có 26 cán bộ chuyên trách phòng bệnh. Đặc biệt, tuyến xã phường có từ 6% xã có y sĩ đến nay 100% xã phường có y bác sĩ trong đó có 41 xã phường có bác sĩ chiếm 35% (41/119).

        Bên cạnh việc phát triển hệ thống y tế hiện đại, mạng lưới y học cổ truyền được chú trọng mở rộng hơn trong những năm gần đây. 1997, UBND tỉnh ra quyết định thành lập Trung tâm y học dân tộc (1999 chuyển thành Bệnh viện y học cổ truyền). Cùng với hoạt động của Hội y học cổ truyền Đồng Nai, các bệnh viện lớn của tỉnh đều có Khoa y học dân tộc cổ truyền. Số người hành nghề y học dân tộc được công nhận lương y là 775 người. Năm 1998, hệ thống y tế trong tỉnh có thêm 3 đoàn thể nữa là Hội châm cứu, Hội điều dưỡng và Hội dược học.



([1][35]) Quyết định số 511/QĐ - UB ngày 11 - 5 - 1977 của UBND tỉnh Đồng Nai

([2][36]) Quyết định số 1029/QĐ - UBT ngày 31 - 8 - 1978 của UBND tỉnh Đồng Nai

([3][37]) Quyết định số 566/QĐ.UBT ngày 6 - 8 - 1980 của UBND tỉnh Đồng Nai 

Comments