3.8. Công tác nghiên cứu khoa học

Tình hình bệnh tật phổ biến ở Đồng Nai những năm qua là các bệnh nhiễm (sốt rét, thương hàn, sốt xuất huyết, lao...), ngộ độc thuốc trừ sâu và nhất là tai nạn lưu thông. Những đề tài nghiên cứu khoa học của ngành y tế Đồng Nai cũng tập trung vào những vấn đề trên. Ngoài ra, còn có một số đề tài nghiên cứu về bệnh tim mạch, nội tiết, các chuyên khoa mắt, tai - mũi - họng, tình hình kháng thuốc kháng sinh, vai trò của siêu âm trong chẩn đoán và điều trị, quản lý tiêm chủng, sinh đẻ có kế hoạch v.v...

        Các công trình nghiên cứu khoa học của ngành y tế Đồng Nai còn có sự tham gia hỗ trợ của các đơn vị y tế trung ương (tuyến trên) như Bệnh viện Chợ Rẫy, Trung tâm bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức y học nước ngoài như: Viện nghiên cứu y học nhiệt đới SANYA (Trung Quốc), tổ chức WELLCOME TRUST (Đại học Oxford - Anh quốc).

        Các bác sĩ Nguyễn Văn Cao (Bệnh viện khu vực Long Thành) và Nguyễn Đức Thỉnh (Bệnh viện Đồng Nai) đã có các công trình nghiên cứu về điều trị ngộ độc thuốc trừ sâu gốc phosphore hữu cơ ở vùng nông thôn (bằng pradiloxime truyền tĩnh mạch, kết hợp sử dụng máy thở) ([1][38]). Những công trình này đã góp phần giảm tỉ lệ tử vong do ngộ độc thuốc rầy. Nhóm bác sĩ Phạm Quang Huy (chủ đề tài), Lưu Tuấn Giang, Huỳnh Thu Ba, Nguyễn Văn Bình của Bệnh viện khu vực Thống Nhất đã nghiên cứu thành công mối liên quan giữa đường huyết, áp huyết trong tai biến mạch máu não và đưa ra phương pháp điều trị riêng góp phần giảm tỷ lệ tử vong. Nhóm bác sĩ Phan Huy Anh Vũ, Phạm Thị Ngọc Nga, Võ Mậu Thiên (Bệnh viện Đồng Nai) tìm ra phác đồ điều trị mới "phối hợp thyroxin thuốc kháng giáp trong điều trị basedow. Nhóm bác sĩ Cao Xuân Thanh Phương của Trung tâm nhi đồng Đồng Nai đã phối hợp với Trung tâm bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh và Tổ chức Wellcome Trust (Đại học Oxford) thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về điều trị thương hàn không biến chứng cho trẻ em (dùng ofloxacincefixime) và điều trị sốt xuất huyết Dengue ([2][39]) bằng dung dịch điện giải lactated ringer kết hợp với Dextran 70 trong dung môi Natricholorure 0,9%.

        Phần lớn các công trình khoa học ở các cơ sở y tế của Đồng Nai là những công trình có tính chất so sánh thống kê tìm biện pháp tối ưu. Ví dụ công trình so sánh việc sử dụng artemisinin hoặc artesunate (phối hợp với một số thuốc khác) thay cho quinine trong điều trị sốt rét để giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét ác tính của nhóm bác sĩ Phạm Lê Thịnh (Bệnh viện khu vực Xuân Lộc) phối hợp với GS. Lý Quốc Kiều và cộng sự thuộc Viện nghiên cứu y học nhiệt đới Sanya (Quảng Châu - Trung Quốc)... Từ khi máy siêu âm được đưa vào sử dụng như một phương tiện cận lâm sàng, nhiều cơ sở y tế Đồng Nai đã có những công trình nghiên cứu có tính chất tổng kết về các loại bệnh có nguy cơ tử vong cao như công trình nghiên cứu về phẫu thuật máu tụ dưới dạng cứng mãn tính của nhóm bác sĩ Ngô Đức Để, hoặc chẩn đoán thủng tạng rỗng của nhóm bác sĩ Phạm Long Thắng (Bệnh viện Đồng Nai), hoặc xuất huyết màng não sớm ở trẻ sơ sinh của bác sĩ Trần Thị Hiệp (Trung tâm nhi đồng Đồng Nai). Do chưa chú trọng công tác nghiên cứu, ngành y tế Đồng Nai ít có những công trình có đóng góp cao cho y học.



([1][38]) Kết quả của các công trình nghiên cứu này: Khi chưa trang bị máy thở (1991): 26% tử vong, khi có máy thở (1994): 18,8%, từ 1995 đến nay, khi có Pralidoxime, tử vong còn 13,15%

([2][39]) Do siêu vi trùng Dengue gây ra và có tỷ lệ tử vong rất cao 20 năm qua ở khu vực Đông Nam Á

Comments