2.2. Phương thức canh tác cổ truyền

Như tất cả các dân tộc khác ở miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên - Nam Trường Sơn, nền kinh tế cổ truyền của người Châu Ro là kinh tế nương rẫy, du canh (do đó du cư) "ăn nước trời" dựa trên quan hệ sản xuất tập thể nguyên thủy. Hồi đó, mỗi thị tộc nhỏ bé tập hợp chưa đến 100 nhân khẩu. Mọi người cùng làm cùng hưởng những sản phẩm trồng trọt, hái lượm, đánh cá một cách bình đẳng. Qua tiếp xúc liên tục, lâu dài với các dân tộc anh em khác mà quan hệ sản xuất tập thể nguyên thủy dần dần tan rã, thay thế bằng lối làm ăn riêng lẻ du canh còn tồn tại đến nay.

Muốn làm rẫy, người chủ gia đình Châu Ro (trước kia là vị gìa làng có kinh nghiệm nhất, hoặc người đứng đầu làng (palây) thấy nơi nào đất ẩm nhiều mùn hoặc đất đỏ tơi xốp thì chọn nơi đó. Rẫy đất xám nghèo mùn và độ phì thường chỉ làm 2 vụ đã kiệt màu thì bỏ. Rẫy đất đỏ tơi xốp phì nhiêu hơn, có thể trồng 3, 4 vụ liền. Các rẫy lọt thỏm giữa rừng già đại ngàn mênh mông có hình thái da beo đánh giá sự có mặt của con người trong thảm thực vật phồn thịnh miền nhiệt đới gío mùa châu Á. Các loại thú thường phá hoại các loại cây trồng trên nương rẫy, có khi chỉ một đêm (hoặc một buổi tối) chúng có thể xóa sạch thành quả lao động cả vụ. Cho nên các rẫy trong một làng thường ở cạnh nhau, rẫy mỗi nhà ngăn cách bằng ranh giới hoàn toàn ước lệ: hàng cây, những hòn đá xếp thành vạch... Các rẫy ở ngoài cùng được rào bằng tre hoặc cành cây khá chắc chắn.

Lựa xong đất làm rẫy (mir, có nơi gọi là re) người ta phát sạch một miếng đất cỏ bằng nền nhà nhỏ, đêm đó nếu nằm chiêm bao thấy ông bà tổ tiên cho làm thì mới trồng tỉa; nếu không, họ tiếp tục tìm đất mới. Định được nơi làm rẫy, chủ nhà cúng rẫy, van vái các thần (yang) và ông bà tổ tiên cho được mùa. Lễ vật gồm: một con gà, một chai rượu, vài chiếc bánh nếp, một chén gạo, một nhúm muối, vài miếng trầu cau... Cúng xong người ta ăn ngay tại chỗ và bắt đầu chặt hạ cây cối và phát các bụi nhỏ, cỏ, dây leo...

Người Châu Ro ở Đồng Nai có vài kiêng cữ: con cù lần (con cu li hoặc phủ hầu) vào rẫy; hoặc trút, trăn, rắn, rùa chết trong rẫy thì người ta bỏ rẫy đó không làm vì sợ trỉa lúa sẽ thất, gia đình sẽ đau ốm. Muốn làm tiếp tục trên rẫy đó thì phải cúng. Đi làm nếu gặp con mang (mển, đỏ) thì quay về, mai đi làm tiếp. Trong khi làm rẫy phải cữ kêu trời, không nói tới toi dịch... Người Châu Ro (cũng như người Mạ, người Stiêng) ở Đồng Nai giải thích: xưa kia cù lần là ông tổ con người, dạy người làm rẫy cho nên gặp ông tổ thì con cháu phải tránh xa, không được làm kinh động. Như vậy con cù lần là tô tem của người Châu Ro ở Đồng Nai.

Xưa kia đất rừng còn rộng mênh mông, họ bỏ hẳn rẫy cũ. Người Việt đến tiếp tục trồng trỉa trên đất bỏ đi đó, tuy độ phì giảm nhưng không tốn công khai phá. Nay người đông lên, đất chật và tìm đất mới không dễ thì họ chỉ bỏ hóa vài năm cho đất phục hồi rồi lại trồng tiếp tục. Một mảnh rẫy cũ (re hoặc re thâm) chỉ cần bỏ hóa 2 năm thì cây chồi đã mọc thành rừng chồi. Bảy, tám năm sau cây lớn, đất tích lũy được lượng mùn nhất định, người ta lại có thể làm rẫy trở lại. Gia đình nào trước đây cũng có ít nhất một rẫy cũ đã làm qua một vụ và rẫy mới (răm) vừa khai phá. Các rẫy có thể ở gần hoặc xa nhau tùy địa phương. Một đời người xưa kia thường chỉ quay 3 vòng rẫy là cùng, đó là cách làm rẫy chu kỳ kín. Nhưng có những nhóm dựng nhà rồi lại làm rẫy kế bên, vài năm sau họ bỏ đi và không trở lại làm rẫy cũ nữa, đó là lối du canh du cư thực sự, nay hầu như không còn.

Mảnh rẫy cũ bỏ hoang từ 2 năm trở lên thì không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ ai, người nào muốn làm cũng được. Nhưng để giữ mối quan hệ tốt với người có công khai phá trước thì người tới sau thường đem chai rượu, thuốc hút và trầu cau đến nói chuyện. Ở vùng đồng bào Châu Ro rất hiếm xảy ra tranh chấp nương rẫy, mãi gần đây mới có một số bà con sang ruộng và rẫy cho các dân tộc anh em đến làm ăn xen kẽ. Ruộng rẫy đem sang thường gần làng xóm, đã bạc màu. Người Châu Ro ngày càng làm rẫy sâu vào vùng rừng núi như vết dầu loang. Khoảng đầu và giữa thập niên 60, đồng bào Châu Ro ở Túc Trưng (xưa là xã Bình Hòa, Định Quán) còn làm ruộng và rẫy ở ven Quốc lộ 20 thì nay bà con đã khai phá sâu về phía Lâm trường Vĩnh An, Cây Gáo đến 10 km. Năm 1975 bà con ở Bảo Chánh còn làm rẫy ở núi Chứa Chan (Gung Char: núi lớn) thì nay rẫy lui sâu vào phía Thọ Vực hơn 5 km trở lên.

Từ khoảng tháng 1 âm lịch, từng gia đình bắt đầu khai phá rẫy mới và dọn rẫy cũ. Đây là công việc nặng nhọc đòi hỏi nhiều sức người, nên trong xóm làng người ta thường vần đổi công. Chủ rẫy lo cơm trưa cho những người làm giúp. Chặt hạ cây là việc nặng và nguy hiểm do đàn ông đảm nhiệm. Người ta dùng rìu (xuung) hạ cây lớn, rựa (bra) hoặc chà gạc (via) phát bụi cây nhỏ, dây leo, cỏ tranh... Bộ công cụ lao động và dụng cụ gia đình của người Châu Ro ngày nay gồm:

 - Rìu đốn cây to gọi là xuung hoặc xuung cây xơ, xuông tùy nơi.

 - Rựa chặt cây nhỏ gọi là bra, pì bra; chà gạc gọi là via (wiah)

 - Cào gom cỏ hoặc cây chồi là xơ xằm băm; chĩa tre gom cỏ là kđạp.

 - Cuốc nhỏ làm cỏ gọi là nạo, nih, cuốc lớn cũng gọi là cuốc

 - Cây chọc lỗ trỉa hạt là chà moi, xơmol, chơtamâng.

 - Dao cắt lúa gọi là to knhel, liềm cắt lúa cũng gọi là lưỡi hái.

 - Cái cày gọi là war, cái bừa không có tên riêng.

 - Cối giã gạo là kpây, là pal, n'pal voh va; chày tay là r'nây, gnây, r'nây voh va (tùy từng vùng).

 - Nia sảy gạo là xập pin, xa piây.

 - Gùi nhỏ đan thưa đựng củi, trái cây... là jal, xah xoi; gùi lớn (cái bồ) đựng thóc, bắp là prông, xah.

Theo lời nhiều bà con, xưa kia chà gạc được dùng phổ biến, cũng như rựa, cuốc nhỏ, cây chọc lỗ, gùi nhỏ. Một số loại công cụ mới sử dụng về sau này: các loại rìu, rựa, thuổng, cào cỏ... bằng sắt do trao đổi với các dân tộc anh em mà có. Một số cụ già Châu Ro ở Túc Trưng còn nhớ vào khoảng cách nay năm, sáu chục năm có ông Tám Xương - tín đồ Tin Lành - từ Biên Hòa dùng xe đạp chở các loại công cụ sắt này lên bán.

Từ tháng ba âm lịch, cây bị đốn đã khô, người ta đốt đi. Các gốc cỏ sót lại được rẫy nốt bằng cào cỏ (xạc lai ([1][1])). Cho đến nay, nhiều bà con Châu Ro còn tin rằng nếu dọn sạch và đốt rẫy xong trưóc rằm tháng ba âm lịch thì rẫy sẽ ít cỏ, được mùa... Theo phó tiến sĩ Nguyễn Thành Luông (đài Khí tượng thủy văn Thành phố Hồ Chí Minh) thì ngày mưa thật sự - ngày mưa trên 5 mm và sau đó dãy lượng mưa tích lũy trượt 5 ngày đạt từ 25 mm trở lên và liên tục, cách nhau không quá 4 ngày - trong vòng 15 năm trở lại đây, là từ khoảng 8 - IV đến 25 - V tức là khoảng giữa cuối tháng 3 và tháng tư âm lịch ([2][2]). Chế độ mưa và thời gian mưa ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai không khác nhau mấy. Như vậy, qua thực tiễn, người Châu Ro sản xuất theo quy luật diễn biến của khí hậu địa phương.

Người Châu Ro ở Bảo Chánh (huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) và Ngãi Giao (huyện Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu) đã biết dự đoán thời tiết khá chính xác qua quan sát thiên nhiên. Khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch, nếu ở núi Chứa Chan (Gung Char) có sấm - mà bà con gọi là trời gầm đầu mùa - thì sắp có trận mưa đầu mùa. Núi Chứa Chan cao hơn, thường mưa trước, có sấm chớp; nếu núi Thị Vãi (Gung Xoai) có tiếng vang đáp lại thì đó là bắt đầu mùa mưa. Ban đêm, những người tinh mắt ở Ngãi Giao nhìn thấy ở núi Thị Vãi có một hòn đá đỏ lừ, sáng ra thấy khói bốc lên, thì một tuần sau nhất định có mưa đầu mùa. Vào mùa mưa, nhìn đồi núi phủ khói thì trời mưa liên tục; vào cuối mùa mưa, nếu thấy núi có khói thì hôm đó trời mưa. Khói ở đỉnh núi chính là mây bị địa hình cao đột khởi chặn lại ắt gây mưa.. Người Châu Ro nhìn trăng ban đêm thấy tán màu xám đoán sẽ có mưa nhỏ, nếu tán đen dày là sắp mưa to.

Người Châu Ro khá am tường vật hậu học, họ có câu: "Ray nhim đaq (đọc là đạ) Gung Char": đầu mùa mưa, cây to (là anh) mọc ven sông Ray khóc cỏ tranh (là em) mọc trên núi Chứa Chan còn bị nắng nên héo vàng; và cũng có câu: "Gung Char đaq nhim Ray": giữa mùa mưa cỏ tranh (là em) trên núi Chứa Chan khóc anh (cây to) mọc ven sông Ray chết vì ngập nước. Khi họ thấy ếch kêu, ve kêu, thấy đuôi kỳ đà đen đều, cắc ké đầu xanh, xương ếch đen đi (khi bắt ăn thịt)... thì biết trời sắp mưa. Bà con cũng để ý quan sát thấy nước giếng tự nhiên cạn bớt là dấu hiệu trời sắp mưa...

Sau những trận mưa dông đầu mùa nửa cuối tháng 3 âm lịch, các gia đình bắt đầu tỉa hạt bắp, bầu bí, dưa leo... Đàn ông hai tay cầm 2 gậy chọc lỗ (xơmol) dài khoảng 2 m nhọn đầu (có thể bịt sắt) vừa đi vừa chọc 2 hàng lỗ. Một người chọc lỗ nhanh có thể đảm bảo cho vài phụ nữ đi sau tỉa hạt. Họ cầm ống tỉa (tinh xoay) bằng lồ ô hoặc nứa dài đựng hạt giống, dốc hạt ra bàn tay tự do thả 2, 3 hạt vào lỗ rồi cầm ống tỉa lấp đất. Một tốp mỗi ngày có thể gieo hạt được vài công (1 công: 1.000 m2).

Cuốc chưa được dùng nhiều để lật hoặc xới xáo đất. Rẫy được dọn, đốt xong thì người ta chọc lỗ tỉa hạt nên rễ cây thường ăn nông làm đất mặt kiệt màu nhanh - nhất là đồng bào chưa bón phân - chưa kể đất mặt bị những trận mưa rào xối xả cuốn đi ròng rã 6 tháng mùa mưa.

Bắp, bầu bí, mướp, dưa leo... được tỉa đầu tiên, mỗi lỗ cách nhau khoảng 60 cm. Đến tháng năm âm lịch, mưa đều hơn, đất đã nguội, bắp lên cao vài gang tay thì bà con bắt đầu tỉa lúa và hạt bông cùng lúc, khoảng cách từ 30 - 40 cm.

Theo tập quán, bà con thường tỉa hạt rẫy cũ xong mới đến rẫy mới. Cách làm này có cơ sở khoa học: rẫy mới tuy tỉa sau nhưng vì màu mỡ hơn nên cây trồng vẫn lớn kịp thứ tỉa trước. Trên một mảnh rẫy, mùa đầu người Châu Ro trồng nhiều loại:

- Phía ngoài cùng bắp, đậu ván, đậu rồng, mướp...

- Ở vành đai trong, người ta trồng khoai mì

- Ở giữa (trong cùng) người ta tỉa lúa rẫy và mè xen bắp.

Đến mùa sau, rẫy đã cũ, được chia làm 3 mảnh trồng 3 thứ: lúa, bắp, khoai mì. Còn đậu ván, đậu rồng, mướp... trồng ở cạnh nhà. Trên mảnh rẫy, cây trồng có thể đa dạng tuỳ sở thích chủ nhân. Mùa rẫy hàng năm bắt đầu sau khi bà con cúng yang lúa (yang va). Họ thu hoạch bắp vào tháng 6 âm lịch, lúa nương vào tháng 10.

Người Châu Ro ở các xã Xuân Phú, Xuân Thọ và một số nơi khác biết làm ruộng lúa nước thành thạo với kỹ thuật như người Việt (ở xen kẽ): cày bừa, gieo mạ rồi cấy và chăm sóc (tát nước, làm cỏ, bón phân...). Nơi sẵn nước, bà con có thể làm 2, 3 vụ mỗi năm: vụ đông xuân cấy tháng 11, 12 âm lịch và gặt tháng 3 âm lịch; vụ hè thu cấy tháng 5 gặt tháng 8; vụ mùa cấy tháng 6 gặt tháng 11, 12 - nay ít làm, nơi nào cấy giống ngắn ngày vào tháng 9 thì gặt tháng 12 âm lịch. Ruộng lúa nước tỏ rõ tính hơn hẳn so với lúa rẫy: năng suất cao và ổn định, thâm canh tốt có thể đạt 4 tấn/vụ/ha.

Tập đoàn lúa của người Châu Ro phong phú chứng tỏ họ là cư dân nông nghiệp lâu đời. Họ trồng nhiều thứ lúa (va, bar):

- Lúa nếp có: nếp cái (nh' pal Chrau jro), nếp tép (va con brih), nếp trắng (va xom), nếp con cua (bram bray cham), nếp muối (bram bray boh), nếp than (va bar chaông), lúa nếp cha (nh'pal xkan)

- Lúa tẻ có: lúa bãi trầu (va brau yang), lúa va xe, lúa cà ké (va keh), lúa mờ ớ (va tơm), lúa mang (va djil), lúa cung (va kla), lúa thơm tôn (va kop), lúa mẹ (va gup), lúa mẫn (va mẫn), lúa khô vằn (va chap chay), lúa ruồi (va thuc)... và ngày nay họ cũng trồng lúa trắng tép, ba bụi, ba xe...

Các loại hoa màu có: bắp (tờ ngơi, xom), khoai mì (bum blang), khoai lang (bum brăng), khoai mỡ (bum tơng), khoai chụp (bum brih)...

Các loại rau đậu gồm: đậu, bầu (tôh), bí xanh (là buôl), bí đỏ (ploi), dưa leo (rà pung), dưa hấu (cai), mướp (pai vuynh), cà (plân)

Các loại cây gia vị có: ớt (m'rêch), xả (plăng), nghệ (mứt), gừng...

Lịch thời vụ chính của người Châu Ro theo âm lịch:

 

CÂY TRỒNG

TỈA HẠT

THU HOẠCH

Bắp

Tháng 3, 4

Tháng 6,7

Đậu xanh

Tháng 3, 4

Tháng 6

Khoai lang vụ 1

Tháng 3, 4

Tháng 7

Khoai lang vụ 2

Tháng 7

Tháng 10,11

Bầu, bí mướp

Tháng 3, 4

Tháng 6

Lúa rẫy

Tháng 5

Tháng 10,11

Bông

Tháng 5

Tháng 11

Khoai mì

Tháng 3, 4

Tháng 10 trở lên

Từ lâu người Châu Ro trồng tỉa theo âm lịch, một năm (đuung ba) chia làm mười hai tháng (mât bar khay), mỗi tháng có một số việc chính

 

THÁNG (âl)

TÊN CHÂU RO

CÁC CÔNG VIỆC NÔNG NGHIỆP

Giêng

Khay muôi

Khai phá rẫy mới từ sau ngày 15, làm be (củi, gỗ)

Hai

Khay bar

Làm mướn... (hai tháng công việc như nhau)

Ba

Khay pe

Nửa đầu tháng đốt rẫy, dọn rẫy cũ, có mưa thì tỉa bắp, bầu bí, dưa, mướp

Khay puôn

Như tháng 3

Năm

Khay prăm

Làm cỏ rẫy, tỉa lúa, từ 5 - 5 gieo mạ mùa dài ngày...

Sáu

Khay prau

Làm cỏ rẫy, thu hoạch hoa màu: bầu bí

Bảy

Khay pơ

Tiếp tục thu hoạch, tỉa bắp vụ 2, cấy lúa ruộng, cắm câu, đi săn...

Tám

Khay ph'am

Cắm câu, đi săn

 

 

 

Chín

Khay xin

Như tháng tám

Mười

Khay mât

Thu hoạch bắp vụ 2, khoai lang

Mười một

Khay mât nuôi

Thu hoạch lúa rẫy, bông, lúa ruộng

Chạp

Khay mât bar

Đi săn, tát cá, làm be

Từ tháng mười một tới tháng ba âm lịch, được tương đối rảnh rỗi, các hộ Châu Ro nghèo thường đi làm mướn kiếm thêm tiền.

Đất núi rừng còn rộng, người thưa, cho đến nay đồng bào Châu Ro chưa bị trói vào cái "xiềng ba sào" - tương đương một công đất 1000 m2 - nhưng một gia đình có vài bốn lao động chính và phụ cũng chỉ làm được hai ba ha rẫy là cùng. Sau khi tỉa hạt (lúa, bắp...) hơn một tháng thì cỏ dần dần lấn át cây trồng, tranh chất dinh dưỡng, ánh sáng, nước của cây trồng. Người ta cần cù làm cỏ bằng cào cỏ (nạo, xạc lai) mất nhiều thời gian, công sức. Vì vậy, nhiều gia đình bám rẫy suốt vụ bảy tám tháng liền, chỉ khi cần mới về nhà, tuy nhà chỉ cách rẫy một giờ đi bộ. Qua kinh nghiệm, người ta thấy rẫy cũ thường nhiều cỏ hơn rẫy mới, nơi đất dốc càng ít cỏ, đỡ tốn công làm cỏ. Năng suất cây trồng phụ thuộc vào sự mầu mỡ của đất, thời tiết... Năm nào mưa thuận gió hòa thì thu hoạch khá, năm nào nắng hạn nhiều chắc chắn thất thu. Mức 200 giạ lúa/ha rẫy tương đương 3 tấn/ha là mơ ước của mọi gia đình. Thu hoạch hơn 200 giạ, bà con sẽ cúng trả lễ bằng heo, đạt dưới mức này thì lễ vật chỉ là con gà.

Ở xen kẽ và tiếp xúc với người Việt và một số dân tộc anh em khác, người Châu Ro biết làm ruộng nước từ khá lâu. Nhưng hầu như ruộng nước người Châu Ro mất công khai phá lần hồi bị thực dân Pháp và địa chủ câu kết cướp đoạt. Vùng Bảo Chánh ở chân núi Chứa Chan, nay thuộc xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, xưa kia là vùng trảng cỏ xen rừng chồi. Theo lời các cụ già, giữa trảng cỏ có khu ruộng tiên có mội nước chảy quanh năm, bà con thường tới đó lấy nước ăn về mùa khô (Ông Hai Của - nguyên chủ tịch UBMTTQ xã Xuân Thọ - cho rằng, một đám cháy làm chết cỏ đã hình thành khu ruộng tiên). Bà con phát cỏ, cho trâu dẫm nổi sình lên để cấy lúa nước. Lần hồi, người ta khai phá toàn bộ trảng cỏ làm nên cánh đồng Bảo Chánh rộng hàng trăm ha. Chủ điền lớn Đỗ Cao Lụa, người xã Bình Trước, nay là thành phố Biên Hòa, câu kết với tổng Nhay, lợi dụng tính thật thà chất phác của đồng bào Châu Ro, lén cho tay chân chôn một số trụ xi măng đánh dấu khu vực ruộng (bà con đã làm), rồi lập bằng khoán cướp trắng. Đỗ Cao Lụa sai tổng Nhay di người Châu Ro vào Thọ Vực cách đó 6, 7 km, một số khác ra ở ruộng Tre cách 3 km. Đến năm 1950, quân Pháp bắt bà con tập trung về Bảo Chánh, Gia Ray để chúng dễ kiểm soát, mặt khác ngăn chặn cán bộ ta liên hệ, xây dựng cơ sở. Người Châu Ro phải mướn ruộng, hàng năm nộp tô mười giạ lúa/ha. Từ sau ngày Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, lực lượng cách mạng mạnh lên, ta không cho chủ điền thu tô nữa.

Đồng bào Châu Ro ở ấp Túc Trưng (xã Bình Hòa, nay là xã Túc Trưng, huyện Định Quán) bỏ nhiều công sức khai phá đất rừng ven Quốc lộ 20 thành khu ruộng Choóc khoảng vài chục ha (ở phía tay mặt Quốc lộ 20 hướng Biên Hòa - Đà Lạt). Năm 1955, người Mường đến tiếp tục khai phá khu ruộng này.

Thực dân Pháp cướp đất trên qui mô lớn và tàn bạo, không địa chủ bản xứ nào sánh được. Từ năm 1906 trở đi, các công ty đồn điền cao su như Suzannah, An Lộc... rồi Công ty cao su Xuân Lộc ở Hàng Gòn, Công ty cao su Đồng Nai... lần lượt ra đời. Chúng đuổi người Châu Ro khỏi địa bàn cư trú quen thuộc lâu đời - vùng đất đỏ rộng lớn trải dài từ Định Quán qua Long Khánh, Xuân Lộc tới Bà Rịa - Bà con phải đi tìm nơi lập làng mới, lấy một nắm đất nơi sẽ cư trú mang về nộp chủ đồn điền. Nếu là đất đỏ, chúng còn đuổi tới khi nào mang đất trắng hay đất xám về mới thôi. Vốn bản tính thích sống tự do phóng khoáng, bà con rút vào sâu mãi. Số người ở lại đất cũ trở thành cu ly cao su. Bị dồn đuổi vào chốn heo hút, đất đai kém màu mỡ, cuộc sống của người Châu Ro ngày càng mòn mỏi, tàn lụi trên đà nguy cơ diệt vong như một số dân tộc anh em khác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Thời gian làm nông nghiệp thực sự hàng năm của mỗi gia đình Châu Ro chỉ chừng 4 tháng. Lúc nhàn rỗi, họ làm kinh tế phụ: săn bắn, hái lượm, tát cá, dệt, đan lát, ăn ong, múc dầu chai...

Khi rừng già mênh mông còn bao phủ khắp nơi, rất sẵn chim, thú. Săn bắn trước hết nhằm bảo vệ nương rẫy khỏi bị thú rừng phá hoại; mặt khác cung ứng thịt bù vào phần chăn nuôi nhỏ bé. Người Châu Ro săn bắn bằng nhiều loại dụng cụ, phổ biến nhất là (nỏ), tên (tên tẩm thuốc độc dùng săn thú lớn, có khi chỉ trầy da cũng không thoát chết), ngoài ra còn dùng lao săn voi, các loại bẫy, sau này có thêm súng (nhưng ít người có). Chó săn rất đắc lực trong việc săn cáo, chồn... Người Châu Ro săn bắn: các chim rừng, công, gà lôi, trăn, hươu, nai, mang, mển, khỉ, voọc, min, heo rừng, gấu, cọp, voi... "Khoảng đầu những năm 1930 thị trấn Xuân Lộc mới lèo tèo người, rừng còn nối rừng. Chợ Xuân Lộc có dăm chục người bán hàng. Đồn điền mới mở, có những chiều hàng đàn voi kềnh càng lững thững vào sân nhà trong đồn điền, bình tĩnh ngơ ngác ngó quanh một lát rồi bỏ đi" ([3][3])

Xưa kia, bà con trong làng thường đi săn tập thể bằng tên, ná hoặc đánh bẫy. Nhưng gần đây, đi săn cá nhân phổ biến hơn, nhất là khi đồng bào biết dùng súng. Thời gian đi săn thường vào ban đêm. Con thú bị bắn hạ được chia cho bà con, họ hàng; nếu là thú lớn như bò rừng, trâu rừng, min... thì cả sóc (palây, đublây) nấu nướng ăn uống cả tuần liền, mọi người say sưa ca hát nhảy múa vui vẻ. Ai săn được thú đều cúng yang bri để cám ơn rừng cho cái ăn đều đều. Hàm răng thú (heo rừng, cheo, sóc, voọc, mển, khỉ...) được người đi săn phơi khô, treo thành dãy trên xà nhà đánh dấu thành tích săn giỏi. Ông Năm Nổi ở Lý Lịch (xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu) hiện còn giữ được vài chục hàm răng thú như vậy. Nếu người đi săn qua đời, thân nhân đốt rồi vất bỏ các xương thú vào rừng. Chắc hẳn xưa kia săn bắn là nguồn cung cấp thực phẩm động vật quan trọng của người Châu Ro; nhưng ngày nay chỉ là nguồn thu nhập phụ thất thường ở vài nơi còn chim và thú.

Việc hái lượm rau rừng, măng, nấm, củ và quả rừng là nguồn thu nhập phụ của nhiều nhà. Người ta hái tất cả các loại cây cỏ có thể ăn được, trong đó đọt mây non vị đắng là thành phần không thể thiếu trong món canh bồi truyền thống gồm: đọt mây non ngâm nước muối, gạo tẻ giã bột, rau dền, đọt mướp... nấu với thịt (cheo, khỉ, nai, hươu... phơi khô) nêm sả ớt, mắm, muối... Canh bồi tương tự một thứ xúp. Nếu không có thịt khô, người ta thay bằng da, xương thú phơi khô (hoặc gác bếp). Hái rau là việc của đàn bà, con nít song đào củ chụp (củ mài) đòi hỏi sức khỏe của đàn ông. Với lưỡi thuổng nhỏ (nih) người ta đào theo gốc dây, có khi sâu 2, 3 m mới lấy hết các đoạn gãy vụn. Người ta chỉ đào củ chụp vào lúc giáp hạt, lúa đã hết; ngày nay phải đi xa mới có.

Vài chục năm trước đây, nghề ăn ong của người Châu Ro là nguồn thu nhập đáng kể. Các sách Gia Định Thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí đều đề cập đến nguồn lợi tự nhiên này ở tỉnh Biên Hòa (cũ). Hầu như khu rừng nào cũng có một số bộng ong, mỗi bộng có thể cho hàng chục lít mật và chừng một ký sáp. Mật và sáp ong dùng đổi lấy rìu, rựa, ché, muối... Nay nguồn lợi về ong rừng không đáng là bao.

Rừng Đồng Nai mọc ở vùng đồi núi thấp, ưu hợp cây họ Dầu Dipterocarpaceae tạo nghề múc dầu trai. Dầu này trộn xơ đay trét ghe xuồng rất bền. Khi nghề đánh cá sông, biển phát triển, đòi hỏi đóng mới nhiều phương tiện thì người ta thi nhau đi tìm mổ cây họ Dầu. Ngày nay rừng bị tàn phá ghê gớm, việc múc dầu trở nên khó khăn. Người Châu Ro cho đến thời kỳ gần đây chưa biết làm nghề chài lưới theo đúng nghĩa. (Hiện nay nhóm người Châu Ro ở Bình Châu, Xuyên Mộc, Bà Rịa - Vũng Tàu cách biển chừng một km tỏ ra xa lạ với việc đánh cá biển cũng như không biết làm muối biển). Người ta chỉ bắt cá lúc rảnh rỗi bằng cách: đắp chặn một khúc suối nhỏ rồi tát cạn để bắt; tát cạn các đìa, bàu nhỏ vào mùa khô; giã nát một số cây rừng: trái biên, dây vàng nghệ... thả xuống suối, cá ngấm chất độc nổi lên. Các hình thức câu, đặt lờ, đặt lọp, chài... ít phổ biến và mới xuất hiện gần đây.

Vào lúc rảnh rỗi, thường là vào các buổi chiều, người Châu Ro đan các loại gùi lớn nhỏ dùng vào các việc: gùi rau, gùi củi, gùi lúa...; một số lờ, lọp đánh cá, hộp đựng trầu (kruh) bằng lá dứa; các tấm đệm nằm thay chiếu bằng dong rừng (lùng), lá buông... Các chàng trai Châu Ro khéo tay trước đây là đối tượng được nhiều cô gái ưa thích. Các sản phẩm đan lát là những tác phẩm mỹ nghệ thủ công độc lập. Ngày nay, tuy các loại rổ, rá, giỏ xách... bằng nhựa hoặc nhôm bán khắp nơi nhưng vào bất kỳ gia đình Châu Ro nào, chúng ta vẫn thấy đồ đan lát thủ công chiếm vị trí quan trọng.

Nghề dệt vải bông cổ truyền xưa kia cung cấp y phục: áo (ao), khố (khô), váy (xibut: chăn mặc), chăn đắp (xu). Aokhô rõ ràng là từ vay mượn, nói lên người Châu Ro biết sử dụng các thứ này chưa lâu lắm. Ở các ấp Đồng Xoài, Đức Thắng (Túc Trưng, Định Quán) còn một số phụ nữ tuổi trên 40 biết dệt xibut và xu theo kỹ thuật cổ truyền. Bông thu hoạch ở rẫy tháng 11, 12 âm lịch đem về, dùng xa quay thành sợi thô (như sợi len) rồi guồng thành con cúi, đem hồ sợi cho cứng. Khung cửi chỉ là thanh gỗ ngang có chiều dài chừng 1 m, rộng 5 cm, dày 2 cm để mắc sợi dọc. Con thoi dài gần 1 m đan sợi ngang. Độ một phút người ta mới lồng con thoi qua hàng sợi dọc một lượt, do đó dệt một tấm chăn dài 2 m đòi hỏi khoảng thời gian chừng nửa tháng. Giá thành sản phẩm đắt hơn thứ bán ở chợ, trông lại thô tháp, vì vậy chị em chỉ dệt chăn vào lúc thật rảnh rỗi mùa khô. Hoa văn dệt nhiều kiểu thức biến đổi phức tạp, đẹp mắt song sản phẩm dệt này chỉ để dùng trong gia đình.

Phần lớn người Châu Ro sống bằng nương rẫy "ăn nước trời" với trình độ kỹ thuật khá nguyên thủy, nhưng đã có một số ít trở thành công nhân kỹ thuật: lái máy cày, lái xe be (xe chở gỗ hạng nặng), sửa chữa máy móc... Ở một số nông trường cao su có hàng trăm công nhân người Châu Ro.



([1][1]) Bắt nguồn từ tiếng Pháp sarcler: làm cỏ.

([2][2]) Báo Khoa học phổ thông số 176 ngày 1   -   6   -   1983.

([3][3]) Lê Sắc Nghi: Đất đỏ miền Đông,   -   Công ty Cao su Đồng Nai xuất bản.

Comments