2.3. Cấu trúc xã hội, gia đình và tập quán, tín ngưỡng

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, chế độ gia đình lớn theo dòng mẹ còn tồn tại thì ở vùng người Châu Ro cư trú người ta thấy có những ngôi nhà dài có khi đến gần 100 m. Những người thuộc lứa tuổi 60 trở lên còn thấy (vào lúc nhỏ) mỗi làng (sóc, palây, đublây) có vài dãy nhà dài. Mỗi dãy nhà dài là một gia đình lớn cùng tộc (họ), chia làm nhiều gia đình hạt nhân.

Trong việc dựng nhà sàn dài, một già làng - trưởng tộc tìm địa điểm ưng ý: khu đất đủ rộng, tương đối bằng phẳng, quang đãng, không xa nguồn nước... Ông giẫy một vạt cỏ nhỏ, chọn 7 hạt gạo nguyên vẹn đặt xuống đó, úp chén ăn cơm lên. Qua một đêm thấy các hạt gạo vẫn y nguyên không xê xích thì ông cho nơi đó có thể dựng nhà (vì không có mối, kiến... mà mối là loại côn trùng phá hoại nhà cửa, vật dụng bằng cây mạnh mẽ nhất, cần phải tránh xa). Trước khi cất nhà, ông làm lễ cúng đơn giản: con gà, chai rượu, bình trà, trầu cau... cầu khấn các yang và ông bà tổ tiên cho ở yên ổn và làm ăn được mùa.

Người Châu Ro ở Lý Lịch (Vĩnh Cửu) lấy cây rượng đo cẩn thận phạm vi nền nhà và bốn góc để khi dựng nhà các cột không xê dịch bao nhiêu, nền nhà không méo. Bà con cho rằng chọn được nền đất như vậy là tốt, gia đình sẽ bình yên không bị xáo trộn. Cột chọn trong rừng sâu có dáng thẳng, gỗ tốt, không có dây leo bám (như vậy chủ nhà không bị ràng buộc gì, hoàn toàn tự do). Người lớn tuổi chịu trách nhiệm dựng cây cột cái và cây đòn dông (nóc). Căn nhà người Châu Ro có gốc tính từ cột cái ở hướng Đông và ngọn ở hướng Tây. Nhà dài được phân chia theo thứ bậc: góc phía Đông nhiều ánh sáng dành cho cha mẹ, những khoang tiếp theo bố trí theo ngôi thứ con cái, cho đến phần nhà dùng để tiếp khách. Sau khi cha mẹ qua đời, người anh hoặc chị lớn nhất sẽ ở vị trí dành cho cha mẹ trước kia, các người em đôn vị trí lên từng bước...

Nhà dài có bộ cột tròn ít khi lột vỏ cây, đẽo sơ cho kích thước bằng nhau. Tất cả các cột đều chôn sâu vững chãi. Bà con thường làm cột bằng cây bằng lăng, gõ, kiêng cữ cột gỗ căm xe, cẩm lai (cho là hệ lắm, ở nhà làm bằng cột gỗ này dễ bệnh tật, tính tình trở nên nóng nảy...). Nguyên vật liệu làm nhà gồm:

- Gỗ kèo, cột, dui... (bộ sườn nhà)

- Cau rừng hoặc tre nứa, lồ ô chẻ ra làm sàn và vách ngăn.

- Cỏ tranh, lá trung quân lợp mái, ngăn vách.

Dụng cụ làm nhà khá đơn giản: rìu, chà gạc, rựa. Các thứ: cưa, bào, đục tràng... mới dùng phổ biến sau năm 1954. Cho nên các cột, kèo, đòn tay... chỉ được cắt ngoàm, gác lên nhau rồi buộc bằng dây mây. Có nơi như Túc Trưng, Bảo Chánh..., người Châu Ro mới học cưa và líu (xẻ ván) sau ngày giải phóng ở các thợ mộc miền Bắc vào. Xưa người Châu Ro cữ dùng đinh sắt vì cho rằng đinh ém cột, làm nặng hồn, nặng vía, dễ bệnh tật, làm ăn sút kém... chỉ dùng dây mây. Nay dây mây khó kiếm và cũng đắt thì đinh lại được ưa chuộng. Gần đây, bà con làm nhà sàn nhỏ với bộ cột gỗ xẻ vuông, kê tán (đá), bộ khung nhà liên kết bằng các mộng đục song hệ thống cột nóc vẫn tồn tại (như vết tích nhà dài cổ truyền).

Mọi thành viên nam nữ của dòng họ tùy sức lực mà tham gia tìm kiếm, chuẩn bị gom vật liệu làm nhà. Thực ra hồi đó quanh làng là rừng bạt ngàn, là trảng cỏ tranh rộng, rất sẵn nguyên vật liệu. Nhà dài là nơi cư trú của tập thể một dòng họ thân tộc gồm hàng chục gia đình nhỏ trở lên, chia làm nhiều gian, ngăn cách bằng vách liếp sơ sài, mỗi gian dành cho một gia đình nhỏ. Về sau nhà sàn nhỏ thay thế nhà dài. Mỗi xóm ấp làng Châu Ro lúc này gồm vài chục nhà sàn nhỏ, nằm rải rác ven rẫy hoặc bao quanh một khu đất rộng. Người ta cất nhà không cần chọn hướng, không lựa ngày tốt, chỉ cần cất nhà theo thế đất.

Nhà sàn cao chừng 1,5 m, hai cửa hông với hai thang gỗ hoặc tre: thang người đi ở bên trái, thang chuồng gà (nhi ier) ở tay mặt. Nhà có một số lỗ trổ làm cửa sổ, cửa ra vào không có cánh để đóng mở. Khoảng sàn nhà phía Đông được đắp một ô đất (chống cháy) đó là bếp đun nấu. Khoang giữa nhà rộng rãi là nơi ngồi chơi, ăn cơm, đan lát. Nửa sàn nhà phía Tây là sạp tre dài cao hơn sàn một chút, thường trải đệm chiếu (vêl r'tiêng) đan bằng cây lùng (dong rừng) chẻ nhỏ, đó là nơi ngủ của gia đình. Phía trên nơi ngủ, gần sát mái nhà có bàn thờ dài bằng tre để cúng nhang lúa (yang va), cúng chữa bệnh... Có nơi làm chuồng gà (nhi ier) ở một góc nhà sàn, có nơi làm ở gầm sàn cùng với chuồng heo. Đằng sau nhà ở là chòi lúa (nhi va), đó là nhà sàn nhỏ, sàn cao bằng đầu người (gần 2 m), có cầu thang. Nhà để lúa (nhi va, cà uôn) của đồng bào Châu Ro Lý Lịch (Vĩnh Cửu) được dựng bất cứ thời gian nào nhưng phải theo đúng hướng Đông - Tây như nhà ở, để mặt trời khỏi đi ngang đòn dông, nếu làm không đúng là xúc phạm đến yang va, (yang lớn nhất trong các yang). Trước đây người Châu Ro cho rằng nếu cất thóc lúa trong nhà ở thì thần lúa (yang va) và ông bà tổ tiên sẽ giận, sẽ làm thất mùa. Chòi lúa làm riêng biệt sẽ giữ được sự trong sạch, tôn kính với thần lúa. Đây là xuất phát từ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp khi các thành viên làm chung ăn chung, sản phẩm chia đều cho mọi người. Người phụ nữ đóng vai trò "tay hòm chìa khóa" cai quản phân phối kho lúa chung gọi là mẹ lúa (mây va).

Nhà làm xong, vị già làng làm lễ cúng, mâm lễ gồm: con gà luộc, nải chuối, bình trà, trầu cau... van vái ông bà tổ tiên cho con cháu mạnh khỏe, yên ổn, làm ăn trúng mùa.

Trải qua mấy chục năm chiến tranh, các nhà sàn dài cổ truyền đã bị phá hủy hết. Chính sách dồn dân của Pháp rồi Mỹ và vấn đề thiếu gỗ trong rừng khiến người Châu Ro làm nhà trệt theo kiểu nhà người Việt. Vật liệu làm nhà gồm: gỗ xẻ, cây nhỏ, tranh, tre, tôn, đinh sắt... Số nhà gạch thay dần nhà tranh sơ sài. Mỗi gia đình thường có bàn ghế, giường ngủ, sạp tre (chà nơng cà la) to hơn giường ngủ để gia đình ngồi ăn cơm - tàn dư chiếc sàn nhà xưa. Ở Túc Trưng, bà con Châu Ro dựng một số nhà sàn kiểu thức kiến trúc vila. Nhà cửa sắp xếp có tổ chức kiểu quần cư đô thị, đường đi lại trong xóm ấp rộng và thẳng đủ cho ôtô chạy. Một số vườn nhà trồng cây ăn quả, khoai mì, bầu bí... Ở Bảo Vinh, Suối Chồn (Long Khánh) người Châu Ro trồng cà phê. Cơ cấu cây trồng có biến đổi nhưng chậm, cuộc sống chủ yếu vẫn trông vào nương rẫy, rừng núi.

II.3.1. Làng (pa lây, đu blây, sóc) là đơn vị hành chánh của một tập hợp gia đình cùng dòng họ, cũng có thể thuộc vài tộc xen kẽ. Ranh giới làng xưa không rõ rệt, gồm vài nhà sàn dài (sau này là vài chục nhà sàn nhỏ) ở gần khu rẫy hoặc ruộng, số nhân khẩu ít khi vượt số trăm. Mỗi làng là một lõm nhỏ lọt thỏm giữa rừng già mênh mông. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ nhì (1945 - 1954), đồng bào Châu Ro bị gom vào một số điểm để chúng dễ kiểm soát. Dưới chế độ Sài Gòn, bà con bị gom triệt để hơn vào các ấp ven lộ, làm nhà có hàng lối theo lô như ở đô thị

II.3.2. Xưa kia, đứng đầu mỗi nhà dài là vị trưởng họ gọi là ông đầu nhang (voh yang va). Đó là người già có uy tín, có kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu, được mọi người tuân phục cử ra. Nếu là xóm nhỏ giữa rừng thì người đứng đầu gọi là mẹ sóc, mây srok (mây srok là đàn ông). Các vị trưởng họ hoặc mẹ sóc và các người cao tuổi nhất họp thành hội đồng già làng đứng ra lãnh đạo mọi việc: dời làng, dựng nhà, tổ chức làm ăn, cúng lễ, vui chơi, đi săn, tát cá... Song các cụ già Châu Ro tuổi xấp xỉ 80 cho biết chỉ nghe nói lại chứ không thấy hội đồng già làng, họ chỉ thấy các vị đầu nhang và chức sắc chính quyền cũ: ông tổng (cai tổng), ông xã (xã truởng), ông cả, cai tuần... Các chức sắc nói chung thuộc loại khá giả, có tài sản: trâu, ché, đồng la... xét xử công việc làng xóm và thực hiện những gì do cấp trên đưa xuống.

Xã hội Châu Ro chưa phân hóa rõ rệt giàu nghèo. Gia đình nhiều lao động, có tiền bạc dư dả thì cũng làm tới vài mẫu rẫy. Trung bình mỗi hộ chỉ làm một, hai mẫu. Ở khu vực người Châu Ro cư trú, đất canh tác - tư liệu sản xuất chính - không thiếu, sức người có hạn nên việc khai phá nương rẫy cũng có hạn. Mỗi làng chỉ có một số ít hộ dư dả chút đỉnh do đông lao động, trúng mùa, ít bệnh tật... Phần lớn số hộ thiếu ăn vài tháng - chính xác là thiếu gạo; hoa màu: khoai mì, khoai lang, củ chụp vẫn có cho 2 bữa - đó là các hộ neo đơn, hay bệnh tật, chủ hộ thiếu chăm chỉ, chi tiêu thiếu kế hoạch... Trong chế độ cũ, một số chức sắc Châu Ro lợi dụng uy quyền, bóc lột dân làng về sức lao động, ăn phạt... mà có của hơn người khác.

Người Châu Ro không có nô lệ trong nhà như người Stiêng. Dù nghèo khổ đến đâu họ cũng chỉ bỏ sức lao động để kiếm ăn chứ không đi ăn xin ăn mày, đó là nét phẩm chất đặc sắc cao đẹp.

Cộng đồng người Châu Ro có những luật lệ truyền miệng mà mỗi thành viên phải theo. Các vi phạm tục lệ: phụ nữ chửa hoang, loạn luân, vào nhà đã cắm lá cấm... đều bị xử phạt: đòn, ăn phạt ché, heo, gà, rượu... Các hiện tượng tranh chấp ruộng rẫy, xích mích đánh lộn, cướp của giết người... hầu như chưa từng xảy ra nên chưa có luật miệng nói tới cần xử phạt thế nào. Nội bộ người Châu Ro sống đoàn kết thuận hòa, thân ái giúp nhau vô tư. Mọi việc hòa giải, xét xử các vi phạm, thường tiến hành trong nội bộ dòng họ thân mà người xét xử chính là ông đầu nhang, ít khi đưa ra làng nhờ các chức sắc phân xử.

Trong cộng đồng người Châu Ro ở Lý Lịch, nếu có ai bị mất cắp vật gì, và có đối tượng bị nghi ngờ thì họ làm lễ thề. Mỗi bên đều có lễ vật gồm: một cây đèn cầy, 7 lá gáo vàng, 7 lá cà độc dược, một con gà lông trắng, một chén vỏ cây chùm lum. Người mất của trình bày với yang xin yang phán xử thanh minh với người mình nghi. Người bị nghi lấy cắp (mà không lấy) thì thề đại ý: "Tôi là người bị nghi lấy cắp của người khác nên tôi trình yang xem xét. Nếu tôi có lấy cắp thiệt, xin yang phạt tôi và cả dòng họ tôi chết hết như lá gáo, lá cà ([1][4]) vào mùa nắng, còn không xin yang giải oan cho tôi, cho cả dòng họ tôi sống như cây rừng xanh tươi mạnh mẽ...". Tình trạng trộm cắp rất hiếm xảy ra vì họ sợ yang phạt như lời thề độc.

Tổ chức gia đình lớn với ông đầu nhang nhiều uy quyền đã tan rã khá lâu trước Cách mạng tháng Tám 1945. Bây giờ tế bào cơ bản là gia đình nhỏ một vợ một chồng theo dòng cha, tuy còn rơi rớt ảnh hưởng dòng mẹ qua tục ở rể. Người cha là lao động trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định mọi việc song ít khi tỏ ra độc đoán mà thường bàn bạc với vợ. Người phụ nữ làm công việc không đòi hỏi sức mạnh cơ bắp của nam giới và việc nội trợ nuôi con... Họ vẫn giữ vai trò đáng kể trong nhà, tương đối bình đẳng với nam giới. Nhưng vì chưa quen hoạt động xã hội nên người phụ nữ Châu Ro còn tự ti, trong đó yếu tố trình độ văn hóa thấp thực sự cản trở họ tham gia công tác đoàn thể xã hội. Do đó cần cấp thiết nâng cao trình độ văn hóa cho chị em trong quá trình giải phóng phụ nữ, tạo sự bình đẳng thật sự với nam giới.

Người Việt, người Hoa... còn rơi rớt tư tưởng coi trọng con trai nhưng người Châu Ro cũng như các dân tộc ở vùng Đông Nam bộ - Nam Trường Sơn - Tây Nguyên có phần quý con gái hơn vì họ cho rằng con gái có hiếu với cha mẹ, gắn bó với cha mẹ hơn con trai. Con gái lấy chồng vẫn ở cùng và nuôi cha mẹ, con trai lớn lên lấy vợ, theo vợ, nuôi cha mẹ vợ - đây là tàn dư dòng mẹ.

Khi cha mẹ chết, các con đều được chia tài sản để "làm kỷ niệm". Cha mẹ thường sống với con gái út. Trong một gia đình Châu Ro ngày nay, hiếm thấy cảnh một số chị em gái và chồng con của họ cùng chung sống một mái nhà, vì gia đình lớn đã tan rã từ lâu.

Trong quan hệ thân tộc, người Châu Ro nói chung không phân biệt nhiều dòng cha, dòng mẹ qua ngôn ngữ:

ông cụ: cor cầm vinh; bà cụ: un cầm vinh ([2][5])

ông (nội, ngoại): câu; bà (nội, ngoại): un

ông nội: va nội; bà nội: va ya vàp (1)

ông ngoại: va ngoại; bà ngoại: va ya mây (1)

cha: vàp; mẹ: mê, mây

cha (chồng, vợ): vàp po; mẹ (chồng, vợ): mê po ([3][6])

cha, mẹ chồng: vàp, mây a xực khô; cha mẹ vợ: vàp, mây a xực ur (1)

bác (trai, gái): (khô, ur)

chú, cậu, dượng: đeh

cô (chị, em cha); dì (chị em mẹ): yôông; mợ (vợ cậu): đeh b' yôông

cô ruột: yôông a vàp; dì ruột: yôông a mây; thím: yôông sâu (1)

anh, chị: pôp

con đẻ: kon vơn; con (trai, gái): kon (khô, ur)

con (rể, dâu): kon m'xa

cháu (trai, gái): xnau (khô, ur)

cháu họ (trai, gái): k'mol (khô, ur)

chắt: xne

chút: xnoach

Người Châu Ro không có từ tương đương với cụ (thân sinh ông bà), cố (thân sinh cụ).

Con trai Châu Ro từ lúc còn nhỏ đã được người cha truyền lại và rèn luyện đức tính dũng cảm qua các buổi săn bẫy thú: gài bẫy, bắn ná, phóng lao, sử dụng chà gạc... Đứa nhỏ được tham gia các cuộc hội họp, cúng lễ, tang ma, cưới xin... của cộng đồng, bộ tộc. Nó còn được mẹ dạy cách đan các loại gùi khác nhau.

Con gái Châu Ro được mẹ và các dì dạy nấu ăn, dẫn vào rừng hái lượm rau quả rừng ăn được, tát cá... Nó còn được dạy cách dệt thổ cẩm làm váy. Qua các sinh hoạt của cộng đồng, bé gái Châu Ro học dân ca (hò, hát), múa... và trưởng thành dần.

II.3.3. Xưa kia, người đàn ông Châu Ro đóng khố (khô), đàn bà mặc váy (xibut: chăn mặc), nửa thân trên ở trần như các dân tộc Nam Trường Sơn - Tây Nguyên. Người ta lý giải bằng thành ngữ "tốt khoe, xấu che" (đối với phụ nữ), nhưng thực ra vì họ quá nghèo không đủ quần áo mặc mà thôi! Khố đã biến mất từ lâu, đàn ông Châu Ro đứng tuổi chỉ nghe nói chứ ít người thấy. Váy còn một ít ở Túc Trưng, được phụ nữ mặc vào lúc múa hát văn nghệ, hoặc chụp ảnh. Đàn ông hay để đầu trần, đàn bà cũng dùng nón; đồ trang sức ưa thích là chuỗi hạt cườm nhiều màu, còn các loại vòng đồng và bạc đã bán hết từ lâu.

Người Châu Ro hút thuốc lá rê (yú, hăm, nao), phụ nữ cũng ăn trầu (mlu) với cau (pa nơng, play xia). Thường ngày họ ăn cơm tẻ; gạo nếp là lương thực quý dùng làm các loại bánh: piêng đinh (cơm lam nướng trong ống nứa), piêng puh (bánh dày trộn mè) piêng chum (bánh tét)... Rượu quảng còn gọi là rượu ịt (xe tơm) là rượu cần làm vào dịp ăn nhang lúa, cưới xin, ma chay, làm nhà... đòi hỏi thời gian chuẩn bị khá lâu.

(Cách làm rượu quảng (xe tơm): gạo nếp lức hoặc gạo tẻ nấu chín đem rải ra đệm cho nguội. Lấy lá cây cù đen (bun mai) lót ở thúng rồi đổ cơm vào ủ, phủ lá cù đen lên trên cho kín. Để vài ngày, cơm lên meo, đem phơi nắng cho khô rồi đưa vào cối giã nhỏ thành bột. Lấy vỏ cây dâu da rừng, vỏ cây bình linh đun lên chừng một tiếng, để nguội rồi cho bột meo vào quậy kỹ, đều. Nút ché rượu bằng lá trung quân, cho thêm nước và để nguội một thời gian cho lên men. Rượu cốt có màu trà nâu đậm, đục, vị rượu lạt và hơi chua như bia. Người ta rút rượu cốt ra để cúng, rồi đổ đầy nước lã đến miệng ché. Khi uống cắm các cần trúc nhỏ, mời khách hút rượu. Rượu vơi đến đâu người ta đổ nước đầy thêm đến đó. Càng uống, rượu quảng càng lạt. Có gia đình làm lễ ăn nhang chuẩn bị tới dăm ché rượu quảng. Khi rượu quảng lạt quá, người ta mua rượu đế (lăc) để cuộc nhậu vui có thể kéo dài, tình bà con, xóm giềng càng thêm khắng khít).

II.3.4. Khi trai gái đã lớn, họ được tự do tìm hiểu nhau qua các buổi làm rẫy, tát cá, đi săn... và các buổi cúng lễ, cưới xin. Đôi trai gái tìm nơi vắng vẻ để tâm sự bước đầu. Rồi ban đêm, chàng trai đến nhà cô gái với nhánh lồ ô trên tay, đút cây vô cửa hoặc chọc từ dưới sàn lên. Nếu cây được kéo vào là cha mẹ cô gái đã ngủ; nếu cây bị đẩy ra là cha mẹ còn thức, hãy đợi đấy. Cửa mở ra, anh con trai vào ngủ cùng cô gái, sớm hôm sau ra về, trước khi cả nhà dậy. Ba đêm liền như vậy mà người con trai chưa nói gì đến cưới hỏi hoặc trao vật làm tin thì người con gái yêu cầu anh ta để lại: áo, khăn, vòng... Cơ sở của tình yêu vẫn là "muôn thuở": hai bên mến nhau vì nết chăm chỉ, người con trai thì săn giỏi và đan lát tài, con gái dệt giỏi, cũng có đôi ưa thích nhau vì vẻ đẹp bề ngoài, về cách nói năng hoạt bát, linh lợi hoặc vì "nhà bên kia" khá giả... Trong tình yêu, người con gái Châu Ro luôn luôn có mẹ và các dì làm cố vấn; nếu mẹ không ưng thì cuộc sống tương lai của đôi vợ chồng trẻ có thể gặp khó khăn. Kiểu tìm hiểu của nam nữ thanh niên Châu Ro khá xa lạ với người Việt nhưng thật sự tự do. Trong kho từ vựng Châu Ro không có từ chỉ sự trinh tiết.

Cả chàng trai và cô gái đều nói chuyện với cha mẹ mình về mối quan hệ tình cảm đó. Có sự khác biệt giữa các địa phương: ở Túc Trưng thì cha mẹ cô gái giữ chàng trai ở lại rồi cho người đi mời cha mẹ anh tới để hai bên nói chuyện; trong khi đó ở Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), cha mẹ cô gái chủ động qua nói chuyện với bên đàng trai. Người Châu Ro vùng Bảo Chánh đi làm đám nói (hỏi vợ - lục xai) cho con trai bằng cách nhờ mai mối. Ông mai có thể là họ hàng, cũng có thể là người ngoài, song phải thạo giao tiếp, có khả năng đối đáp tốt. Sau khi ông mai trình bày, cha mẹ cô gái màu mè chút đỉnh: "Con gái tôi còn dại lắm... ". Cuộc trao đổi giữa hai bên kết thúc bằng việc ấn định ngày cưới, số lễ vật nhà trai phải mang sang vào bữa đó (hơi khác người Việt là sính lễ mang sang trước ngày cưới). Ở Lý Lịch, cha mẹ của đôi trai gái yêu nhau đến thăm nhà nhau. Cha mẹ chàng trai chú ý quan sát bếp nhà cô gái có ngăn nắp, sạch sẽ không. Nếu bếp gọn gàng, điều đó chứng tỏ cô gái siêng năng, biết việc bếp núc; đó là tiêu chuẩn của cô dâu tương lai. Cha mẹ họ hàng cô gái thì chú ý xem các dụng cụ sản xuất, săn bắn của chàng trai: chà gạc, rìu, ná, gùi... có đẹp, chắc chắn không, chàng có biết đan gùi không? Những vật dụng trên có thể làm nổi bật phẩm chất chăm chỉ, dũng cảm, khéo léo... của anh, và tương lai anh sẽ là người chồng tốt - trụ cột vững chắc của gia đình. Ở những nơi nhà gái chủ động qua nhà trai nói chuyện hôn nhân thì họ mang theo: một lít rượu, một con gà, 4 cặp bánh nếp, trầu cau, thuốc hút... Ở Lý Lịch, có gia đình đem theo lễ vật cưới là: heo, trâu, chà gạt, ché rượu cần... Mỗi món gồm một đôi thì vợ chồng sẽ không đơn côi lẻ bóng. Ở Túc Trưng, nhà gái qua nhà trai trước, mang theo rượu, gà vịt, trầu cau, thuốc hút, một số bánh dày, 50 bánh tét nhỏ, 300 bánh ống... công bố để hai bên biết về tình yêu của đôi trai gái. Trong lần gặp này, nhà trai thêm thắt rượu, gà vịt... để cuộc "nói chuyện" thêm xôm tụ và đi đến kết thúc vui vẻ. Nếu cha mẹ chàng trai đã qua đời thì người cậu nhận thay.

Người Châu Ro cưới vào mùa khô, từ tháng chạp đến tháng ba âm lịch, là lúc nông nhàn. Lúa đã nằm gọn trong kho, công việc nương rẫy chưa bận rộn. Mùa mưa là mùa làm nương rẫy, người ta phải dốc hết sức lực và tận dụng thời gian để lao động. Lúa trong kho đã vơi, ít ai dám nghĩ chuyện cưới xin. (Nhưng đến nay, do cư trú xen kẽ với các dân tộc anh em khác, một số thanh niên Châu Ro tổ chức cưới vào thời điểm mà gia đình họ thấy là phù hợp). Hôn nhân là niềm vui lớn trong cuộc đời đôi lứa cần được làng xóm biết, có nhiều người dự càng tăng niềm vui cho chủ nhà và cặp vợ chồng mới.

Nếu gia đình bên trai nghèo, bà con cùng dòng họ tùy khả năng, mỗi người giúp một vài thứ: gạo, tiền, gà vịt... hoàn toàn tự nguyện không đòi hỏi về sau phải đền đáp. Đây là nét phong tục tốt đẹp cổ truyền, ở dân tộc Châu Ro không có tình trạng vì quá nghèo mà người con trai phải chịu cảnh cô đơn buồn khổ suốt đời.

Ngày làm đám cưới (lại xa piêng), họ đàng trai qua nhà gái và mang theo: ché (tôh), rượu, gà vịt, heo, bánh nếp, trầu cau, thuốc hút, mùng mền, chiếu... Con heo phải dắt, bà con kiêng cữ chỉ khiêng người chết, con vật lớn chết. Đám cưới kéo dài suốt ngày, tới tận đêm khuya. Gia đình khá giả có thể đãi khách gần xa và họ hàng thân quen hai ba ngày liền.

Bảo Chánh trước đây, dẫn đầu họ nhà trai là thầy chang (katungđăp). Thầy chang đàng gái chờ ở cửa, hát đón nhà trai bằng một bài dân ca cổ truyền (yalyau). Trước khi đón nhà trai thì nhà gái đã làm cơm cúng ông bà. Khi hai họ yên vị, những người tiếp tân đàng gái rót rượu quảng (rượu ịt xetơm) mời từng thành viên nhà trai một ly nhỏ. Người đại diện mỗi bên lần lượt giới thiệu từ những người có vai vế nhất tới người chót (trước hết là ông bà, cha mẹ, bác chú, cậu, dì, dượng, anh em, chị em...) để chú rể, cô dâu được biết. Sau khi cúng vái bàn nhang (gô yang), chú rể và cô dâu phải cúi lạy họ hàng 4 bên (họ nội nhà trai, họ ngoại nhà trai, họ nội nhà gái, họ ngoại nhà gái) từ bậc cao nhất trở xuống, ông già đầu tộc làng, các vị chức sắc trong làng (ông cả, ông sếp). Người ta trải chiếu và mền cho cặp vợ chồng trẻ nằm dài mấy phút (có tính tượng trưng), sau đó họ quỳ gối đối mặt với nhau, một người chuẩn bị rượu để chàng rể mời mỗi người bên nhà gái một ly, cô dâu mời mỗi người nhà trai một ly... Đôi vợ chồng có thể phải quỳ dâng rượu suốt ngày tới khuya nếu họ mạc đông và người được mời vừa nhâm nhi, vừa vui vẻ trò chuyện. Đến nay, việc lễ tổ tiên còn duy trì, song việc lạy họ hàng 4 bên đã bớt đi hoặc bỏ hẳn.

Ông bà, cha mẹ, họ hàng đôi bên dặn dò 2 người ngắn gọn và có thể tặng phong bao nhỏ. Mời rượu giáp vòng rồi, chú rể và cô dâu uống chung một ly rượu, chàng uống trước, đó là lời giao ước chung sống trọn đời cùng nếm vị tình yêu nồng thắm và đắng cay. Hai bên họ hàng ăn uống, hát hò vui chơi, đánh đồng la (bộ cồng chiêng 6 chiếc) suốt đêm, sáng hôm sau mọi người giải tán, chàng rể ở luôn bên vợ.

Tám ngày sau, dâu và rể cùng về nhà trai, mang theo gà vịt, rượu bánh, trầu cau, thuốc hút... và một tiệc nữa lại diễn ra. Cô dâu về bên trai một tuần lễ thì hai vợ chồng trẻ về ở hẳn bên gái. Cha mẹ chàng trai có thể cho một số tài sản: trâu, ché, đồng la, mâm nồi, ruộng rẫy... Cho đến nay, tục bắt rể ít nhất ba năm còn khá phổ biến trong cộng đồng người Châu Ro. Đó là nét bảo lưu tàn tích chế độ mẫu hệ. Song ở những vùng người Châu Ro cư trú xen kẽ với người Việt, người Hoa thì khi cưới cô dâu về ở luôn nhà chồng, với những nghi lễ thông thường của các cộng đồng dân tộc Việt, Hoa.

Người Châu Ro có tục kiêng cữ không được gọi tên của ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì dượng, anh chị - nghĩa là tất cả các bề trên hai bên - mà chỉ được gọi bằng thứ, thí dụ: bác Hai, cô Ba, dì Tư... nếu không muốn bị bắt lỗi. Kêu thứ bậc kèm tên bề trên bị coi là có thái độ bất kính, bị phạt vạ một lít rượu, một con vịt. Thậm chí chàng rể đi tiêu, tiểu trong rừng cũng phải kín đáo không được để bên họ vợ thấy nếu không sẽ bị bắt lỗi và bị phạt.

Trước kia, người ta thường gặp một gia đình có vài chàng rể cùng chung sống, làm ăn cần mẫn. Họ chỉ ra ở riêng khi có khả năng bảo đảm cuộc sống, khai phá nương rẫy riêng. Thảng hoặc chàng rể xích mích với cha mẹ vợ cũng ra ở riêng, nhưng bị cộng đồng, làng xóm phê phán.

Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng đã bền vững trong xã hội Châu Ro. Hai vợ chồng chung sống suốt đời, chồng đi đâu, vợ đi đó, sướng khổ có nhau. Mời người đàn ông đi ăn nhang lúa, ăn cưới... phải mời luôn người vợ. Nếu sắp xảy ra tình trạng ly hôn, họ hàng đôi bên phải họp lại xem xét, phân xử lỗi do ai gây ra. Ly hôn bị cộng đồng phạt vạ nặng theo luật tục truyền miệng bằng: trâu, ché, đồng la là những đồ vật xưa, quý, có giá trị bằng một con trâu trở lên. Thông thường, người đòi ly hôn khó đáp ứng phạt vạ và khoản bồi thường do người bị ly dị đưa ra, nên phần lớn lại quay về chung sống cùng nhau. Nếu ai có khả năng đáp ứng điều kiện (phạt vạ và bồi thường) thì hai bên gia đình bàn bạc thỏa thuận. Sau khi nộp phạt và bồi hoàn thì mỗi người được tự do, đối xử tốt với nhau, không gây hận thù.

Tục lệ Châu Ro cho phép trai gái tự do tìm hiểu, yêu đương; chuyện vợ chồng bỏ nhau rất ít xảy ra.

Người Châu Ro không lấy vợ chồng cùng họ tộc, dù cách nhau vài đời, vì coi đó là sự loạn luân, vi phạm luật tục cổ truyền. Hôn nhân không chỉ bó hẹp trong tộc người Châu Ro, người ta thấy họ cũng kết hôn với người Việt, Mạ, Stiêng, Khmer... Người Châu Ro lấy người Khmer cảm thấy gần gũi: "Chăm ngai, Sai mêch" (Chăm xa, Miên gần).

Cuốn Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam của Nguyễn Trắc Dĩ xuất bản ở Sài Gòn năm 1972 và cuốn Đại gia đình dân tộc Việt Nam của Ngô Vĩnh Bình và Nguyễn Khắc Tụng (Nhà Xuất bản Giáo dục - Hà Nội) viết về hôn nhân của người Châu Ro cũng có một chi tiết: "... Ở người Châu Ro cũng có tục nếu vợ chết, người chồng có thể lấy em vợ. Và người đàn bà lấy chồng lâu năm mà không có con thì có quyền lấy thêm một người chồng nữa. Để tránh xích mích thường mỗi người chồng ở một nhà". Đi điều tra điền dã tại các vùng đồng bào Châu Ro sống tập trung như Túc Trưng, Bảo Chánh, Lý Lịch chúng tôi thấy không tồn tại tục hôn nhân chị em vợ (sôrôrat) hoặc hôn nhân anh em chồng (lêvirat) như ba tác giả trên nêu. Hoặc giả đó là nét phong tục quá xưa nay đã mờ hẳn trong tâm trí người đương đại?

Khi một cô gái lỡ có bầu, sẽ bị phạt nghiêm khắc. Cha mẹ, họ hàng cô đào hố bắt cô nằm úp bụng xuống đó rồi đánh đòn để cô khai tên người tình. Họ sẽ bắt anh ta lấy cô, nếu không sẽ bị phạt vạ bằng trâu, ché, đồng la... Ngày nay, bà con bắt anh này nộp một số tiền để cô chuẩn bị sinh và nuôi con. Người con gái phải cúng phạt bằng gà, rượu... mới được vào nhà người khác. Xã hội Châu Ro không phân biệt đối xử với cô gái cả nể này cũng như đứa con hoang. Cô có thể lấy chồng khác - tuy không thành văn bản tục lệ - thường là người đàn ông góa vợ. Đã có vợ, chồng nếu mèo chuột với nhau có thể dẫn đến tình trạng đâm chém đổ máu và bị cộng đồng làng xóm phạt vạ rất nặng.

II.3.5. Người phụ nữ Châu Ro sắp đến ngày sinh thì chồng làm một cái chòi ở gần nhà, như chòi để lúa, đủ chỗ cho sản phụ nằm. Họ kiêng cữ không đẻ trong nhà vì sợ ô uế, tổ tiên giận gây bệnh tật, làm ăn không được.

Bà con Châu Ro ở Lý Lịch bắt đầu làm nhà đẻ cho người phụ nữ mang bầu tháng thứ bảy. Nhà để đẻ cách nhà ở chính chỉ từ 5 đến 10 m. Các cột nhà này phải suông đuột, không có dây leo (mong cho sản phụ khi sinh đau bụng ít, đứa trẻ ra đời dễ và ít bệnh tật). Nhà phải ở nơi quang đãng không có cây cối, gò mối; sản phụ nằm xoay mặt ra cửa. Mỗi lần sinh đẻ, gia đình làm cho người phụ nữ một nhà đẻ khác nhau, xong việc thì phá bỏ chứ không dùng cho lần sau. Thời gian nằm ở nhà đẻ khoảng 9 ngày, việc cơm nước do người chồng lo hoặc do chị em giúp. Sau thời gian này, sản phụ phải tắm rửa cẩn thận mới được về nhà chính của mình. (Nay nếu nơi nào gần trạm xá hoặc nhà hộ sinh thì chị em tới đó sinh đẻ). Người chồng đi rước bà mụ về và cắm cành lá cấm người lạ vào nhà thời gian này vì sợ ma quỷ phá phách, làm trẻ quấy khóc, bệnh hoạn. Nếu người phụ nữ khó sinh, sẽ được cho uống một vài chén thuốc lá rừng gồm: lá và rễ cây lấu, cây bông trang, mùa cua, dây vú bò... thì đứa trẻ sổ dễ dàng như được chích một mũi thuốc kích thai. Người mẹ và đứa trẻ sơ sinh được tắm nước lá rừng gồm: mục pu, ừng gâm, mùa cua (tâng cham)... mỗi ngày 3 lần. Có nơi có tục cho sản phụ uống một ly nhỏ nước muối và ăn từng ít xôi nếp một. Khi sản phụ đẻ con so được ăn nhiều thứ, mỗi thứ một vài miếng nhỏ, nếu thức ăn nào làm đau bụng, khó chịu, tiêu chảy... thì có lá rừng trị liền (và sau đó phải cữ lâu ngày). Hằng ngày, sản phụ còn dằn bụng và uống thuốc lá rừng gồm: cút cu (vót đũa), đồng hồ, chân chim, vú bò, mè (để làm tiêu cuống nhau và sổ cửa mình), hồng quân (thơ thường quưn), từ bi (ừng gâm), sương sáo (sương plú), đoong xcâu... Hầu như người đàn ông Châu Ro nào lớn tuổi cũng biết các bài thuốc dân tộc kích sinh, lá để tắm, lá uống mau lại sức... Sản phụ thường nằm bếp than để chống lạnh. Bảy ngày sau, hồi phục sức khỏe, một số chị đã đi làm thì gia đình bỏ cành lá cấm.

Người chồng làm thịt gà, nấu xôi làm mâm cỗ mời bà mụ tới khấn vái cho đứa nhỏ mau lớn, không bị quỷ ám, không bệnh tật, đó là lễ tạ ơn bà mụ. Lễ vật ngoài rượu, thịt gà, xôi nếp, trà, trầu cau, thuốc hút còn có một chiếc cà rá, một cây đuốc dầu chai. Bà mụ đốt đuốc, quay tròn làm phép xóa bỏ ám ảnh con mắt ma quỷ dòm ngó. Cúng xong, ngả ra ăn uống. Tên đứa trẻ có thể do cha mẹ hoặc bà mụ đặt, nhưng nhất thiết không được trùng tên ông bà, chú bác... Trẻ được bảy, tám tháng thì người mẹ lấy bốn, năm hạt gạo cho vào túi nhỏ nấu nhừ với thuốc lá rừng của mẹ, cho nó uống vài lần để trẻ mau mạnh. Hằng năm, gia đình đều biếu bà mụ: gà, trà, rượu... để tạ ơn.

II.3.6. Họ tin ma lai làm người ta bệnh tật xui xẻo, nên ai có ma lai sẽ bị cách ly khỏi cộng đồng (xưa kia có thể bị giết chết). Chịu ảnh hưởng các tộc người khác, họ tin các cây cổ thụ, hòn đá lớn đều có ma quỷ trú ngụ; cũng tin con người có 3 hồn 7 vía (hoặc 9, nếu là nữ) nên lúc cúng yang va hằng năm thầy chang hoặc bà bóng sẽ lấy vía trả lại người trong nhà (sợ vía có thể đi lạc). Lu nước của gia đình phải để hướng Đông, khi ngủ thì nằm đầu hướng Tây và không úp mặt, không co chân (sợ không ăn nên làm ra). Họ cấm con nít la hét lúc bình minh hoặc chiều tà vì tin rằng lúc đó ma quỷ đi săn, chúng tưởng là khỉ sẽ bắn mũi tên bệnh tật làm trẻ đau ốm và có thể chết.

Người Châu Ro cũng như các dân tộc khác ở miền Đông Nam bộ mỗi khi đau ốm thường nghĩ do một lực siêu nhiên nào đó gây ra. Bà con thường mời bà bóng cúng chữa bệnh (ủa xà păm tăm bli). Thường ngày, bà bóng vẫn đi rẫy, làm lụng chứ không thoát ly lao động. Bà bóng là một phụ nữ đặc biệt được thần linh ốp vào, học truyền khẩu thuộc lòng các bài cầu cúng. Theo quan niệm của bà con, bà bóng có thể gặp gỡ ông bà tổ tiên của bệnh nhân, trông thấy ma quỷ gây bệnh, là người liên lạc giữa thế giới này với cõi vô hình. Khi bộ lục lạc rung lên theo nhịp điệu, tiết tấu nhất định, đầu và thân bà bóng đảo liên tục, đó là lúc bà ta giao tiếp với thần linh, ông bà tổ tiên hoặc ma quỷ, hiểu các vị đó đòi cúng thứ gì (gà? heo? trâu?). Chủ nhà hỏi, bà bóng lấy một chén nước lã, đốt một nén nhang, huơ huơ vài vòng trên chén nước, miệng lầm rầm cầu khấn, soi xem vì sao người đó bị bệnh và phải trả lễ thứ gì. Tùy theo lời phán của bà bóng, chủ nhà phải giết gà vịt, dê, heo, hoặc trâu cúng ông bà hoặc xin ma quỷ tha.

Lễ cúng chữa bệnh thường làm ban đêm. Cúng một lần chưa khỏi, gia đình người bệnh lại tới hỏi bà bóng, lại cúng nữa, lễ vật tăng lên từ gà vịt tới dê, heo hoặc trâu. Bệnh kéo dài, gia đình người bệnh càng sốt ruột, muốn người bệnh chóng khỏi, càng không quản tốn kém. Cuộc sống hàng ngày của người Châu Ro vốn đã eo hẹp, lúa gạo trồng ra có hạn, gia súc ít ỏi, thì mỗi khi gia đình có người đau ốm, kinh tế càng khó khăn. Việc cúng lễ khiến đàn gia súc nhỏ bé của mỗi gia đình khó trở thành sản phẩm hàng hóa.

Trước ngày giải phóng, nhiều tu sĩ người Mỹ đến vùng đồng bào dân tộc Châu Ro truyền đạo, một mặt dùng vật chất lôi kéo, mặt khác cho thuốc chữa bệnh gây lòng tin với bà con; một số nhà thờ Tin Lành được xây cất, phục vụ ý đồ chính trị sâu xa. Từ sau ngày giải phóng, ta mở rộng mạng lưới y tế xã, đẩy mạnh tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh nên đến nay, phần lớn đồng bào tin ở thuốc hơn tin vào bà bóng cúng cho khỏi bệnh.

II.3.7. Vấn đề ma chay của người Châu Ro khá đơn giản, có nhiều nét tương tự các dân tộc anh em khác ở miền Đông Nam bộ. Khi gia đình có người qua đời (do già hoặc bệnh tật) bà con dòng họ và làng xóm đến chia buồn ngay. Gia đình người chết cử người đi báo tin cho họ hàng ở xa về dự đông đủ, nếu không, sẽ bị trách móc nặng nề. Thường thường, người cùng dòng họ ở tụ họp gần nhau nên việc báo tang không mất thì giờ, hiếm có trường hợp thân nhân ở xa trên 100 km. Họ hàng tới mang theo rượu, gà vịt, nhang, vàng mã... góp phần cúng người chết. Việc dùng nhang và vàng mã rõ ràng chịu ảnh hưởng của người Việt, người Hoa... vì khi ăn nhang lúa, người Châu Ro thường đốt vụn trầm (nay trầm hiếm, người ta đốt nhang thay thế).

Nhà có ông bà, cha mẹ qua đời thì con trai, con gái, con rể, con dâu phải thức sáng đêm biểu thị lòng thương nhớ người đã khuất, tối kỵ nằm ngủ. Người ta làm mâm cơm cúng có đủ cơm, rượu, thịt, cá, trầu cau, thuốc hút, nhang, đèn cầy đặt ở đầu sạp tử thi nằm. Áo người chết đang mặc cắt hết nút (khuy). Người Châu Ro không chuẩn bị trước cỗ hàng (áo quan, hòm, quan tài). Một số người trong dòng họ hoặc hàng xóm vác rìu vào rừng chọn cây mổ hòm. Nhà chủ chuẩn bị một mâm cơm có đủ rượu thịt, trầu cau, thuốc hút... gánh theo làm lễ cúng xin cây. Một người lớn tuổi đặt mâm cỗ cúng, khấn vái ngắn gọn dưới gốc cây xa cao, cây tung định chặt hạ (các loại gỗ này mềm, thớ thẳng, đường kính trên 50 cm). Với cây rìu bén, tốp chặt hạ chỉ ra tay chưa đầy một giờ thì cây đổ. Họ cắt một khúc dài hơn 2 m, dùng rìu và nêm chẻ dọc thân cây thành 2 phần: phần mỏng 20 cm đẽo làm nắp trên, phần dưới dày 30 cm dùng rìu moi ruột lõm xuống để đựng tử thi. Một tốp 5 người làm xong hòm mất một buổi, xong cỗ cúng xin cây, họ khiêng hòm về nhà.

Xác chết liệm bằng tấm chăn người đó thường đắp rồi cho vào hòm. Người ta dùng dây mây cuốn một số đai quanh hòm, xoắn lại, đóng nêm cho nắp và thân hòm khít rịt, trét khe hở giữa thân và nắp bằng đất sét hoặc xôi nếp giã nhuyễn nhằm ngăn mùi hôi không bốc ra. Mặt ngoài hòm, có thể dán giấy hồng đơn. Nếu người chết thuộc loại nghèo, đơn chiếc, họ hàng làng xóm ít không làm được hòm thì người ta liệm xác vào chăn, ngoài bó chiếu, ngoài cùng nẹp bảy hoặc chín nẹp tre to cỡ bàn tay đan kết bằng dây mây (kiểu cái cáng thương tự tạo thời kháng chiến) bó tròn lại để khiêng đi chôn cho dễ. Bà con dòng họ hoặc hàng xóm giúp đỡ tang chủ một ít rượu, gạo, gà vịt, tiền tùy lòng hảo tâm.

Xưa kia, người Châu Ro để người chết trong nhà ba hôm thì đem chôn. Họ không lập nghĩa địa, nơi chôn thường do người sắp chết trăn trối, ở một góc rừng vắng nào đó. Nếu không có lời dặn dò thì một người trong tang quyến khấn vái, gieo quẻ bằng 2 đồng tiền, nếu một đồng ngửa, một đồng sấp thì sẽ chôn theo lời khấn. Việc gieo quẻ chắc cũng chịu ảnh hưởng các dân tộc anh em sống xen kẽ gần đây, và cũng chỉ ở vùng Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu) mới có việc này.

Sáu thanh niên cùng dòng họ (bây giờ là cùng xóm ấp) chia thành 3 cặp: 2 cặp khiêng 2 đòn ngắn ở đầu và cuối hòm, 1 cặp khiêng đòn dài dọc hòm, đi theo hiệu chiêng đám ma. Người thân (vợ con, họ hàng...) đi theo sau, khóc lóc kể lể tới khi hạ huyệt. Huyệt cũng không đào trước. Người nhà tang chủ gánh theo một mâm cỗ đủ rượu thịt, trà thuốc... tới nơi định đào huyệt, xin keo thần rừng (yang bri), thần đất cho gởi người chết rồi mới đào hố chôn cất, không cần chọn hướng. Người ta đóng cọc đánh dấu phía đầu và chân. Cách nay vài chục năm, người Châu Ro cũng làm nhà mồ (nhi cầm hoic) có hàng rào cây bao quanh, giống như các dân tộc Tây Nguyên - Nam Trường Sơn. Nay nhà mồ không còn nữa, ở cạnh mộ gia đình để một số chén, đũa, dĩa, chai lọ, tĩn... với ý nghĩa chia của cho người quá cố, dù sang thế giới bên kia vẫn có vật dụng hàng ngày. Lúc trước, đồ chia của để nguyên, sau này người ta đập vỡ, chọc thủng, quần áo cũ thì đốt và giải thích có đập và đốt như thế người chết mới dùng được. Thực ra, biến tấu này nhằm chống lòng tham của một số đi lượm đồ chia của về xài, cũng có thể do chịu ảnh hưởng tục đốt vàng mã của các dân tộc anh em khác.

Xưa kia, người ta giết heo hoặc trâu để cúng tại mả, đầu và 4 chân con vật chôn cùng người chết. Đưa đám xong, mọi người về nhà, ông đầu tộc rảy nước phép rửa nhà người chết cũng như rảy lên người đưa đám để ma quỷ và hồn người chết không ám, sau đó mọi người dự bữa cơm do chủ nhà đãi. Gia đình người chết đem của cải của người chết ra cho mọi người coi rồi chia số của đó cho con cháu làm vật kỷ niệm.

Qua ba ngày, gia đình ra đốt lửa sưởi ấm ngôi mộ. Người Châu Ro cũng mở cửa mả vào ngày thứ bảy. Gia đình làm mâm cơm cúng có 7 (hoặc 9) viên cơm tròn, 7 (hoặc 9) miếng trầu cau, 7 (hoặc 9 hạt) nhúm muối, tùy theo người chết là nam hay nữ - một chai rượu, một con gà, một bịch thuốc rê... mang ra mộ khấn vái xin người quá cố an nghỉ, đừng về quậy phá hoặc gây bệnh tật cho người trong nhà, phù hộ gia đình làm ăn thuận lợi bằng anh bằng em trong làng xóm. Muốn biết liệu người chết hoặc ma quỷ có quấy nhiễu gia đình hay không, một số nhà rải lớp tro ở vườn để xem dấu chân ma quỷ. Chịu ảnh hưởng của các dân tộc anh em, nhiều gia đình Châu Ro cũng rẫy cỏ, sửa sang mồ mả vào ngày 25 tháng chạp âm lịch. Họ làm mâm cơm cúng ở mộ, có thắp nhang và khấn vái; ngày tất niên (29 hoặc 30 tháng chạp) cũng cúng ông bà tổ tiên vào dịp Tết năm mới.

Ở Túc Trưng thì 3 ngày sau người ta cúng ở nhà "để cho nhà cửa được sạch sẽ, con cháu khỏe mạnh và làm ăn khá giả". Hàng năm, họ không cúng người đã khuất. Trong xóm ấp có người chết thì nhân đưa đám mà con cháu rẫy cỏ, vun đắp mộ ông bà, cha mẹ... Nay đến 25 tháng chạp âm lịch, bà con cũng sửa sang mồ mả như một số dân tộc khác. Trẻ con chết yểu thì làm tang đơn giản hơn nhiều, thường chôn cất ngay trong ngày, số người đưa đám cũng ít.

Người chết bất đắc kỳ tử (chết có máu: chich priêng, pi dâng) như: thắt cổ, tự vận, chết đuối, chết do đâm chém hoặc bom đạn, xe cán... thì người ta không mang xác về nhà. Gia đình đánh chiêng ma, nhờ bà bóng, thầy chang trục hồn người chết hỏi ma nào bắt. Người ta chôn cất gần nơi bị chết, nghi lễ đơn giản, không để thây nằm lâu ở đó. Chủ nhà thường mời thầy chang cúng trút hồn (tr'âng b'ghi) để mong trong nhà không có ai bị như thế nữa. Người chết trẻ có khi bị bấm lỗ tai, cột ngón chân để sau này có đầu thai thì gia đình nhận biết.

II.3.8. Người Châu Ro thờ đa thần - tín ngưỡng nguyên thủy - có liên quan mật thiết với nghề nông cổ truyền: yang va (thần lúa), yang bri (thần rừng), yang dal (thần suối), yang re (thần rẫy), yang mơ (thần ruộng)... và một số thần linh ma quỷ khác: yang nhi (thần nhà, thổ công), pach vri (quỷ sứ), chaq (đọc tr'á: ma lai)...

Phần đông người Châu Ro sống hoàn toàn bằng nghề nông cổ truyền nên tục cúng yang va (yang: thần, va: lúa) đến nay vẫn còn nhiều nét đặc sắc. Khoảng tháng 11 âm lịch, mùa nương rẫy kết thúc, thóc lúa thu hoạch xong được phơi kỹ, cất vào chòi hoặc bồ lúa (nhi va). Từ tháng chạp đến tháng ba âm lịch, bà con vô rẫy chặt cây, phát cỏ. Từ rằm tháng ba, họ xem trời, lựa ngày nắng khô để đốt rẫy, chuẩn bị trỉa hạt mùa tới. Đó là thời điểm cúng yang va. Cách nay dăm chục năm trước, người Châu Ro còn ở nhà dài thì lễ cúng yang va mang tính tập thể kéo dài khoảng một tuần lễ. Nay từng hộ nhỏ lần lượt cúng thì lễ hội này ở mỗi ấp có thể kéo dài cả tháng, nhưng cũng chỉ gọn trong tháng ba.

Trước ngày cúng, chủ nhà xách chai rượu ịt đi mời họ hàng, chòm xóm. (Khách đến dự đều chuẩn bị một chai rượu, có thể là rượu đế, và phong bao tiền nhiều, ít tùy hảo tâm). Bữa trước khi cúng yang va, chủ nhà làm mâm cơm cúng mời ông bà tổ tiên về ăn lễ cùng con cháu. Đêm cúng yang va, chủ nhà nhờ họ hàng, bè bạn tới làm giúp. Lễ vật cúng nhang: hai con gà luộc (ở chòi lúa), hai con gà luộc (cúng ông bà), một con gà luộc (ở rẫy tỉa lúa) với rượu ịt, trầu cau, bánh trái. Nhà làm ăn trúng mùa thì giết heo. Xưa kia, khi còn ở nhà sàn dài, bà con có tục đâm trâu tương tự các dân tộc anh em Tây Nguyên.

Bánh cúng gồm: piêng chum (bánh tét), piêng puh (bánh dày mè đen), bánh ít, bánh ú, piêng đinh (cơm lam)... Người ta lấy hai cây tre non vót bông ở đầu cây tượng trưng cho bông lúa; một cây dựng ở bàn thờ (gô yang), một cây đặt trên bồ lúa (voh piêng va) hoặc trong chòi lúa (nhi va). Bàn thờ của người Châu Ro rất đơn sơ, đặt mâm cúng gồm: thịt gà luộc, bánh rượu, trầu cau, miếng thịt heo sống. Riêng mâm hứa trả vụ tới không có thịt gà mà có 15 cọng tre mỗi cọng xâu 7 miếng tim, gan, lòng... đặt quanh miếng thịt heo sống, đầu heo sống, thịt gà sống cả con.

Trong khi người nhà và họ hàng chuẩn bị lễ vật cúng thì bà chủ nhà (mây va) đeo gùi và vác chà gạt ra rẫy. Trên đường, bà chặt lấy một ngọn mía, một thân chuối non, hai trái bầu khô (dành sẵn từ trước) cho vào gùi. Ở giữa rẫy, đã chừa lại một bụi lúa mẩy hạt. Bà chủ nhà khấn vái một lúc rồi cắt bụi lúa cho vào gùi, đi thẳng về chòi lúa. Bà đặt bụi lúa, ngọn mía, trái bầu, thân chuối vào đó, khấn khứa một hồi nữa.

Từ 7 giờ tối tới nửa đêm, thầy chang (katung đăp) hoặc bà búp (xà păm) làm lễ 3 lần:

- Lần đầu, thầy chang đọc lời thỉnh yang và ông bà tổ tiên về chứng kiến lòng thành của chủ nhà, sau đó đập đầu một con gà chứ không cắt tiết như người Việt rồi mổ thịt để cúng.

- Lần thứ nhì, bà búp khấn trả lễ mùa trước. Nếu năm vừa rồi, chủ nhà hứa cúng heo mà năm đó trúng thì nay mổ heo tạ lễ; chẳng may mùa vụ thất bát thì chỉ cúng con gà cũng được.

- Lần thứ ba, bà búp lên đồng, cùng chủ nhà khấn vái mong mùa tới yang và ông bà cho được mùa thì sẽ trả lễ to.

Lễ cúng diễn ra trong tiếng dàn cồng chiêng 6 chiếc đánh theo nhịp điệu lúc khoan thai, lúc dồn dập. Ban đêm thanh vắng, tiếng đồng la vang xa hàng km.

Bài khấn hứa của chủ nhà có tiết tấu nhịp nhàng, nội dung giống nhau nhưng lời khác nhau tùy từng địa phương. Ông Thổ Hởi ở xã Bảo Chánh (Xuân Lộc) là thầy cúng, đọc bài lai vung cầu khẩn:

"... ờ ớ bơn nơi, na cô mia rpap, na cô pap bờn yênh bươn nhai, muynh ênh pơ zlah, là pah ênh lir, là pir ênh đang, là pang ênh yêt, pây xim yô tang, bay yang yô blơ, an ênh ôp hut, ôp xa nơ gheh, đằn ôp đằn o, đằn poh đằn oh, đằn xa nơ gheh..." (lược dịch nội dung: Kính cáo ông bà tổ tiên rõ, cha mẹ mang thai, cha mẹ sinh đẻ, con sắm lễ đãi ông bà tổ tiên, con không quên ông bà, mong ông bà cho con làm ăn được mùa bằng anh bằng em, có ăn có uống...".

Ông Sáu Đồng - người Châu Ro ở Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu) đọc lời khấn khác:

... Tơ yang pan yang cô bap, yang rêh yang ru, yang vu yang tênh,yang đêh yang cô, u a ta yar; tơ yang pan yang cô bap, yang voh tơ nây, nar he ênh oh, nar he ênh vah, nar he ênh toh, vơr nhai muynh vơr ta lep, tơ ne pan yang cô bap...”

(Lược dịch nội dung: Lạy trời, lạy ông bà tổ tiên, lạy chư thần khèn, tên ná, thuốc độc, thần lúa, thần muối, lạy ma lai; hôm nay tôi khấn, tôi van vái, tôi trả hứa cũ chứ không dám nói láo, nói gạt..."

Sau lời khấn vái, thày chang vảy ít gạo lên bàn thờ. Ba lượt lễ kết thúc, chủ nhà làm tiệc đãi khách gần xa suốt ngày hôm sau. Người phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình chịu trách nhiệm cai quản chòi lúa (nhi va) gọi là mẹ lúa (mây va) uống li rượu đầu tiên vì bà tiêu biểu cho sự cai quản, chăm sóc nhà dài, nương rẫy, chịu đựng nhiều lo lắng với cộng đồng nhỏ bé. Đây là nét bảo lưu của chế độ mẫu hệ.

Mọi người ăn uống, hò hát, nhảy múa trong tiếng cồng chiêng "bồng bênh" theo tiết tấu, nhịp điệu khác nhau. Ché rượu cần (tôh xe jro) được châm nước đầy, miệng ché đặt một con cò tre làm cữ, cắm một số vòi hút. Chủ nhà mời một cò rượu thì khách phải hút lượng rượu tương đương một chén ăn cơm. Rồi người ta châm thêm nước lã cho mức rượu cần vừa chấm con cò. Một vị khách khác được mời... Quá trình trên tiếp diễn. Mới đầu rượu đậm, càng về sau rượu càng lạt dần. Xóm ấp sôi động, rộn ràng. Con trâu, con bò cũng được chủ cho ăn miếng bánh, uống li rượu như để đền ơn khó nhọc.

Ngoài tục lệ cúng nhang lúa, người Châu Ro còn cúng rẫy trước khi dọn rẫy cũ, phát rẫy mới. Lễ vật gồm: một con gà, một chai rượu, vài chiếc bánh nếp, một chén gạo, một nhúm muối, vài miếng trầu cau... Bà con cúng tại đầu bờ, thắp nhang khấn vái, rồi những người dọn rẫy ăn uống trước khi bắt tay vào công việc.

Khi lúa có đòng, người Châu Ro cúng lúa chửa (có bầu) tương tự người Chăm. Lễ vật là: gà, rượu, trái cây (nhất thiết có trái me và khế chua là những thứ phụ nữ mang bầu ưa thích), trầu cau...

Lúa bắt đầu chín, người Châu Ro tuốt lúa mới phơi khô và cho vào rang rồi giã bằng chày tay (chày cối vùng đồng bào dân tộc). Gạo mới đem nấu cơm cúng; nhất thiết không dùng gạo mua hoặc gạo ở rẫy người khác. Mâm cúng gồm: 1 muỗng gạo mới, 8 chén cơm, 8 con cá, 1 chén mật ong, 2 ly rượu. Khách dự là bạn bè thân, họ hàng, thầy chang (katungđăp) hoặc bà bóng (xàpăm). Mỗi khách dự đều mang theo chai rượu biếu chủ nhà góp vào tiệc vui.

Người Châu Ro cúng yang bri (thần rừng) vào trước mùa mưa, song không ấn định thời gian cụ thể. Già làng đứng ra tổ chức cúng yang bri, mọi người trong xóm ấp góp lễ vật: gạo, rượu, heo, gà, vịt, trầu cau, trái cây... Lễ vật bày dưới tán cây to (thường là ở gốc cây dầu, cây đa, cây bằng lăng... ); vị già làng cầu suối cho nhiều cá, rừng cho nhiều nai, mển, cây có nhiều chim, nhiều ong... Bài khấn dưới đây thu thập ở xã Châu Pha (Bà Rịa - Vũng Tàu):

Đất đai dương trạch

Hoài đai dương trạch

Cây có lá xanh

Đá Trang, sông Xoài

Hòn Đại, hòn Lang

Trương Giác, Trương Hải

Trương Thiên vạn vị

Mới tạo thiên lập địa

Con người còn tối tăm non dại

Thưa thần linh

Nhờ ơn thần linh

Con trai ra con trai

Con gái cầm chày giã gạo

Con trai đi săn bắn ná

Thưa thần linh... ([4][7])

Lời khấn này chắc chắn chịu ảnh hưởng lời khấn của thầy cúng Việt, nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc thiểu số. Cúng xong, mọi người ăn uống rồi ra về.

Văn hóa dân gian của người Châu Ro khá phong phú. Dân ca, chuyện cổ tích và huyền thoại được lưu truyền qua các thế hệ đều phản ánh: tình yêu, hiện thực sản xuất lao động, tín ngưỡng vạn vật hữu linh... Chúng ta cần kịp thời tổ chức sưu tầm, giữ gìn vốn quý này; chẳng bao lâu, nếu không thực hiện được, vốn tinh thần này sẽ vĩnh viễn mất đi.

Người Châu Ro có một số dụng cụ âm nhạc cổ truyền: chiêng đồng, mõ gỗ, trống, khèn bầu, sáo, kèn nhỏ, kèn ống lúa, đàn ống tre... Bộ chiêng đồng có 7 chiếc (3 chiếc lớn tạo hòa âm, giai điệu, 4 chiếc nhỏ giữ nhịp) dùng trong lễ cúng nhang lúa, lễ cầu an, đám cưới... Xưa kia, chiêng đồng được dùng rộng rãi trong các buổi sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, hòa giải xích mích. Tiếng chiêng trầm hùng vang xa được bà con gọi nôm na là đồng la. Ngày nay, các xóm ấp Châu Ro hầu như không còn bộ chiêng nào, ngoại trừ ở Túc Trưng và Lý Lịch (bộ chiêng Lý Lịch do Sở VHTT Đồng Nai mua và giao cho bà con giữ, sử dụng).

Xưa kia, người Châu Ro tự dệt loại vải thô, hoa văn khá đặc sắc. Đến nay, nghề dệt thổ cẩm thủ công hầu như biến mất vì vải dệt máy nhiều, rẻ, bán khắp nơi.

Từ sau ngày thống nhất đất nước tới nay, đã 20 năm trôi qua. Cuộc sống của đồng bào Châu Ro có những biến đổi đáng kể. Với chương trình định canh định cư của Nhà nước, tình trạng du canh, du cư giảm rất nhiều. Rút kinh nghiệm xây dựng khu định canh định cư Tà Lài, cán bộ ta đã trưng cầu ý kiến đồng bào Châu Ro ở Lý Lịch (xã Phú Lý) làm nhà theo lối cổ truyền được bà con hoan nghênh. Mô hình khu định canh định cư Lý Lịch có những thành công nhất định và cần được triển khai ở những nơi có điều kiện.

Sống xen kẽ với các dân tộc anh em, đồng bào Châu Ro tiếp thu được kinh nghiệm làm lúa nước (ở những vùng có ruộng) đạt năng suất cao hơn trồng lúa trên rẫy. Một số bà con ở Bảo Vinh, Xuân Thọ... đã đầu tư trồng cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm có giá trị hàng hóa cao.

Trẻ em Châu Ro phần lớn đều đến trường tiểu học. Ở tỉnh, trong năm học 1995 - 1996 Trường phổ thông Dân tộc nội trú Đồng Nai có 232 học sinh Châu Ro học từ cấp 2 đến cấp 3. Một số sinh viên Châu Ro được tỉnh cấp học bổng để có thể theo học đến khi tốt nghiệp. Số đã tốt nghiệp đại học rất ít, đều được bố trí công tác.

Mạng lưới y tế xã góp phần đẩy lui bệnh tật của bà con và ngày nay khi bị bệnh rất ít người cúng bái mà đưa người bệnh tới trạm xá và mua thuốc uống. Phụ nữ sinh đẻ cũng ra trạm xá để bảo đảm mẹ tròn con vuông.

Hàng trăm công nhân các Nông trường cao su Cẩm Mỹ, Hàng Gòn có thu nhập ổn định và cao hơn hẳn mức sống của nông dân. Bình quân lương hàng tháng năm 1995 khoảng 700 ngàn đồng chưa kể tiền thưởng vượt năng suất. Nông trường Cẩm Mỹ đã xây cất cho mỗi gia đình công nhân Châu Ro một căn hộ, công đoàn cơ sở liên tục vận động, giáo dục bà con nếp sống mới sạch sẽ, gọn gàng. Các cặp vợ chồng trẻ được hướng dẫn chu đáo để thực hiện KHHGĐ, tạo hạnh phúc đôi lứa...

Nhưng nhìn chung, do chưa dứt bỏ thói quen du canh, du cư, chưa được hướng dẫn tốt cách làm kinh tế gia đình nên phần đông còn gặp khó khăn trong đời sống. Ở Phước Bình (Long Thành), số hộ nghèo đói khoảng 80%. Đồng chí Điểu Bảo - chủ tịch UBND xã Túc Trưng, đại biểu Quốc hội - cho biết: số gia đình bà con Châu Ro thiếu đói cũng không dưới 80%. Nhiều hộ sang đất ở gần nhà đi làm rẫy ở rất xa nhưng vẫn chưa khá. Bà con không muốn vay vốn "xóa đói giảm nghèo" vì lo vay rồi không có tiền trả...

Dân tộc Châu Ro ở Đồng Nai có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Điểu Xiển là đảng viên cộng sản người Châu Ro từ đầu những năm 1940, sau đó trở thành một trong những đại biểu Quốc hội VNDCCH khóa 1 (đã hy sinh ngay đầu năm 1946). Điểu Cải là Anh hùng - liệt sĩ LLVTND được tuyên dương năm 1978. Hai xã Túc Trưng (huyện Định Quán) và Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) có đông đồng bào dân tộc Châu Ro sinh sống, đóng góp rất lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc suốt 2 thời kỳ kháng chiến được tuyên dương Đơn vị anh hùng LLVTND. Các ông Sang Văn Mão và Điểu Bảo đã và đang là đại biểu Quốc hội, đại diện cho các dân tộc ít người ở Đồng Nai.

Để giúp đồng bào Châu Ro giữ được bản sắc độc đáo của dân tộc mình, điều cấp thiết là tìm mọi cách giúp bà con vượt qua đói nghèo triền miên, đồng thời, từng bước giúp nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng mà đối tượng chính là đông đảo thanh thiếu niên Châu Ro.



([1][4]) Hai loại cây này rụng hết lá vào mùa khô

([2][5]) Người Châu Ro ở Vĩnh Thanh, huyện Châu Đức, Bà Rịa   -   Vũng Tàu gọi như vậy.

([3][6]) Con rể, con dâu gọi cha mẹ vợ, cha mẹ chồng.

([4][7]) Các dân tộc thiểu số ở Đồng Nai-   tài liệu đánh máy lưu trữ ở UBMTTQ Việt Nam tỉnh Đồng Nai.

Comments