3.2. Phương thức sản xuất

III.2.1. Tương tự các dân tộc thiểu số Đông Nam bộ, phương thức canh tác cổ truyền của người Mạ là làm nương rẫy du canh, "ăn rừng", " ăn nước trời" đậm nét nguyên thủy.

Người Mạ gọi rẫymì rì, mir; rẫy mớimì rì pơ, mđrih; rẫy cũmì rì tệ, mpuh. Khoảng tháng giêng âm lịch, những người cùng làng (bòn) kéo nhau đi tìm đất, có vị già làng giàu kinh nghiệm sản xuất dẫn đầu. Họ "ăn rừng" ở nơi địa hình tương đối bằng phẳng, sườn đồi dốc thoải, đất xám màu xẫm nhiều mùn, chất đất dẻo... Thường thường bà con chọn rừng thứ sinh (xar) đất tốt, ẩm dễ khai phá hơn các khu rừng nguyên sinh (rlau) hoặc rừng thưa (lac). Rừng thiêng (krông) khu rừng già cây cao bóng cả, um tùm rậm rạp - là nơi ngự trị của các thần linh được coi là rừng cấm.

Đi tìm đất rẫy, người Mạ cũng kiêng cữ như người Châu Ro; nếu gặp con cù lần (đù gle), rắn sọc đen, sọc vằn, chồn, trăn... thì không làm. Chọn được vùng đất ưng ý, mỗi gia đình được chia một khoảnh, định mốc bằng các hòn đá lớn, gốc cây to... Họ cũng có thể tự do đi tìm rừng để khai phá trồng tỉa theo ý riêng. Các gia đình cùng bòn (làng) làm rẫy sát nhau, ranh giới giữa vùng rừng kế cận và khu rẫy của bòn là các mốc thiên nhiên, được các bòn khác tôn trọng. Dân bòn tôn trọng quyền chiếm hữu đất đai của mỗi gia đình, chưa từng có tranh chấp bất động sản vì đất rất rộng mà người lại thưa. Xưa kia mỗi bòn Mạ có một chủ rừng (tôm bri) do dân cử, dân nơi khác muốn đến săn bắn, đánh cá hoặc làm rẫy trong phạm vi đất đai của bòn đều phải được tôm bri cho phép.

Lựa và phân xong rẫy, người ta dùng chà gạt (yơh: đọc yở) phát cỏ và bụi cây nhỏ, dùng rìu (xuung) đốn cây lớn và vừa. Khoảng tháng hai, tháng ba âm lịch khi cây và cỏ đã khô, họ lựa ngày ít gió để đốt rẫy. Mùa rẫy thực sự bắt đầu từ tháng tư âm lịch khi trời lác đác mưa. Bà con cúng rẫy ngay nơi trồng tỉa với niềm ước mong các thần linh (yang) và ông bà tổ tiên cho được mùa, ma quỉ không quậy phá cây trồng, vật nuôi. Rẫy mới (mì rì pơ, mđrih) năm đầu trồng lúa cạn, năm sau trồng lúa xen các hoa màu: bắp (tơ ngòi), dưa leo (play pung), bí (play bào), khoai mì (mpuh blang), khoai lang, bông (đỉ)... theo hàng rạch cách nhau chừng 40 cm để dễ dàng thu hoạch các sản phẩm vào các thời điểm khác nhau (bắp và đậu hái trước, rồi đến dưa, bí, kế đến lúa và cuối cùng là khoai mì).

Người Mạ trồng các loài lúa: xương gà (kòi brao), bạc đầu bông (kòi lel), gạo đỏ (kòi tràng), ba túc, tiu, nàng rá... nhưng loại lúa chính là lúa mẹ (kòi mẹ) có diện tích lớn nhất. Bà con cũng trồng lúa nếp (kòi mbar) ở ven đồi, song lúa tẻ chiếm tỉ trọng tuyệt đối. Họ chỉ trồng bằng lúa giống do gia đình thu hoạch vì tin rằng như vậy ông bà mới cho được mùa. Thực ra niềm tin này phản ánh tính tự cung tự cấp cao độ của một nền nông nghiệp còn mang tính nguyên thủy.

Mỗi nương rẫy trồng quảng canh như vậy hai, ba năm thì bạc màu, họ bỏ hóa bảy, tám năm cho lớp phủ thực vật phát triển trở lại rồi quay về khai phá thực hiện chu kỳ trồng tỉa mới.

Từ khoảng năm 1957, đồng bào Mạ ở ấp Hiếu Nghĩa (thị trấn Định Quán) khai phá cánh đồng ven ấp được hơn 50 ha ruộng, học cách trồng lúa của người Việt sống gần đó. Cánh đồng Định Quán hồi đó đầy lau, sậy, điên điển... khá hoang vu. Thoạt đầu chưa biết cày bừa, để làm đất, họ đóng cọc ở đầu bờ, buộc trâu bằng sợi thừng dài rồi lùa xuống ruộng cho chúng quần nổi sình (bùn). Họ vơ cỏ cho sạch rồi cấy. Sau đó họ học cách dùng cày, bừa (nhảr) bằng trâu song chưa bón phân (trâu, bắc) vì sợ bẩn. Ở nơi không có trâu, bà con dùng cuốc lật đất rồi nhặt sạch cỏ. Kế đến, họ dùng miếng ván lớn, nặng, buộc dây ở hai đầu ván cho hai người kéo; một cây gậy tra vào giữa miếng ván như tay lái để người đi sau điều khiển. Cách trang mặt ruộng này khá nặng nhọc, tốn lao động. Khi lớp bùn phẳng ở mặt ruộng hơi se se, họ dùng gậy chọc lỗ tra lúa giống, tương tự trồng lúa rẫy.

Để bảo vệ lúa khỏi bị chim và thú rừng phá, người ta làm chòi, ở đó luôn tới khi thu hoạch mới quay về bòn.

Vào thập niên 80, Nhà nước có chủ trương lớn định canh định cư, giúp bà con Mạ ở Tà Lài (huyện Tân Phú) mở mang thêm một số ruộng lúa nước (song song với việc làm nhà cấp cho họ). Nhưng cho đến nay kí ức về cuộc sống du canh chưa phai mờ trong tâm trí bà con, họ vẫn thích làm nương rẫy xa nhà.

III.2.2. Ngoài việc trồng tỉa là chính, mỗi gia đình Mạ thường chăn nuôi một số gà vịt, một vài con heo giống địa phương thả rông - quen gọi heo Mọi (không có ý miệt thị). Gia đình khá giả thì nuôi trâu, xưa kia có nhà nuôi tới vài chục con thả ven rừng nên tính hoang dã cao, hung hãn. Người ta không làm chuồng mà chỉ cột vào cọc, trâu ở ngoài trời dù nắng hay mưa. Chăn nuôi chưa trở thành ngành kinh tế nông nghiệp làm ra sản phẩm hàng hóa, người Mạ chỉ dùng vật nuôi vào việc cưới hỏi, ma chay hoặc cúng nông nghiệp, ít khi mang bán.

III.2.3. Những lúc nông nhàn rảnh rỗi, người Mạ cũng săn bắt thú rừng bằng tên ná, mò ốc, tát cá (hoặc giã lá độc thả xuống khúc suối làm cá trúng độc nổi lên mà vớt)... Lúc đi rừng, họ hái lượm măng tre, tìm mật ong và sáp, khai thác dầu chai (để trét ghe xuồng) .

III.2.4. Gia đình nào cũng tự đan chiếu, các loài gùi (tùy cỡ nhỏ, to mà có tên nơl, xờ, xa vài, xa bràng...) để dùng trong nhà. Xưa kia người Mạ nổi tiếng về nghề dệt, họ trồng bông, kéo sợi và dùng loại khung dệt rất thô sơ để dệt một thứ vải thô (thổ cẩm) làm chăn đắp, áo, váy, khố... với các hoa văn trang trí đẹp mắt. Cộng đồng các dân tộc Đông Nam bộ khâm phục sự khéo léo, tinh tế của sản phẩm dệt Mạ. Bây giờ nghề dệt cổ truyền của người Mạ bị vải dệt công nghiệp rẻ, đẹp, bền, hợp thời trang lấn lướt.

Nghề rèn sắt đã mất, các dụng cụ sản xuất như: dao rựa (bra), cuốc, cày, bừa (nhảr), liềm (mớ), rìu (xuung)... đều mua ở chợ do thợ rèn Việt làm ra.

Nền kinh tế tự cấp tự túc của người Mạ đang biến đổi dần trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với các dân tộc anh em. Chưa thấy người Mạ nào biết buôn bán đúng nghĩa tuy đây đó có vài tiệm quán đơn sơ. Cho đến nay họ vẫn "ăn rừng", "ăn nước trời" là chính nên cuộc sống vẫn đói nghèo triền miên. (Trong khi đó ở Lâm Đồng, một số gia đình Mạ biết trồng cà phê, điều... khiến cuộc sống khá giả hẳn lên, trong nhà có một số tiện nghi và cất nhà đúc đàng hoàng).

Comments