3.3. Cấu trúc gia đình, xã hội và phong tục tập quán

III.3.1. Xưa kia, mỗi làng Mạ gọi là bòn thường có vài nóc nhà sàn gọi là hìu đoòng, mỗi nóc nhà có thể dài dăm chục mét hoặc hơn. Sàn cách mặt đất từ 1 mét đến 1,5 mét, khung nhà bằng cây căm xe (xir pẻ), gõ (xir tê), bằng lăng (xir pè), người ta cữ không làm bằng cây dầu. Các mối buộc bằng dây mây, không đục mộng tra ngoàm nên bộ khung nhà không vững chãi lâu dài. Khung nhà bằng gỗ cây để nguyên không bào (đôi khi đẽo sơ sơ), mái lợp tranh hay lá, sàn bằng tre nứa, vách thưng chung quanh cũng bằng tre nứa. Nhà thường không cao, mỗi nhà sàn (hìu đoòng) chung sống hàng chục gia đình cùng huyết thống.

Trong nhà không có giường, bàn ghế... người ta nằm ngủ, ngồi chơi, tiếp khách... trên chiếu trải ở sàn nhà, cạnh bếp lửa gia đình. Mỗi nhà sàn dài có một hay vài chòi lúa chung do một phụ nữ lớn tuổi quản lí, phân phối cho các gia đình nhỏ. Chòi này thường có kích thước 2 m x 1,5 m sàn chòi lúa cách mặt đất hơn 1mét; chòi lúa cất tách rời nhà dài (bà con tin rằng nếu cất lúa trong nhà ở thì bị xui, ông bà quở trách gây đau ốm, bệnh tật...).

Lối sống tập thể cổ truyền đã thay đổi sau năm 1954 khi người Mạ bị dồn vào các ấp chiến lược. Nhà sàn dài biến mất, mỗi gia đình nhỏ sống riêng biệt trong căn nhà trệt lợp tranh hoặc tôn viện trợ Mĩ. Nhà nền đất khiến một số gia đình mua sắm bàn ghế, giường... các gia đình nghèo thì làm sạp tre dài (thay cho giường). Có nhà còn làm kho lúa nhỏ cạnh nhà, song số gia đình thu hoạch ít thóc thì đóng bao, cất ngay trong nhà mình.

Xưa kia, việc tìm đất dựng nhà, cúng kiếng trước và sau khi làm nhà xong cũng tương tự như các dân tộc Châu Ro, Stiêng... anh em sống gần đó.

III.3.2. Cũng như các dân tộc ít người ở Nam Trường Sơn - Tây Nguyên khác, ông tộc trưởng (người đứng đầu nhà dài: chau đoòng) có nhiệm vụ cúng kiếng, tham gia hòa giải mâu thuẫn nội bộ, tham gia xử phạt các thành viên mắc lỗi... Các chau đoòng họp thành hội đồng già làng gồm thêm một số bô lão giàu kinh nghiệm sản xuất, săn bắn, giỏi chỉ huy chiến đấu, thạo giao dịch đối ngoại. Nhưng từ thời thuộc Pháp cơ cấu này không còn, thay vào đó là các chức sắc của hệ thống chính quyền do Nhà nước thực dân đặt ra. Xã hội người Mạ ở Đồng Nai chưa phân hóa giai cấp rõ rệt. Một số ít hộ có mức sống khá, có tài sản đáng giá như trâu, ché, chiêng... còn phần đông thì đời sống vẫn nghèo đói, thiếu thốn, một số phải đi làm mướn kiếm ăn hàng ngày.

III.3.3. Bản tính người Mạ thuần phác, hiền hòa, ít tranh chấp gây lộn. Họ không đi buôn, không cần làm giàu, có gạo có tiền thì ăn và uống rượu, hết thì đi làm nữa, thiếu tính toán phòng xa nên khi gia đình gặp tai biến hoặc bệnh tật thì phải đi vay nặng lãi, bán trâu, sang ruộng rẫy...

III.3.4. Cách đây vài chục năm, khi còn nhà sàn dài, người mẹ, người vợ quyết định mọi việc trong nhà. Con gái được quí trọng hơn con trai, nam thanh niên lấy vợ thì ở nhà vợ và vai trò người cậu (anh mẹ) rất quan trọng trong việc giải quyết các chuyện gia đình (thí dụ: cưới hỏi, ma chay...). Ngày nay gia đình nhỏ thay thế gia đình lớn, chế độ theo dòng cha từng bước thắng thế, người đàn ông có bổn phận làm nuôi gia đình nên quyền hành cũng lớn, con trai trưởng được coi trọng. Khi đôi lứa thanh niên lấy nhau, người con gái về nhà chồng làm ăn sinh sống (theo thỏa thuận giữa đôi bên cha mẹ).

Trong quan hệ thân tộc, người Mạ có sự phân biệt khá rõ:

Cụ: kra

Anh chồng: vi pa klau

Ông: pàng kau

Anh vợ: vi pa ul

Cha: vàp

Chị: vi ul

Mẹ: mê

Chị chồng; vợ: vi pa ul.

Bác, chú, dượng: wa

Em: oh

Cụ ông: ôông kra

Em trai: oh klau

Cụ bà: mộ kra

Em gái: oh ul

Bà: pàng ul

Con: con

Cha chồng: vàp pa klau

Con trai: con klau

Cha vợ: vàp pa ul

Con rể: con ban

Mẹ chồng: mê pa klau

Con gái: con ul

Mẹ vợ: mê pa ul

Con dâu: con klai

Bác gái: wa ul

Cháu nội: xau (ông, bà gọi)

Cậu: cô inh (ở Tà Lài gọi là: o)

Cháu nội trai: xau klau

Mợ (vợ cậu): hìn

Cháu nội gái: xau ul

Cô, dì, thím mợ: mỉ, mí, bí (từng vùng)

Cháu (của bác, chú...): kmon

Chồng: bao klau

Cháu họ trai: kmon klau

Vợ: bao ul

Cháu họ gái: kmon ul

Anh: vi klau

 

III.3.5 Trai gái Mạ lớn lên được tự do tìm hiểu, yêu đương qua các lần gặp gỡ, tiếp xúc hoặc qua lao động. Tùy theo từng nơi, xã hội người Mạ không ngăn cấm con cô con cậu tiến tới hôn nhân, song con chú con bác thì không được phép. Người Mạ có những câu ca ngăn cấm tội loạn luân.

Vi phạm luật tục (nđrih, đrin) của cộng đồng, đôi trai gái bị phạt vạ nặng, thậm chí có thể bị đuổi khỏi cộng đồng làng xóm.

Người Mạ không có quan niệm về trinh tiết, thiếu nữ Mạ có thể ngủ với người yêu nhưng không được có bầu (tương tự người Châu Ro). Cô gái nào ít giao du với đàn ông vẫn được dư luận xã hội đánh giá cao hơn. Nếu cô nào ăn ngủ với chàng trai (chưa vợ) cũng không bị phê phán gì, song không được có vài người tình cùng một lúc. Ít có cô gái Mạ mắc lỗi chửa hoang vì khi trai gái ưng nhau thì họ lấy nhau. Nếu hai chàng trai cùng say mê một cô gái, họ thách đấu nhau bằng chà gạt, ai thắng sẽ trở thành chồng.

III.3.6. Khi đôi trai gái ưng nhau, chàng trai thưa chuyện với cha mẹ mình, được chấp thuận thì nhà trai đi làm đám nói (đám hỏi). Ông mai là bậc bề trên thuộc họ gần (bác, chú, anh); nếu là bà con xa thì không được. Xưa kia chàng trai mặc chiếc khố có tua đỏ, tay đeo nhiều vòng đồng, mái tóc cài lược sừng trâu, búi tóc cắm hai lông chim trắng dài. Đến trước cửa nhà gái, đoàn nhà trai dừng lại. Chàng trai cắm ngọn lao xuống đất, vai vẫn vác chà gạt, dao gài thắt lưng. Đã được thông báo trước, cha cô gái (hoặc người cậu ruột) và một số họ hàng ra đón. Anh trình bày mục đích cuộc viếng thăm (tuy cô gái đã cho cha mẹ biết).

Khi được nhà gái đồng ý, chàng thanh niên rút ngọn lao, cầm lấy bước vào nhà, đến trước bàn thờ các yang và ông bà tổ tiên khấn vái rồi gác ngọn lao lên xà nhà, để đó bảy ngày đêm. Hai họ chuyện trò, bàn bạc vui vẻ bằng dân ca theo lối nói vòng vo dài dòng trong khi cùng nhau hút thuốc, ăn trầu, uống rượu... Thỏa thuận xong xuôi, đàng trai ra về. Chàng thanh niên ở lại nhà gái, tham gia làm lụng mọi việc trong nhà. Tuy đã làm đám nói song đôi trai gái không được chung sống trong nhà cô gái. Muốn tâm sự, họ làm túp lều nhỏ xa bòn (làng) trong một góc rừng kín đáo vắng vẻ và chung sống với nhau. Cô gái trang sức đẹp: đeo nhiều chuỗi vòng, chuỗi hạt cườm hoặc vỏ ốc đẹp, búi tóc gài lược sừng có cắm con dao nhỏ cán sừng, thắt lưng bằng tấm vải hẹp có hoa văn nhiều màu rực rỡ, váy dệt có hoa văn đẹp, có chùm bông đỏ bằng vải để trang trí...

Trong đám nói, nhà trai đưa cho bên gái: 1 cái ché, 1 con gà đã làm thịt, một số món trang sức: vòng, lược, chuỗi cườm đeo cổ và vài thứ cô gái yêu cầu từ trước. Nhận sính lễ rồi mà cô gái muốn thoái hôn thì phải đền nhà trai: 1 con heo, 15 cái ché. Anh con trai muốn từ hôn do không ưng cô gái nữa thì phải đền 1 con heo, 1 cái ché. Việc từ hôn, thoái hôn hiếm xảy ra vì họ muốn đôi trai gái cưới nhau.

Người Mạ có ngạn ngữ:

Lưỡi mác phải có cán

Muốn ngủ phải có mền

Muốn cưới xin phải có cỗ bàn và trao vòng tay...

Ngày cưới, nhà trai mang sang nhà gái: tiền, gạo, rượu cần, ché rượu cần (xáng đốốc), bộ chiêng (chinh), trâu, heo... như trước đây hai bên đã thỏa thuận. Đám cưới làm bên nhà gái. Ông thầy cúng được mời tới làm lễ cúng ông bà tổ tiên, cầu cho đôi vợ chồng trẻ chung sống tới già. Người ta mổ trâu, heo làm tiệc đãi khách gần xa. Đám cưới ăn uống, ca hát suốt ngày đêm trong nhịp chiêng vang dội. Trong buổi lễ, đôi vợ chồng trao vòng cho nhau và cùng ăn gan heo... Gia đình khá giả thì đám cưới kéo dài vài ngày, nhưng thường chỉ một ngày đêm. Chàng rể ở luôn nhà gái.

III.3.7. Nếu cô gái có bầu trước khi cưới, anh con trai muốn lấy, thì tổ chức lễ cưới bình thường. Biết rõ tác giả của cái thai (không phải là chàng rể) thì người đàn ông nọ phải nộp cho bòn: 1 con heo, 1 con dê để bòn cúng yang. Nếu đứa bé ra đời trước khi cưới thì người này phải nộp 1 con trâu.

Trong xã hội Mạ, khi chế độ theo dòng mẹ suy giảm dần, và nhất là dưới chế độ thực dân, đàn ông có thể lấy vài ba vợ. Thực ra thì chỉ các gia đình giàu có hoặc các chức sắc trong bòn, trong tổng mới cưới vợ nhỏ bằng 1 con trâu.

Ở nhà vợ vài năm, người đàn ông muốn gia đình nhỏ của mình ra ở riêng hoặc đưa vợ về gia đình cha mẹ mình thì phải nộp đủ lễ vật cho nhà vợ, nếu chưa đủ thì phải tiếp tục làm để thanh toán số nợ còn thiếu.

Xã hội Mạ đang chuyển mạnh sang chế độ theo dòng cha, người phụ nữ về nhà chồng thì quyền hành giảm nhiều. Người chồng chết thì gia tài do anh em ruột hoặc con trai trưởng quản lý có tham khảo ý kiến của mẹ và vợ người đó. Lúc đó người vợ có thể về nhà cha mẹ đẻ và phải nộp lại một phần của hồi môn trước đây (theo thỏa thuận). Vợ chồng li dị thì con trai đầu ở với cha.

III.3.8.

Ăn ớt, rát họng

Ăn sả, rát yết hầu

Ngủ với vợ người khác, có chuyện!

Xã hội Mạ hiếm có chuyện ngoại tình. Theo luật tục (nđrih, đrin) truyền miệng, có những cách xét xử khác nhau:

- Nếu chồng bắt quả tang vợ ngoại tình, có quyền giết chết người đàn ông kia mà không mắc tội.

- Nếu vợ bắt quả tang chồng ngoại tình thì anh ta phải nộp cho bên vợ một số lễ vật phạt vạ.

- Nếu chồng nghi ngờ vợ ngoại tình, có thể thách đấu lao với người tình của vợ.

- Người đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình phải nộp phạt cho chồng mình và vợ người kia một số phạt vạ.

- Đàn bà ngoại tình với trai chưa vợ thì cả hai liên đới nộp cho người chồng: 1 con trâu, 1 bộ chiêng; nộp phạt vạ cho bòn: 1 con trâu hay 1 con dê, cúng con đường ra rẫy 1 con vịt, con đường xuống suối lấy nước 1 con vịt, căn nhà xảy ra chuyện ngoại tình 1 con heo hay 1 con dê, con đường đến nơi thờ thần linh 1 con dê (phạt vạ rất nặng!).

Người phụ nữ không sửa lỗi này sẽ bị đuổi khỏi bòn, ra đi hai bàn tay trắng theo luật tục Mạ. Khi bòn xảy ra một vụ ngoại tình thì trong tuần bảy ngày có hai lần cả bòn ngưng mọi hoạt động, cắm cành lá cấm người lạ vào.

III.3.9 Khi một phụ nữ Mạ sắp sinh, gia đình dọn dẹp một góc nhà cho nằm. Một người đi rước bà mụ đến đỡ đẻ. Nay chị em Mạ ra trạm xá hoặc nhà hộ sinh để bảo đảm cho sản phụ và hài nhi được an toàn hơn.

Nếu sinh khó, gia đình cúng kiếng cầu cho mẹ tròn con vuông. Đứa trẻ ra đời khoảng một tuần thì mẹ bồng ra suối tắm cho bé với ước mong bé luôn luôn mạnh khỏe, ít bệnh tật (nhưng thực tế dễ làm trẻ sơ sinh nhiễm bệnh).

Hồi xưa, sản phụ được uống một bài thuốc khiến sức khỏe hồi phục nhanh. Các cụ già Mạ cho biết bài thuốc đó đã thất truyền. Sản phụ hầu như không kiêng cữ gì trong ăn uống như các dân tộc khác. Chừng ngoài mười ngày, người mẹ đã địu con lên rẫy; chắc chắn khó mà chịu đựng nắng lửa mưa dầu, khiến tỉ lệ trẻ em Mạ tử vong cao là điều dễ hiểu.

Người Mạ rất quí con gái - nét tàn dư chế độ theo dòng mẹ - nhiều bậc cha mẹ thường sống với cô gái út. Khi bé gái ra đời, gia đình ăn mừng: giết heo, gà, uống rượu cần... Đồng la vang xóm làng như muốn cả bòn, cả đất trời chung vui với bé.

Hài nhi ra đời, gia đình làm một số lễ cúng:

- Lễ tạ ơn bà mụ đỡ đẻ và đặt tên cho bé được tổ chức sau một tuần.

- Lễ cầu mong tổ tiên và các yang luôn giúp bé khỏe mạnh được tổ chức sau nửa tháng và một tháng (nhà nghèo chỉ làm một lần).

Lễ vật đơn giản: một con gà, một chai rượu, trầu cau...

III.3.10. Xưa kia việc tang ma của người Mạ do từng gia đình lo liệu với sự giúp đỡ của cả bòn. Trong nhà có người qua đời thì thân nhân chia nhau đi làm một số công việc: báo cho các chức sắc trong bòn, trong xã ; báo tin cho họ hàng và người quen ở các bòn lân cận ; một số đàn ông vào rừng tìm cây để mổ hòm, khi chọn được cây, phải cúng xin cây mới được chặt hạ... Hòm đưa về nhà qua cửa lớn (cửa chính của nhà dài). Ba ngày sau, người quá cố được rửa ráy sạch sẽ rồi tẩm liệm đơn giản. Xưa kia người chết được quàn hàng tháng nên đáy hòm có đục một số lỗ, phía dưới có vò nhỏ hứng nước từ tử thi chảy ra (hàng ngày đem ra nghĩa địa đổ). Sau tang lễ rút xuống một tuần, nay chỉ hai, ba ngày để bà con, họ hàng đến viếng tang (có ăn uống, rượu chè). Tang ma kéo dài gây khó khăn cho các gia đình nghèo. Ngày nay đám tang chỉ làm hai, ba ngày, cả ấp xúm lại giúp đỡ nên tổn phí giảm nhiều.

Hòm được khiêng ra đến nghĩa địa (một khu rừng âm u vắng vẻ xa bòn) người ta dừng lại. Thày chang làm lễ cúng xin thần đất rồi đào huyệt. Chôn cất xong, thày chang lại cúng nữa, mọi người mới ra về. Người chết được chia của theo phong tục; tang gia đem một số vật dụng: chén, dĩa, li, chai thủy tinh...(xưa kia có cả chiêng, ché, rìu, ná...) đặt lên mộ, tất cả đều đập vỡ. Người Mạ cho rằng: con người không phải con chó, sống chết phải bằng nhau (cho nên người chết được chia của). Các tài sản không bỏ ở mả thì chia cho các thân nhân (con cái, anh chị em ruột).

Những người đưa đám phải tẩy uế, không được vào nhà ngay. Người ở nhà đun sẵn nồi nước lớn, cắt tiết gà vào đó. Từng người đưa đám được thân chủ lấy lá ngải nhúng vào nồi nước tiết gà vẩy vào, và cầu khẩn âm hồn không làm hại người nhà, người quen.

Bòn có đám ma, người ta kiêng cữ không đi rẫy một tuần bảy ngày. Ngôi nhà có người chết bị bỏ, họ hàng cất ngôi nhà mới ở địa điểm gần nhà cũ.

Nếu ai chết bất đắc kì tử: tai nạn, bom đạn, thú dữ, rắn độc... thì người nhà khâm liệm rồi chôn gần đó chứ không khiêng xác về gia đình làm ma chay.

III.3.11. Trái với vẻ ngoài thầm lặng, người Mạ có đời sống tâm linh phong phú. Họ tin vạn vật hữu thần (Yàng): núi, rừng, tảng đá lớn, cây cối, sông suối... mỗi vật thể này đều do một Yàng cai quản. Yàng có thể ban ơn, mang lại các điều tốt lành, song cũng có thể giáng tai họa, do đó cần cúng lễ hàng năm.

Nđuh là vị thần tạo hóa cao nhất, sinh ra muôn loài, muôn vật; nhưng vì cao nhất nên người Mạ có thái độ kính nhi viễn chi. Kri krông ngự trị ở vùng đất của bòn (tương tự thổ thần của người Việt và Hoa). Yàng bri cai quản rừng rú (như thần sơn lâm của ta). Yàng kòi (thần lúa) là vị thần rất quan trọng và gần gũi mọi nhà. Người Mạ còn cúng thần núi, thần suối, thần lửa... và nhiều Yàng khác.

Là cư dân nông nghiệp cổ truyền, mỗi năm họ có nhiều lễ cúng. Người Mạ ở ấp Hiệp Nghĩa (thị trấn Định Quán) coi ngọn núi Đang Kar gần đó là nơi linh thiêng có chư thần cư ngụ nên xưa kia thường cúng Yàng bơ nơm vào cuối năm âm lịch. Hồi đó núi có nhiều cây cao bóng cả và tre nứa um tùm. Cả cộng đồng cư dân Mạ trong ấp góp lễ vật, cử một già làng đọc lời khấn cầu phúc cho bòn. Người ta làm lễ cúng thần rừng (yu xin bri) vào dịp Tết âm lịch tại nhà tôm bri - vị già làng đại diện bảo vệ chủ quyền, đất đai nương rẫy và khu vực rừng thuộc phạm vi bòn - Tôm bri cùng đàn ông trai tráng vào rừng thưa, chọn nơi làm rẫy mới (mì rì pơ). Họ cúng thần rừng bằng gà, rượu, xôi, trầu thuốc...rồi mới chặt hạ cây to, cây nhỏ, phát cỏ và lùm bụi, dây leo. Hai, ba tháng sau cây cỏ đã khô, họ cúng thần lửa (lở Yàng ux) để thực vật cháy hết biến thành phân tro, đất thêm màu mỡ vụ tới. Bắt đầu mưa vài trận, bà con làm lễ cúng hồn lúa (lở Yàng túyt kòi) tại rẫy trước khi chọc lỗ tỉa hạt... Lúa vào đòng, bà con lễ tạ ơn lúa mẹ (yú tam nơn). Chủ nhà sửa soạn mâm đồ cúng gồm: con gà luộc, rượu, chén cơm trầu cau, nhúm muối... và khấn:

Lở Yàng kòi, chèng ier đù nâm, lở Yàng kòi chắt tòm gòm ha tủ plây lay mùn banh chât xô banh rô kòi banh glỏ banh xap anh đăn mà nu Yàng còn toong ti mà chao toong ti mà gâp banh anh glơ rạp bxạp rịp banh chà nế bich cú là rụ iar, nụ xìn anh gu...

"Hỡi thần lúa (tôi) đem con gà cúng xin thần lúa (cho) tốt gốc, tốt lá, cho có dòng không bị khô, đừng có họ xít, đừng làm (tôi) đừng cho (tôi) ăn lạt. Xin thần lúa cho con cái (tôi) đừng (phải) chìa tay ăn xin người ta, cho vợ (tôi) đừng đói ăn cực khổ, đừng nghèo không có quần áo".

Một lời khấn tương tự được ghi bằng chữ Mạ la tinh hóa:

Lơh Yàng kòi cèng iăr do nơm, lơh Yàng kòi nbẵn chơt nbẵn ro trù kòi, nbẵn jê gloh tài, ằn dăn Yàng kòi tong ntê mơ cau mơ tong ntê mơ gâp bòn he dê, dăn Yàng sền gar ẵn...

"Tôi cúng thần lúa có đem theo gà một con, cúng thần lúa kể từ nay không còn chết rụi nữa, xin đừng cho đói, xin thần lúa đưa tay che chở cho người khốn khổ, nâng đỡ người cùng buôn làng, xin thần lúa về giúp cho... Lúa chắc hạt, bà con lễ cúng yú rmul tin chắc được ăn".

Lễ hội nông nghiệp lớn nhất là hội mùa (nor he) cúng thần lúa (lở Yàng kòi) (tương tự lễ ăn nhang yang va của người Châu Ro). Lễ cúng thần lúa (lở Yàng kòi) diễn ra trong bòn từ tháng hai âm lịch đến tháng ba xưa kia theo từng nhà dài, sau này theo từng gia đình nhỏ.

Người ta lấy hai cây tre non cao từ 2 đến 3 mét chẻ nhỏ ngọn làm 6 bông xòe ra, chính giữa cây tre cắm chùm gai mây tượng trưng cho bông lúa. Hai cây tre này chôn trước nhà, ở mỗi bông xòe ra gài một chén cơm nhỏ. Trên cây tre, các nhánh có trang trí những hình vuông lớn với hoa văn hình học. Người Mạ ở Tà Lài thì trang trí cây tre bằng hình tượng con dê cách điệu hóa (bằng lạt tre) hoặc các hình vuông tròn...rất sinh động. Các ché rượu cần được bày ở gốc cây tre. Vào buổi tối, tùy khả năng mà gia chủ giết gà vịt, heo hoặc trâu để làm lễ cúng. Gia chủ tự cúng, không mời thầy chang hoặc bà bóng như người Châu Ro.

Lời khấn vái có nhịp điệu, tiết tấu nhưng nội dung thật cụ thể và không có tính van lơn như lời khấn vái của người Việt trong các lễ cúng lớn nhỏ.

Ông K' Linh ở Tà Lài đọc bài khấn như sau:

Ớ Yàng kòi anh lở kòi cành ghẻ âm nghèo khổ đa xang ghit anh ùi tơ ở ghể ao xo ở ghể piêng xa ở ghể..Ớ Yàng kòi xìn anh âm rba rbập o vì mè vạp ở ghể con đòi ớ Yàng xin anh đơ tàm yu tàm mà tùng mà quăng cành chnâm xin anh vì o vì vi xo vi vụ anh gầm cho nhó xo xú anh cho gầm tôồng quăng đa xang ghịt anh ớ Yàng đòong in.

Ớ Yàng kòi năm đô đoong kol anh le ghe kòi anh xa xunr xa ier xa đạ xa vê anh xa mừng dự xnăm. Năm pơ mong Yàng kòi đoong kol anh lở kòi cành ghẻ tay vì năm ieo. Ớ Yàng kòi banh lơ glỏ lơ xạp cành ghẻ kòi tiếp tục anh in. Ớ Yàng kòi xa puêch xunr puêch đạ puêch vê xa anh in.

"Hỡi thần lúa, tôi làm lúa mong thoát khỏi nghèo khổ tội nghiệp, tôi chăn không có, áo không có, không có cơm ăn. Xin thần lúa xem tôi sống nghèo khổ mồ côi, cha mẹ anh em không có. Tôi xin thần coi tôi ăn nói, người ta tin nghe, coi tôi như anh như em, thấy đầu (mặt) tôi họ cười vui vẻ, thấy mình tôi họ mừng, các quan quyền thương hại tội nghiệp tôi, tôi cầu xin ông bà phù hộ tôi.

Xin thần lúa năm nay giúp đỡ tôi có lúa ăn thì tôi mừng ăn gà ăn vịt, ăn heo, ăn dê cả năm. Mong năm mới thần lúa giúp tôi có nữa như năm rồi. Xin thần lúa đừng làm tôi đói (xin thần) tiếp tục cho tôi lúa. Xin thần lúa ăn giùm thịt heo, gà vịt, dê cho tôi".

Một lời khấn tương tự được ghi lại bằng chữ Mạ latinh hóa (hay Kơho):

Ơ Yàng kòi ẵn lơh kòi kỡn geh ơm sơ nê rơ bah, nđặc sơn git ẵn, phăn sù phăn soh phăn sa ò geh mơ cau, ơ Yàng dăn Yàng dong ẵn ơm niăm mơ tùng mơ kwăng kỡn nđặc sơn git ẵn.

Ơ Yàng kòi sơnăm do dăn dong ẵn geh kòi sa mơ cau, tua năm ẵn sa mơ Yàng sa sur sa iăr, sa da, sa be, hở là sa chò hóp năm pa, năm pa ẵn lơh kòi kỡn geh, ơ Yàng kòi mhẵn ai ẵn in sơ nê rơ bah tài, đi lah geh sa ẵn lơh Yàng ai sua, ai da, ai be nàng sa mơ Yàng kòi...

"Hỡi thần lúa cho gia đình tôi làm lúa được mùa đời sống gia đình tôi bớt khó khăn cực khổ, trước đây cơm ăn áo mặc không đủ như người ta xin thần lúa xót thương tôi, xin thần lúa giúp tôi sống biết tôn trọng quan quyền thì quan quyền sẽ thương lại tôi.

Hỡi thần lúa, xin ban cho tôi làm đủ ăn như mọi người, nếu thường đủ ăn thì gia đình tôi sẽ ăn mừng heo, gà, vịt, dê... cho một năm bội thu, xin thần lúa giúp gia đình tôi đừng khổ cực, nếu hàng năm trúng mùa gia đình tôi sẽ luôn luôn mang các con vật trên cúng thần lúa".

Ông K' Rau thuộc nhóm Mạ Xrê (đọc chệch thành Xaray) có lời khấn:

Ngay đao anh yôr hay anh ghẻ đù it xưnr anh yah Yàng kòi xa goh bèng la yê xá ló năm anh lỏ tay ghẻ beng glỏ loh mì rì ghẻ piêng xa anh xưnr Yàng kòi xa viêp xưnr yô đar nâm xa piêng bar anh ay Yàng kòi ừn xa ti năm pơ anh lỏ tay xăm ghẻ tàm tú lù nam tàm pay đó ai kòi ưn xa đap đê hay k'puôn ay năm iar băt đầu tuych tiên hay kpoh anh yòi đù it đạ yay Yàng kòi ưn xa tí hay kmât anh hào kòi ghẻ kòi rhiêng anh ai đu it xưnr yah Yàng kòi ay Yàng kòi ưn xa anh lỏ tay xam ghẻ nơng ghẻ piêng xa.

"Năm nay (tôi) uống mừng lúa (tôi) cúng heo cho thần lúa (mong bồ đựng lúa ăn đừng hết, tới năm sau làm nữa (thì ) có nữa (mong thần lúa) đừng làm (tôi) đói, (tôi làm rẫy) có cơm ăn (tôi) mời thần lúa ăn con heo, uống rượu, ăn cơm nếp, tôi mừng thần lúa tôi ăn tới mùa mới, sang năm tôi làm lại có ba lần cho thần lúa ăn, trước tháng tư cúng con gà, bắt đầu tháng bảy cúng thần con vịt, tháng mười tôi cắt lúa trên một trăm giạ tôi cúng thần lúa con heo; năm nay thần lúa cho (tôi) ăn, tôi làm nữa (để) lại có cơm ăn".

Ngày hôm sau, gia chủ đãi tiệc bà con và người quen. Nhà giàu đãi khách hai, ba ngày liền. Nhà nghèo thì gọn một ngày. Số ché (xáng đôôc) rượu cần (rnòm) ít nhất cũng vài ché trở lên, rượu cần được làm từ hàng tháng trước. Hết rượu cần (rnòm), người ta uống thêm rượu đế (lăc). Trong lúc nhậu, người ta đánh cồng chiêng, hát dân ca (yalyau). Bòn vang tiếng chiêng hàng tháng ròng. Phần lớn công sức lao động cả năm tiêu phí vào dịp này.

Xưa kia người Mạ cũng có lễ đâm trâu như các tộc người Tây Nguyên vào mùa cúng thần lúa. Cứ ba năm bòn lại làm lễ hiến sinh, có khi vài bòn gần nhau góp làm chung. Nay lễ đâm trâu đã mất.

Khoảng ba năm dân trong bòn lại cùng nhau làm lễ cúng thần rừng (lở Yàng bri). Mỗi nhà góp gạo, rượu, gà vịt... đem ra miễu lá đựng trên đường đi rừng làm lễ cúng, mong Yàng bri cho bà con măng, dầu chai, mật ong... Tôm bri hoặc một già làng có uy tín khấn vái. Cúng xong, người ta xúm nhau nấu nướng rồi cả bòn cùng ăn uống vui vẻ trong tiếng cồng chiêng.

Đi săn được thú rừng, người ta cũng cúng Yàng bri. Săn được voi, cọp thì cúng heo, săn được hươu, nai, min... cúng gà. Lỡ săn trượt người ta luộc trứng gà cầu cho lần sau bắn trúng. Lời cúng Yàng bri mộc mạc:

Anh nay đao anh ghẻ đù it rà rủa anh yah Yàng bri anh ay đù it xưnr anh ay Yàng bri ưn xa anh tày ghẻ beng glỏ mẻ anh yòi tay xam gơ inh ghẻ beng glỏ mẻ...

"Tôi nay đi săn (nếu) tôi giết con voi tôi kiếm con heo cho thần rừng ăn, tôi kiếm con nữa để thần rừng đừng làm (tôi) xui, nếu thần rừng cho sớm, tôi kiếm (heo) sớm cho quí vị ăn, không làm tôi bị xui..."

Trước kia người Mạ tin rằng ma quỉ (chà) gây ra bệnh tật, đòi cúng quải. Bà bóng, thầy cúng (chau cha năng) đến nhà bệnh nhân lên đồng, chữa bệnh. Không dùng thuốc, chỉ cúng kiếng rất tốn kém, kết cục hao tốn heo gà mà không khỏi bệnh, thậm chí có khi tử vong, khiến tử suất ở người Mạ rất cao. Hai bệnh phổ biến: sốt rét và lao từng hoành hành ở xứ Mạ, ngoài ra còn một tỉ lệ người cùi nào đó. Đến nay, bà con đã thôi cúng chữa bệnh, biết đi trạm xá, bệnh viện khám mỗi khi đau ốm.

III.3.12. Người Mạ có một số kiêng cữ:

 - Không đi gần các tảng đá lớn, sợ ma quỉ (chà) ám gây xui xẻo.

 - Nhà có người bệnh (hoặc mới sinh đẻ) thường cắm cành lá tươi, cấm không cho người lạ vào sợ họ mang theo bóng vía ma quỉ.

 - Ra khỏi nhà mà chợt ớn lạnh hoặc sổ mũi, người ta quay về liền, sợ nếu tiếp tục đi sẽ gặp điều không lành (thực ra có dấu hiệu chớm ốm đau thì quay về chữa là rất hợp khoa học!).

 - Kì đà, rắn mai gầm... vào nhà thì xui xẻo, không làm ăn được.

 - Kiêng ăn thịt cọp vì cọp ăn người.

 - Cữ thịt chó, chó chết trong nhà phải mang chôn và cúng gà vịt vì nó ăn cơm gạo như người (bà con quí chó vì nó biết đi săn, quấn quít gắn bó với con người). Chó chết ở rẫy, phải đền cho chủ rẫy; không dùng lúa ở rẫy đó làm giống mà phải dùng giống mới.

 - Không ăn đọt mây vì sợ cọp ăn trâu nhà mình...

Ngày nay đại bộ phận người Mạ ở Đồng Nai theo đạo Tin lành và Công giáo. Tục lệ cổ truyền đã phôi pha nhiều.

Nền văn hóa dân gian Mạ đang mất mát khá nhiều vì lớp người già chết mà lớp trẻ không kế thừa được. Các chuyện cổ, huyền thoại Mạ dần dần bị quên lãng. Một số người già Mạ còn nhớ dân ca huyền thoại truyền thống yalyau, hát đối đáp giao duyên trữ tình (tam pơt) và chỉ còn một vài già làng ở lứa tuổi bảy, tám mươi còn nhớ luật tục truyền khẩu (nđrih, đrin). Các nhạc cụ: chiêng, đàn đinh đút không còn được chơi phổ biến. Vào dịp lễ hội nông nghiệp (lở Yàng kòi), người ta chơi chiêng và múa bắt chước nhịp điệu nào đó mà vẫn gọi là múa Mạ theo yêu cầu của du lịch hoặc để quay phim, chụp ảnh tư liệu.

Số học sinh Mạ học cấp 3 còn quá ít và chưa có ai tốt nghiệp đại học.

Là một trong các cư dân bản địa ở Đồng Nai, tuy chỉ có số lượng ít song đồng bào Mạ có một số đóng góp vào quá trình lịch sử phát triển của vùng đất này. Ngày nay, bà con đang cố gắng cùng với các dân tộc anh em xây dựng cuộc sống mới văn minh hạnh phúc.

Comments