4.2. Phương thức sản xuất

IV.2.1. Trồng trọt:

Xưa kia, tương tự các tộc ít người khác ở miền Đông Nam bộ, người Stiêng làm nương rẫy du canh. Họ ăn nước trời, ăn rừng, đến mùa làm nương rẫy, bà con dựng chòi tại đây để đỡ mất công đi lại, tiện chăm sóc lúa và hoa màu, xa nhà suốt vụ trồng tỉa.

Rẫy gọi là miar, mir; rẫy mới là miar mây, rẫy cũ là miar puh. Đi chọn đất làm rẫy là ông tộc trưởng tom yau (đứng đầu căn nhà dài gồm nhiều gia đình nhỏ) và một số người lớn tuổi. Họ chọn bãi đất tương đối rộng, bằng phẳng, chất đất có màu đen (nhiều mùn hữu cơ), có lồ ô mọc thì đó là đất tốt. Nếu đang phát hoặc đã phát xong rẫy mà có con cù lần hoặc con trăn tới thì người ta bỏ ngay vì sợ xui: mùa thất, bệnh tật ốm đau...

Tháng giêng, tháng hai âm lịch bà con bắt tay chặt hạ cây cối, phát sạch lùm bụi và cỏ. Lúc đó bà con cúng làm đất rẫy với lời cầu khấn mộc mạc:

"Yang bri yang te nar ơi hây uynh mi lơ miar lơ klanh xac ê lơ par tanh ê lơ tach yâng tach tây ghe lơ miar lơ bar ôi muôi coi an kmay đac xe pai iar an kmay xa..."

"Hỡi thần rừng, thần đất, hôm nay tôi xin đất làm rẫy được tốt, xin các vị đừng làm (tôi) bệnh, làm đứt chân đứt tay; (tôi) làm rẫy làm lúa mai mốt cho ông bà có rượu, thịt gà ăn...”

Khoảng một, hai tháng sau cây cối bị chặt hạ khô đi. Khoảng từ giữa tháng ba âm lịch, nhà nhà đốt rẫy. Khói bốc nghi ngút từng đám, thành cột lên bầu trời quang quẻ cuối mùa khô.

Tháng tư âm lịch, khi trời bắt đầu mưa lác đác một số trận, nhắm có thể trồng tỉa được, bà con cúng rẫy trước khi trồng tỉa. Lễ vật là gà, rượu, trầu cau, bánh nếp... Chủ nhà khấn khứa ngắn:

"Yang boh yang bar nar ơu hay kzưr til xăm huon măt tac ria ê an rô rưt tx'ưt um xăm huon râng ban khay ban xnăm..."

"Thưa các thần muối thần lúa, hôm nay tôi xuống giống (xin chư thần) cho mọc rễ, đừng làm khô, chết thối, lên nhanh để kịp tháng kịp năm..."

Sau lễ cúng, bà con bắt đầu tỉa hạt. Một người đàn ông hai tay cầm hai gậy vót nhọn (hoặc bịt sắt ở đầu nhọn) vừa đi vừa chọc lỗ theo khoảng cách 0,5 mét; theo sau có hai phụ nữ lưng đeo gùi hạt giống, vừa bỏ hạt vừa lấy chân gạt đất phủ kín hạt (để chim khỏi ăn). Các động tác này lặp đi lặp lại. Bà con vần đổi công tỉa hạt và làm rẫy có tính tương trợ nguyên thủy: những người cùng dòng họ làm giúp nhau thì không đòi hỏi có rượu trong bữa ăn. Khi cả sóc (bòn) cùng làm cho một hộ trong một ngày thì chủ nhà đãi cơm, rượu số người tham gia. Các hộ khá giả mời đông người làm vào lúc thời vụ gấp gáp liền vài ba ngày thì ngày nào cũng đãi cơm, rượu.

Nương rẫy của người Stiêng ngoài lúa là cây lương thực chính, thường trồng xen: bắp, bầu bí, mướp, dưa leo, dưa gang, mè, thuốc lá, bông... Những cây này thường trồng sát gò mối là nơi đất tốt hơn, cho thu hoạch khá.

Ở một số vạt đất ven suối, họ cũng làm ruộng lúa nước (xrê, xarai) với lối canh tác thô sơ: dùng cuốc lật đất và băm nhỏ đất, chưa dùng phân bón ruộng.

Từ thập niên 80, thực hiện chủ trương định canh định cư, Nhà nước đầu tư dựng nhà cửa ở Tà Lài (Tân Phú), khai phá ruộng cho bà con Stiêng làm, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt tỉ mỉ. Đến nay, đồng bào đã biết làm ruộng, thu nhập có khá hơn.

Nhưng từ trong tiềm thức, người Stiêng chưa thoát khỏi phương thức sản xuất nông nghiệp cổ truyền ăn rừng, ăn nước trời, tự cấp tự túc. Để tiến tới sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chúng ta còn phải kiên trì vận động bà con thực hiện các biện pháp kỹ thuật trồng trọt mới mong từng bước cải thiện đời sống đồng bào.

Người Stiêng trước kia thường trồng: lúa rẫy sớm (pa con tr'ây), lúa trễ (pa xđôc), pa xà ông... là các loại lúa tẻ; lúa nếp có: nếp than (pa p'nhênh xơ uych, pa p'nhênh)...

Công cụ lao động và dụng cụ gia đình thường dùng là:

 - Rìu (xung) để chặt hạ cây lớn; chà gạt (via) phát bụi cây hoặc cỏ cao; rựa (queo) cùng công dụng như chà gạt.

 - Cuốc nhỏ (côr) và cuốc lớn (cuôc) để xới và lật đất; cày (ngal khmu) và bừa (rue); cào cỏ (krngoai) làm cỏ lúa; liềm (kniêu) cắt lúa; chày (rnay) và cối (pal) dùng giã gạo, gùi (rnaanh) để mang lúa, bắp, hoa màu, củi...

IV.2.2. Chăn nuôi, săn bắn, đánh cá:

Mỗi gia đình Stiêng thường chăn nuôi một ít gà vịt, heo; gia đình khá giả thì nuôi trâu. Chăn nuôi là sản xuất phụ, chưa có đầu tư gì về khoa học kỹ thuật, trước đây chủ yếu dùng vào các lễ cúng khi vào mùa trồng tỉa, cúng chữa bệnh, đám cưới, đám ma, mừng được mùa... chứ chưa có sản phẩm hàng hóa. Đến nay, tình hình đã biến đổi, ở ấp 4 xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) có gia đình nhờ chăn nuôi heo đã có thể xây nhà gạch chắc chắn.

Ngoài thời giờ làm nương rẫy, đàn ông Stiêng còn tranh thủ săn bắn thú rừng: voọc, cheo, mển, nai, heo rừng... xưa kia còn săn bắn các thú lớn: voi, cọp, gấu... Công cụ săn bắn là ná và tên độc. Cánh ná lớn dài bằng chiều cao thân người, khoảng 1,6 mét. Tên độc dài nửa mét, vót bằng lồ ô phơi khô, đầu nhọn hơ lửa cho cứng, đuôi tên gắn mảnh lá buông nhỏ tam giác, thân tên có cạnh để phăng gió. Nay mũi tên gắn đầu đạn chì nhỏ làm tăng sức mạnh cắm vào con mồi. Người ta lấy rễ cây dơ ué hoặc mủ cây xeo ngâm với dây leo xa cách dơ, dây la roi la poong bảy ngày đêm, sau đó nấu cô đặc rồi đổ vào ống tre. Mũi tên nhúng vào hợp chất này trước khi đi săn. Nếu người bị trúng tên độc thì có hai cách giải độc: ăn bí đao hoặc uống nước cua giã sống. Cần giải độc càng sớm càng tốt vì để lâu chất độc ngấm vào máu thì khó chữa.

Vào mùa khô, bà con thường bắt cá dưới suối bằng cách lấy rễ cây tầm đàng hoặc trái buông giã nát rồi thả xuống khúc suối. Cá trúng độc nổi lên, người ta lấy rổ vớt. Cách đánh cá bằng cây độc làm chết cá nhỏ trước tiên, do đó nguồn lợi này nhanh cạn kiệt.

IV.2.3. Nghề thủ công:

Gia đình nào cũng tự đan các loại gùi lớn, nhỏ khác nhau dùng vào việc vận chuyển: lúa, hoa màu, rau, củi... Nghề dệt vải, chăn... xưa kia tương đối phổ biến ở phụ nữ Stiêng, song hầu như biến mất từ lâu. Người Stiêng cũng có tiếng về nghề rèn, nay nghề này đã mai một.

Comments